Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 253 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

 

 
 
Chương 4
 
UỶ BAN ĐÓN TIẾP
 
Chiếc Super Constellotion với trọng tải sáu mươi tám tấn vút qua bầu trời của Cuba. Bên cười màu xanh của những cánh rừng lẫn vào vùng đồi núi nâu xen kẽ nhau như bàn cờ. Chỉ còn hơn trăm dặm nữa là đến Jamaica. Kìa bên dưới ấy, hòn đảo nhô lên như con rùa khổng lồ màu xanh ẩn hiện trong đường chân trời. Từ màu xanh thẫm ở vùng biển sâu của Cuba, nước biển nhạt dần về phía ven biển Jamaica. Rồi chiếc Constellation bắt đầu tiếp cận bờ Bắc. Đây đó rãi rác những khách sạn năm sao, rặng núi vươn cao, những ngôi nhà nhỏ nằm cheo leo bên sườn đồi, cánh rừng già um tùm. Ánh trời chiều lấp lánh trên mặt nước những con sông uốn khúc. Vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ quá. Xaymaca, những thổ dân Arawark gọi nó như thế: Hòn đảo của những ngọn đồi và dòng sông.
 
Lòng James rạo rực. Bóng tối nhuốm màu tím thẫm che phủ một bên sườn núi. Ngay dưới chân đồi, trên những con đường của cảng Kingston, ánh đèn đã lấp lánh. Xa hơn một chút, phần đất nhô ra của hải cảng và sân bay vẫn chìm trong ánh nắng. Ngọn hải đăng của cảng Royal mờ nhạt, khép nép. Rồi chiếc Constellation chúi mũi xuống, lượn một vòng lớn ra khỏi cảng. Bánh xe trượt kêu kèn kẹt. Hệ thống thắng hơi rít lên xì xì. Lượn đảo chầm chậm, chiếc máy bay trở mình vào đảo. Xuyên qua của sổ, nắng chiều làm cabin rực sáng. Từng chút từng chút một, hạ thấp xuống dãy núi Blue rổi nó lướt trên đường băng. Hệ thống dây điện thoại mắc loạn xà ngầu rên đường làm đám phi công rối cả mắt. Chẳng bao lâu, nó cũng đáp xuống an toàn trên khoảng sân bay thấp lè tè.
 
Chà, khí hậu nóng ẩm của miền nhiệt đới lướt qua mặt khi James rời máy bay đi về phía phòng Hải quan và Di trú. Mồ hôi bắt đầu tuôn thành giọt trên trán. Cài áo dường như dính vào da thịt. Chừng bước ra khỏi hai cái phòng quỷ quái kia, chắc người mình ướt nhẹp. Đành chịu chứ sao. So với rét buồt, bão tố ở London, Jamaica còn dễ chịu hơn nhiều.
 
Chìa cuốn hộ chiếu có ghi nghề nghiệp: Doanh nhân cho tên nhân viên da đen của Phòng Di trú, mặt James cứ tỉnh bơ.
 
- Thưa ngài, công ty nào?
 
- Công ty xuất nhập khẩu Universal.
 
- Ngài đi làm ăn hay nghỉ mát?
 
- Nghỉ mát.
 
- Chúc ngài một kỳ nghỉ vui vẻ.
 
Gã nhân viên Sở Di trú trao hộ chiếu lại cho anh chàng vẻ lãnh đạm.
 
- Cám ơn ông.
 
James đi về phía phòng Hải quan. Ngay lập tức, anh chàng nhận ra một gã cao to, nước da nâu bóng đứng sát hàng rào. Vẫn cái áo sơ mi xanh bạc màu cùng chiếc quần kaki năm năm trước James từng gặp.
 
- QUARREL.
 
Gã người miền đảo Cayman cười toe toét. Giơ cao cánh tay phải ngang tầm mắt, hắn chào theo cách của người da đỏ:
 
- Thưa Đại tá, ngài có khoẻ không?
 
- Rất khoẻ. Chờ tôi lấy túi xách. Anh có xe?
 
- Vâng, thưa ngài.
 
Đám nhân viên ở đây ai mà không biết Quarrel. Thấy hắn đang đứng đợi James, tên nhân viên Hải quan chẳng thèm mở túi xách ra xem. Gã quẹt đại vài chử lên hành lý của anh chàng.
 
Nhặt lấy nó, James bước ra khỏi rào. Quarrel nhanh nhẩu đở lấy rồi chìa tay phải ra chào. Bắt lấy bàn tay đầy vết chai, ấm áp, anh chàng nhìn vào đôi mắt màu xanh đen của gã mang dòng máu của những chiến binh Cromwell:
 
- Quarrel, anh vẫn vậy. Không có gì thay đổi. Công việc câu rùa như thế nào rồi?
 
- Cũng tàm tạm thưa ngài.
 
Ngó vào mặt James, hắn nhận xét:
 
- Hình như ngài không được khoẻ?
 
James ngạc nhiên:
 
- Đúng thế. Chừng vài tuần sau, tôi sẽ khỏi thôi. Làm sao anh biết?
 
Vẻ mặt Quarrel sượng sùng. Chắc hẳn nghỉ mấy lời vừa rồi làm anh chàng không được vui:
 
- Xin lỗi ngài. Trên mặt ngài xuất hiện mấy vết nhăn.
 
- Ồ, có gì đâu. Anh phải chỉ tôi tập luyện trở lại. Rồi anh xem, tôi dư sức bắt cả bầy cá mập.
 
- Vâng, thưa đại tá.
 
Khi hai người đi về phía lối ra, bất chợt có tiếng kêu sắc gọn của cái máy ảnh vang lên. Trước mặt James là một cô ả người Hoa kháu khỉnh trong bộ quần áo theo kiểu Jamaica, tay hạ thấp chiếc máy chụp hình Speed Graphic.
 
Vừa bước tới, ả nở nụ cười xã giao.
 
- Ồ, cám ơn các ngài. Tôi là phóng viên của tờ Daily Gleaner.
 
Dò bảng danh sách trong tay, ả làm bộ tỉnh bơ:
 
- Ông James Bond phải không? Ông lưu lại đây có lâu không?
 
James sửng sốt. Chả biết con ả này tình cờ hay cố ý? Cả đám hành khách ả không hỏi ai sao nhằm mình mà bắt chuyện? Phải lưu ý chuyện này.
 
Không khách sáo, anh chàng đáp lại thẳng thừng:
 
- Quá cảnh. Còn nhiều anh chàng hấp dẫn đẹp trai trong đám khách đằng sau. Cô tha hồ tới đấy làm quen.
 
- Ồ, không. Tôi cố ý đến đây để gặp ông. Ông rất nổi tiếng kia mà. Ông ở khách sạn nào?
 
Chà con ả chết tiệt. Nhìn bộ dạng là biết ngay. Kháu thì có kháu thật nhưng trông mặt gian quá. Chận đường làm quen là có dụng ý.
 
Giọng anh chàng sắc gọn: Myrtle Bank.
 
Chẳng biết tự trọng là gì, ả người Hoa còn gọi với theo:
 
- Cám ơn ông. Tôi mong ông sẽ …
 
Khi hai người đi đến bãi đậu xe, anh ta hỏi Quarrel:
 
- Trước giờ có gặp ả ở sân bay chưa?
 
- Hình như chưa, thưa Đại tá. Nhưng bọn Gleaner có nhiều cộng tác viên lắm.
 
James thầm nghĩ: Sao thấy nghi quá? Chả có lý do gì bọn nhà báo muốn săn hình anh chàng. Chuyến phiêu lưu cuối cùng tại hòn đảo này cũng trôi vào dĩ vãng. 5 năm rồi còn gì. Ngay lúc ấy, cái tên James Bond cũng không được tiết lộ? Sao một con ả ranh con thế này biết được? Ả có phải là phóng viên? Hay chỉ là thủ hạ của một tổ chức nào còn giấu mặt? Dứt khoát phải cảnh giác. Vụ án của Strangsway và Trueblood là một thí dụ điển hình.
 
Ngay phía trước, một chiếc Sunbeam Alpine màu đen chờ sẵn. Thoáng nhìn vào bảng số, James biết ngay là chiếc xe của Strangsway. Lại một chuyện bất ngờ kế tiếp. Anh chàng liền hỏi ngay Quarrel:
 
- Sao anh có được chiếc này?
 
- A.D.C bảo tôi cứ lấy xe đi đón ngài, thưa Đại tá. Đây là chiếc xe duy nhất còn thừa. Có gì không ổn sao, thưa ngài?
 
- Ồ không. Chỉ hỏi thế thôi. Chiếc xe còn khá tốt đấy. Thôi nào chúng ta đi.
 
Mở cửa sau, anh chàng bước vào. Đầu óc James cứ suy nghĩ nhưng không lần ra manh mối. Vâng, kinh nghiệm và trực giác cho biết: Không có chuyện gì tự nhiên. Có một tên giấu mặt. Tay chân nó đang theo dõi anh chàng. Nó quan tâm đến nhiệm vụ của 007 tại Jamaica.
 
Rồi chiếc xe lướt nhanh trên con đường hai bên đầy những bụi xương rồng. Phía xa xa, ánh đèn cảng Kingston sáng rực. Cảnh vật giờ đây với anh chàng trở nên vô nghĩa. Ánh sao trời, chùm đèn sáng lấp lánh nơi bến cảng, tiếng rì rào của lũ dế trong bụi rậm, làn gió mát dịu mang hương nồng của đất chẳng khiến lòng James dịu lại.
 
Anh chàng thầm trách mình thật đoảng. Môt sai lầm ngay từ lúc khởi đầu. Số là trước khi đến đây, anh chàng gởi một báo cáo đến Chính phủ thông qua Bộ Thuộc địa yêu cầu A.D.C thuê Quarrel ở đảo Cayman một khoảng thời gian với giá 10 bảng một tuần. Một gã thật thà, hết lòng trung thành làm sao anh chàng quên được. Cách đây 5 năm trong chuyến phiêu lưu tìm kho tàng của Morgan, Quarrel quả là người bạn đường lý tưởng. Hắn nắm rõ đường đi nước bước ở Jamaica như lòng bàn tay. Mà cư dân ở đây đều yêu mến hắn. Dứt khoát hắn ta đóng một vai trò quan trọng trong vụ án của Strangsway lần này.
 
Chưa hết. Anh chàng yêu cầu A.D.C thuê một chiếc xe và dặn Quarrel ra đón anh chàng ở sân bay chở đến khách sạn Blue Hill. Ôi bao nhiêu dự tính trước kia giờ biến thành công cốc. Một sai lầm thực sự nghiêm trọng đến lúc này James mới nhận ra.
 
Lẽ ra anh chàng nên đón tắc xi về Blue Hill trước rồi mới liên lạc với Quarrel sau. Còn thêm chiếc xe của Strangsway nửa. Tên giấu mặt kia nhìn sơ là biết ngay. Ngồi trên chiếc Sunbeam xuất hiện giữa chốn đông người, ai chẳng đoán được James là người của Cục Phản gián chứ.
 
Bằng mọi giá phải thay đổi chiếc xe. Còn nửa, vừa bước xuống sân bay gặp ngay con ả phóng viên của tờ Gleaner. Rồi hình ảnh của 007 xuất hiện trên trang bìa. Thế còn gì là điệp vụ?
 
Ông M và phía Chính phủ cứ khăng khăng vụ Strangsway là một tai tiếng tình ái lăng nhăng. James lại suy nghĩ khác hẳn. Anh chàng đánh mùi được một âm mưu đen tối còn khuất trong vòng bí mật. Nó là ai? Giờ vẫn chưa có một manh mối. Nhưng dứt khoát nó lẩn khuất đâu đây. Không chừng nó đang bám theo chiếc Sunbeam.
 
Chợt nhớ ra điều gì, anh chàng quay lại nhìn. Khoảng trăm thước đằng sau, lờ mờ hai đốm sáng đèn hiệu của một chiếc xe. Quái, toàn bộ những chiếc xe khác đều bật đèn pha. Chỉ mình nó là không.
 
- Này Quarrel, cuối đường Palisadoes có một ngã ba. Quẹo trái đi Kingston. Quẹo phải đi Morant. Anh chạy đến đấy rẽ phải nhanh rồi dừng lại, tắt đèn. Còn bây giờ vọt hết ga.
 
- Vâng, thưa Đại tá!
 
Giọng của Quarrel xem chừng vui thích lắm. Gạt cần số, hắn đạp mạnh xuống chân ga.
 
Chiếc Sunbeam phóng như bay trên con đường thẳng tắp. Giờ chiếc xe đến đoạn cong ngay góc của bến cảng và đất liền. Chỉ còn năm trăm thước nửa tới ngã ba. James quay ra phía sau lưng. Không có dấu hiệu của chiếc xe phía sau.
 
Và đây, bảng hướng dẫn đường hiện ra. Quarrel quẹo thật gắt về phía phải, tấp vào lề rồi tắt hết đèn. Anh chàng ngồi yên chờ đợi.
 
Ngay lập tức tiếng gầm rú của chiếc xe đáng ngờ vang lên. Đèn pha bật sáng. Đúng rồi, nó đang tìm chiếc Sunbeam. Một lát sau, nó quẹo trái về phía Kingston. Một chiếc tắc xi kiểu Mỹ, trên xe chỉ có tài xế.
 
Mười phút sau, cả hai người ngồi yên.Chả ai nói với ai câu nào. Bụi đường dường như lắng đọng lại. James bảo với Quarrel quay xe lại theo hướng đi Kingston.
 
- Tôi nghi nó theo dõi chúng ta. Chỉ có thằng khùng mới lái một chiếc tắc xi từ sân bay về Kingston, đúng không nào? Anh hãy coi chừng nó dọc đường. Biết bị lừa, thế nào nó cũng dừng lại chờ.
 
- Vâng, thưa ngài - Giọng hắn hí hửng.
 
Một con người năng động cỡ Quarrel khoái ba cái vụ này lắm. Nhận được điện tín của anh chàng, hắn mừng ra mặt. Với 007 có nghĩa là hành động, là điệp vụ vào sinh ra tử. Tuy hồi hộp nhưng vô cùng hào hứng. Sao chẳng mê cho được.
 
Rồi chiếc Sunbeam xuôi theo dòng xe cộ đổ về phía Kingston. Nào xe buýt, xe ca, xe ngựa, đàn lừa chở hàng,xe ba bánh. Trong cái đám bát nháo này, làm sao đoán họ có bị theo dõi hay không?
 
Một lát sau, quẹo phải, Quarrel cho xe hướng theo phía dãy đồi. Cả đống xe đằng sau. Chả biết phải nghi ngờ chiếc nào? Kệ xác nó.
 
Mười lăm phút nũa, chiếc Sunbeam tới Halfway Tree rồi dọc theo Junction, con đường chính xuyên qua đảo. Vài phút sau, bảng đèn hiệu với dòng chử: Khách Sạn Blue Hill hiện ra trong đám lá xanh của hàng cọ.
 
Nhiều bụi hoa giấy được cắt tỉa kỹ lưỡng xếp hàng hàng lớp lớp xuôi theo lối vào Blue Hill.
 
Còn chiếc tắc xi đen kiểu Mỹ giờ ở đâu?
 
Khoảng trăm thước trên đường phía trước, tên tài xế ra hiệu cho mấy chiếc xe phía sau rồi tấp vào lề trái. Đánh một vòng chử U, gã xuống dốc, rẽ về phía Kingston.
 
Với dáng dấp một khách sạn kiểu củ, thoáng mát, Blue Hills được bài trí theo phong cách hiện đại. Đám nhân viên đón tiếp James thật cung kính. Hẳn rồi. Khách của Phủ Thống đốc mà. Không chỉ là vấn đề tiền bạc mà còn là niềm vinh hạnh. Họ dẫn anh chàng đến một căn phòng rất xinh nằm ngay góc có lan can nhìn về cảng Kingston.
 
Thay mớ quần áo trên người ướt đẫm mồ hôi, anh chàng bước vội vào nhà tắm. Chà, dòng nước lạnh sao mà dễ chịu. Mọi cảm giác bực bội cùng lớp bụi đường trôi đi đâu mất cả. Sảng khoái, xỏ đại chiếc quần sọc vải Sea Island vào người , anh chàng sắp xếp hành lý. Làn gió nhẹ, ấm áp mơn man lớp da trần thật gợi cảm. Với tay lên cái chuông, anh chàng gọi phục vụ.
 
Một lát sau, ly rượu gin cỡ to, ly nước khoáng cùng nguyên một trái chanh tươi được mang đến. Vắt hết chanh vào ly rượu pha nước khoáng, anh chàng bước ra lan can. Ngồi xuống cài ghế, James dõi mắt về phong cảnh hùng vĩ phía trước mặt. Giây phút này đây thật tuyệt vời. Cuối cùng rồi cũng thoát được cơn bão tố bao trùm lấy London, Nỗi buốn chán ở tổng hành dinh của Cục, không khí đầy mùi hoá chất tại bệnh viện.
 
007 lại xuất hiện. Chàng điệp viên huyền thoại đang dấn thân vào một nhiệm vụ sinh tử. Trực giác đã cảnh báo. Vụ án của Strangsway không phải là chuyên đùa. Càng không phải là vụ tình ái lăng nhăng giữa ông sếp đa tình với cô thư ký xinh đẹp. Một điệp vụ bí mật. Một âm mưu thật sự thâm độc. Thủ đoạn vô cùng tinh vi. Tên đầu sỏ vẫn còn núp trong bóng tối. Nó là ai?
 
Ngồi ưỡn người ra, dòng rượu gin làm anh chàng sảng khoái. Thư giãn. Dễ chịu. James gọi thêm ly nữa rồi uống cạn. Lúc ấy đã 7 giờ 15.
 
Mười lăm phút nữa, Quarrel đến đón anh chàng đi ăn tối. Lúc còn trên xe, hắn hỏi anh chàng thích đi đâu. Tuỳ hắn, chổ nào cũng được. Nghe thế, vẻ mặt Quarrel bẽn lẽn. Ngần ngừ mãi vài phút, hắn đáp lại:
 
- Thưa Đại tá, tôi thích nhất một hộp đêm thuỷ tạ Joy Boat ở Kingston. Tại đấy không có màn vũ sexy. Nhưng thức ăn, thức uống, dàn nhạc rất tuyệt. Tay chủ quán lại là thằng bạn chí cốt. Người ta gọi hắn là Pus-Feller vì có lần hắn chiến đấu với con rắn biển khổng lồ.
 
Nghĩ tới cách nói tiếng Anh bồi của Quarrel, anh chàng chợt mỉm cười. Hắn thường thêm âm h vào chổ nào hắn thích rồi rút mất ở những chổ cần thiết. Tính hắn là thế. Sôi nổi, bộc trực, trung thành, thật dễ mếm. Khác xa mấy thằng cái miệng dẻo quẹo, bụng dạ thâm hiểm khôn lường.
 
Bước vào phòng ngủ, anh chàng mặc chiếc áo sơ mi trắng ngắn tay, đeo khẩu Walther, thắt chiếc cà vạt len đen rồi khoác bộ vét xanh thẫm, bạc màu theo kiểu miền nhiệt đới. Khoá cửa lại, anh chàng dạo từng bước về phía chiếc xe đang chờ.
 
 
 
‹ Điệp viên 007 ( Tử chiến với gã NO ) - Chương 03lênĐiệp viên 007 ( Tử chiến với gã NO ) - Chương 04 - 02 ›
 
 
HoangTurin
18:08 - 29/08/2013 
66 lần đọc
Rồi hai người xuôi theo bờ dốc thoai thoải của con đường đầy bụi, quẹo trái dọc bờ cảng. Thấp thoáng vài nhà hàng, hộp đêm hiện ra với tiếng nhạc xập xình. Kế tiếp là dãy nhà nghỉ, các cửa hàng tạp hoá, những lán trại cũ kỹ. Cứ như thế, con đường ngoằn ngoèo dẫn đến một vùng đèn điện sáng trưng phát ra từ một nhà hàng có hình dáng như chiếc tàu chiến của Tây Ban Nha. Bảng hộp đèn lấp lánh với dòng chử: Joy Boat.
 
Khi xe vào bãi, James bước theo Quarrel vào một khu vườn nhỏ đầy hàng cọ vươn mình trên thảm cỏ xanh. Phía trong cùng là bãi biển sóng gợn lăn tăn. Những chiếc bàn nằm nép dưới gốc cọ cành lá lay động. Ngay giữa nhà hàng là một sàn nhảy vắng tanh. Về một phía, ban tam ca trong bộ áo đỏ chả biết tên gì đang rên rỉ bài: Hãy mang cô ta tới Jamaica. Tiếng trống vỗ ầm ĩ, điếc cả lổ tai. Đám thực khách toàn dân da màu, chiếm gần nửa số bàn. Lẫn trong ấy, vài ba anh chàng thủy thủ người Mỹ hay Anh đang ve vãn mấy con gơ.
 
Vừa thấy hai người, một gã da đen béo núc ních trong bộ đồ trắng lịch lãm bước tới:
 
- Xin chào Quarrel. Lâu quá không gặp. Một bàn hai người nhé?
 
- Này Pus-Feller. Chọn cái bàn xa sàn nhảy một chút.
 
Pus-Feller mỉm cười.
 
Rồi gã dẫn hai người xuôi theo bãi biển, đến một bàn ngay dưới cây cọ xa phần còn lại của nhà hàng.
 
- Uống chút rượu nhé?
 
James gọi ly gin, nước khoáng và chanh. Còn Quarrel khoái dùng loại bia Red Stripe.
 
Liếc qua bảng thực đơn, hai người kêu món sò nướng bít tếch tái cùng với rau trộn. Một lát sau thức uống mang tới. Hơi lạnh bốc ra từ ly đá rồi đọng lại thành giọt chảy ròng ròng.
 
Cách đó vài thước, làn sóng nhấp nhô vỗ vào bờ cát trắng. Băng nhạc ba con mèo, con chó gì đó đang nức nở bài Kitch. Phía trên đầu hai người, đám lá cọ xào xạc qua lại. Rồi tiếng tắc kè tặc lưỡi từ cái xó xỉnh nào làm anh chàng nhớ lại London phủ đầy tuyết trắng.
 
Quay sang Quarrel, anh chàng thốt lên:
 
- Tôi thích nơi này.
 
Vẻ mặt hắn hí hửng lắm:
 
- Pus-Feller là thằng bạn chí cốt của tôi. Chuyện gì ở Kingston, gã cũng rành sáu câu. Ngài có thể hỏi gã. Gã cũng là người Cayman. Trước đây tôi và gã dùng chung một chiếc xuồng. Rồi một hôm gã lẻn ra đảo Crab Key tới một bờ đá trộm trứng rắn. Rắn biển ở đấy nhiều vô cùng. Nhưng chỉ toàn những loại bé xíu. Đôi khi có những con khổng lồ. Có lẽ chúng đến từ vùng biển sâu của Cuba. Thế là gã đụng nhằm một con hung tợn. Trận chiến quả là không cân sức. Mình mẩy gã te tua. Một bên phổi sém chút phải cắt bỏ. Hoảng sợ, gã bán lại một nửa chiếc thuyền cho tôi rồi dọn đến Kingston. Lúc ấy trước thời gian chiến tranh. Giờ gã thành một ông chủ to, còn tôi vẫn tiếp tục câu cá.
 
Giọng Quarrel trầm xuống. Dường như hắn suy tư về số mạng. Nghe tới hai chữ Crab Key, anh chàng làm ra vẻ nhớ đến điều gì, liền hỏi:
 
- Crab Key à? Nó ở đâu vậy?
 
Nhìn thẳng vào mặt anh chàng, Quarrel có vẻ ngạc nhiên:
 
- Thưa Đại tá, đó là hòn đảo xúi quẩy. Một tay người Hoa mua nó trong thời gian chiến tranh. Rồi nó thuê người tới đấy đào phân chim. Nó không cho bất cứ ai léo hánh lên đảo. Cũng không cho ai trên đó rời đảo. Người dân chúng tôi tránh xa chổ này.
 
- Sao vậy?
 
- Nó cho nhiều tay chân rình rập quanh đó. Chúng có cả súng máy, đài ra đa, máy bay do thám. Mấy thằng bạn của tôi có lần đến đấy rồi mất tiêu. Chả thấy tên nào quay trở lại. Có lẽ chúng bị giết chết. Tên Tàu ấy luôn cho người canh phòng cẩn mật. Tôi không có xạo đâu, thưa ngài. Nghe tới tên Crab Key, tôi sợ hết hồn.
 
Vẻ mặt James trầm ngâm:
 
- Ừ, có lẽ thế.
 
Bồi bàn mang thức ăn đến. Anh chàng gọi thêm thức uống. Trong lúc dùng bữa, James kể cho Quarrel nghe sơ lược vụ án của Strangsway. Hắn chăm chú lắng nghe. Thỉnh thoảng hỏi đôi điều gì đấy. Hình như hắn đặc biệt quan tâm đến chuyện lũ chim trên đảo, lời trăn trối của tên giám sát, chiếc máy bay bị rơi. Khi cái đĩa của hắn sạch trơn, Quarrel đưa cạnh bàn tay chùi miệng rồi hắn đốt một điếu thuốc.
 
Nghiêng người về phía trước một chút, hắn cất giọng nhỏ nhẹ:
 
- Thưa Đại tá, tôi chẳng màng chim chóc, ruồi nhặn hay ong bướm gì cả. Nếu như đó là đảo Crab Key và ông Strangsway dính líu vào đó, tôi dám cá với ngài một điều: Ông ta và cô gái bị giết. Bọn chúng giết người để giữ bí mật.
 
Anh chàng nhìn thẳng vào đôi mắt xám mang vẻ chắc chắn:
 
- Điều gì làm anh cả quyết như thế?
 
Giơ lòng bàn tay ra, hắn trả lời ngay không do dự:
 
- Câu trả lời thật đơn giản thưa ngài. Tên Tàu đó không muốn ai quấy rầy hòn đảo. Nó có âm mưu gì tôi không biết. Nhưng nó đã giết chết mấy người bạn của tôi khi họ đến gần đảo. Nó sẽ giết bất cứ ai chõ mũi vào chuyện làm ăn của nó.
 
- Tại sao vậy?
 
- Tôi không rõ nguyên nhân. Thế gian lúc nào chả có những tên đồi bại, xấu xa. Giết người bịt miệng, đại loại là như vậy.
 
Đột nhiên James cảm thấy có ai đó nhìn lén. Không chút chần chừ, anh chàng quay đầu lại.
 
Ngay chỗ bóng tối gần đó, con ả ban chiều ở sân bay giờ đang có mặt. Cha, ả trông điệu đàng với bộ xường xám đen, trên tay cầm sẵn cái máy ảnh Leica có gắn đèn nháy. Tay còn lại ả xách một túi da. Hình như ả đang thay bóng đèn nháy.
 
- Ả ban chiều kìa - James nói ngay.
 
Nhanh như cắt, Quarrel sải mấy bước chân tới ngay chổ ả. Chìa tay ra, giọng hắn nhỏ nhẹ:
 
Xin chào cô em.
 
Ả nhoẻn miệng cười khiêu gợi rồi treo sợi dây da của cái Leica vào cổ. Khi ả chìa tay ra bắt lại, Quarrel quay ả một vòng như một điệu van. Ngay lập tức, tay ả bị khoá chặt từ phía sau.
 
Ngước mắt lên nhìn Quarrel giận dữ, ả cố chịu đau:
 
- Xin đừng. Ôi, đau quá.
 
Ánh mắt hắn như mỉm cười chế nhạo. Còn ả, vẻ tức giận phát ra từ đôi mắt đen trên gương mặt trái xoan nhợt nhạt. tỉnh bơ, miệng hắn vẫn ngọt ngào:
 
- Đại tá muốn cô em đến ngồi uống chút nước.
 
Vừa dứt lời, hắn đẩy ả về phía bàn. Dùng chân kéo chiếc ghế gần đó, hắn ấn ả ngồi xuống. Tay Quarrel vẫn nắm chặt cổ tay ả từ phía sau. Lưng cả hai cùng thẳng, mắt gườm nhau như muốn ăn tươi nuốt sống. Ngó vào gương mặt kháu khỉnh, bực dọc của ả, James lên tiếng:
 
- Xin chào. Cô em làm gì ở đây? Muốn kiếm thêm một bức hình nữa à?
 
- Tôi làm việc cho các hộp đêm. Bức hình của ông vẫn còn đây. Bảo hắn buông tôi ra.
 
- Cô làm việc cho tờ Gleaner? Tên cô em là gì?
 
- Tôi sẽ không nói.
 
Anh chàng nhướng mày về phía Quarrel. Nheo mắt lại, tay của hắn xoay chầm chậm. Ả uốn éo người như con lươn. Hàm răng ả cắn chặt vào môi dưới. Tay Quarrel vẫn tiếp tục xoay ...
 
AHHHHHH ...
 
Ả hét lên. Hơi thở ả dồn dập:
 
- Để tôi nói.
 
Tay Quarrel nới đôi chút. Ánh mắt cuồng nộ của ả quét vào mặt anh chàng:
 
- Annabel Chung.
 
Chả thèm để ý, James bảo Quarrel:
 
- Anh hảy gọi Pus-Feller.
 
Dùng bàn tay còn lại, hắn lấy cái nĩa gõ vào thành ly. Ngay lập tức, gã chủ quán bước tới. Ngước lên nhìn gã, anh chàng hỏi:
 
- Ông từng gặp cô em này chưa?
 
- Vâng, thưa ngài. Thỉnh thoảng cô ta có đến đây. Cô ta làm phiền à? Hay để tôi đuổi đi.
 
- Thôi được rồi. Cô ta muốn chụp một bức hình của tôi. Tôi chẳng hiểu nổi. Chụp để làm gì? Kiếm được bao nhiêu tiền. Phiền ông hỏi giùm tờ Gleaner xem có phóng viên ảnh nào tên Annabel Chung? Nếu đúng như thế, chúng tôi sẽ không làm khó dễ.
 
- Vâng, thưa ngài.
 
Ba chân bốn cẳng, tên chủ quán chạy một mạch.
 
Mỉm cười nhìn con ả, James hỏi:
 
- Sao cô em không nhờ ông ta giải thoát?
 
Trừng mắt với anh chàng, mặt ả đỏ gay. Làm bộ tỉnh bơ, anh chàng nói tiếp:
 
- Thành thật xin lỗi. Biện pháp mạnh với cô em xinh đẹp như thế này quả là không phải. Nhưng trước khi tới đây, sếp của tôi ở công ty xuất nhập khẩu tại London có cảnh báo. Kingston lúc này đầy rẫy bọn bất lương. Không thể xem thường. Có lẽ cô em không thuộc loại như thế. Thế tôi nghĩ mãi cũng chẳng hiểu, tại sao cô em quá sốt sắng săn lùng bức ảnh của tôi?
 
Giọng ả sưng sĩa:
 
- Đó là nghề nghiệp của tôi.
 
James hỏi thêm vài câu. Ả chẳng thèm trả lời. Vài phút sau, Pus-Feller xuất hiện:
 
- Đúng rồi thưa ngài. Annabel Chung. Một phóng viên tự do. Cô ta từng chụp vài tấm có giá trị. Ông cứ yên tâm - Giọng nói của gã ôn tồn.
 
- Cám ơn ông.
 
Khi gã quay đi, anh chàng nói với ả:
 
- Phóng viên tự do à? Nhưng đó chẳng phải là lý do chính đáng. Nào cô em, tại sao thế?
 
- Không. Đừng hỏi nhiều - Ả vẫn ngoan cố.
 
- Quarrel, cứ tiếp tục đi.
 
Tựa lưng vào ghế, đầu anh chàng nhẩm tính. James biết đây là một câu hỏi đáng giá. Từ câu trả lời của ả anh chàng đỡ phải tốn mấy tuần vừa chạy đi chạy lại, vừa suy nghĩ nát óc. Nhưng có chắc moi được điều gì từ con ả cứng đầu này không? Ả chả phải là thứ phóng viên bình thường. Phong cách này, thái độ này, dứt khoát ả quá dạn dày với trò bạo lực.
 
Vai phải của Quarrel bắt đầu di chuyển thấp xuống. Ả thấp người theo để tránh bớt áp lực. Từ từ, mặt ả xoay thẳng về phía Quarrel. Ngay lập tức, ả phun một bãi nước miếng rõ to vào mắt hắn ta. Nhằm nhò gì thứ vũ khí của con nít. Quarrel toét miệng cười. Tay hắn siết mạnh hơn. Bàn chân ả quờ quạng liên tục bên dưới chiếc ghế.
 
- Tiểu nả má.
 
Ả văng tục mấy câu tiếng Hoa. Mồ hôi tươm ra từ trán ả.
 
Giọng James vẫn ôn tồn:
 
- Có gì đâu cô em phải khổ sở đến thế. Thẳng thắn nói ra. Giấu giếm mà làm gì. Có nỗi khổ nào sao? Hay có âm mưu gì chăng?
 
Cứ cái đà này, tay phải ả sẽ bị gãy mất. Quả là con ả lì đòn. Một tay chân được huấn luyện chu đáo của một tổ chức nào đấy. Đến nước này thì rõ mười mươi rồi. Chả cần phải đoán hươu, đoán vượn nữa.
 
- Đồ chó chết.
 
Vừa chửi xong, tay trái ả vung lên xáng vào mặt Quarrel.
 
BỐPPP!
 
Trời, anh chàng quá hơ hỏng. Chặn bàn tay ả lại, không còn kịp nữa.
 
Có tia sáng loé lên. Một tiếng nổ sắc gọn.
 
Vươn người tới trước James chộp nhanh vào cánh tay ả. Máu tuôn ròng ròng trên gò má Quarrel. Mảnh thuỷ tinh và kim loại rơi loảng xoảng trên mặt bàn. Ả đập bóng đèn nháy váo mặt Quarrel. Cũng còn may. Nếu ả giơ tay cao một chút, hắn trở thành tên mắt chột.
 
Ngay lúc ấy, hắn đưa tay còn lại lên sờ chổ vết thương rồi đưa ngón tay ra gã nhìn. Máu à? Cũng không đến nổi nào, chỉ trúng ngay phần mềm.
 
Giọng của hắn vẫn trầm tĩnh:
 
- Nói chuyện tay đôi không ăn thua gì với con ả này đâu. Ngài có muốn tôi bẻ gãy một tay ả không?
 
- Không cần thiết, Ả chỉ là một đứa sai vặt. Cứ tha cho ả đi.
 
Anh chàng thầm trách mình. Mạnh tay thế mà chẳng được tích sự gì. Cái tổ chức đằng sau con ả ngoan cố này hẳn là gay lắm. Nếu tiết lộ bí mật, một hình phạt khủng khiếp chờ đợi ả? Mất mạng cũng không chừng.
 
Vẫn nắm chặt cổ tay phải của ả. Quarrel kéo sát về mình. Dùng tay còn lại mở lòng bàn tay ả ra, hắn nhìn thẳng vào đôi mắt đen hung dữ. Giọng hắn rít lại:
 
- Này cô em. Em vừa xin anh tí huyết. Được thôi, anh gởi cho em chút kỷ niệm làm quà.
 
Với ngón tay cái và ngón trỏ, hắn nhéo mạnh vào gò Vệ nữ nhô ra trên lòng bàn tay ả.
 
Nhéo mạnh ...
 
Những khớp xương tay Quarrel kêu răng rắc.
 
Ả vẹo người chịu đựng. Chừng không thấu, ả rống lên:
 
AHHHHH ...
 
Tay trái ả tát lia lịa vào mặt hắn. Nhằm nhò gì, giống như phủi bụi.Toét miệng cười, tay hắn nhéo mạnh.
 
Ả sụp xuống tuyệt vọng. Đột nhiên, hắn thả tay ra. Ả té nhào xuống cát.
 
Bò lăn dưới đất một vòng, ả đứng lên, đưa bàn tay tím bầm vào miệng mút. Vài phút sau chừng như bớt đau, miệng ả bắt đầu tru tréo:
 
- Nhớ nghe con, tên khốn kiếp. Sếp tao sẽ giết chết mày.
 
Vừa dứt lời, ả vọt ngay.
 
Quarrel nhoẻn miệng cười. Lấy từng chiếc khăn ăn, hắn đưa lên má chùi máu rồi liệng xuống đất.
 
- Vết bầm trên tay ả cũng cỡ như vết thương của tôi. Không dễ gì mất dấu đâu. Một con cọp cái đúng nghĩa. Loại phụ nữ thế này, ngài có thích không?
 
- Không. Lần đầu tiên tôi mới gặp một ả như vậy.
 
- Ngài có điều gì bận tâm? Tôi sẽ theo dõi nó.
 
Hắn cố dò xét nét mặt của anh chàng. Ngay lúc ấy, băng nhạc chuyển sang bài: Đừng chạm vào người tôi.
 
Giọng James từ tốn:
 
- Đã đến lúc anh phải có một gia đình. Cứ mặc xác con ả. Nếu không anh sẽ lãnh một dao vào bụng đấy. Thôi nào, tính tiền xong chúng ta đi về. Sáng nay lúc 3 giờ ở London, tôi đã dậy rồi. Tôi cảm thấy buồn ngủ quá. Anh phải huấn luyện cho tôi, nhớ không? Tôi cần có thêm chút cơ bắp mới được. Vả lại, phải để vết thương trên mặt lành lại. Ả hun anh một cái quá mạng.
 
Quarrel bật cười ồ:
 
- Con cọp cái xổng chuồng. Vừa nói xong, hắn gõ cây nĩa vào ly.
 
Leng keng ... Leng keng ... Leng keng ...
 
 
 
 
Chương 5
 
SỐ LIỆU VÀ SỰ KIỆN
 
Sếp tao sẽ giết chết mày ... Sếp tao sẽ giết chết mày ... Sếp tao sẽ giết chết mày, đồ khốn kiếp.
 
Lời tru tréo của ả cứ dọng mãi trong đầu anh chàng. m vang cho đến sáng hôm sau. Giờ James đang ngồi ở lan can, dùng bữa điểm tâm thật tuyệt. Mắt dõi qua khu vườn um tùm của miền nhiệt đới về phía Kingston, cách đó năm dặm. Vâng, vụ án của Strangsway và Trueblood đã rõ rồi. Họ bị giết chết. Họ đang điều tra điều gì đó. Một điều vẫn còn nằm trong bí mật Đến cả Cục Phản gián còn chưa biết được. Bọn khốn kiếp kia muốn giết người diệt khẩu. Hẳn nhiên, chúng dư hiểu Cục Phản gián phái người đến đây điều tra vụ việc đột nhiên mất tích. Người ấy không ai khác hơn là 007. Chúng muốn có một tấm hình của anh chàng để dễ bề nhận dạng. Anh chàng sẽ lưu lại ở đâu? Làm gì? Có tìm thấy chút manh mối nào không? Và một khi 007 nắm được sự tình, chúng đâu có ngại gì mà không thủ tiêu. Hệt như bao nhiêu kẻ vô tội khác. Một vụ đụng xe trên đường, cộc choảng nhau bằng hàng nóng trong quán ăn, hoặc bất kỳ cái chết chừng như rất vô tình sẽ xảy ra. Tên cầm đầu vụ này là ai? Dù chưa biết rõ, nhưng dứt khoát nó là một thằng rất man rợ, khát máu. Giết người đối với nó chỉ là chuyện thường tình. Mà cách giết người của nó cũng thật hoàn hảo. Có thể Strangsway tìm thấy được điều gì rồi báo cáo sơ bộ về London. Và một kẻ nào đó rò rỉ thông tin. Kẻ thù nắm được, nhanh chóng ra tay. Không chừng một ngày nào đó, tử thần đến gõ cửa James, và Quarrel nữa. Láo thật. Nó có quyền gì thay mặt Thượng đế giũ sổ người khác. Chờ đấy con ạ. Để xem ai sẽ giũ sổ ai?
 
Đốt điếu thuốc Royal Blend đầu tiên trong ngày, anh chàng phà ra thật điệu nghệ. Vòng khói tròn bốc lên cao. Đầu óc cứ mãi miên man. Kẻ thù là ai? Thằng chó nào? Xét cho cùng, chỉ có một tên khả nghi nhất. Tên tạp chủng người Đức lai Hoa Julius No sở hữu đảo Crab Key, khai thác phân làm giàu. Nó tự nhận là bác sĩ. Chả biết có đúng thế hay chỉ là tên lang băm miệt vườn mắc chứng hoang tưởng? Loại người này anh chàng đã gặp quá nhiều. Tri thức quá kém cõi nhưng thừa gian xảo giết người. Thật lạ. Không hề có lý lịch nhân thân của nó. Thậm chí trong hồ sơ của đám FBI cũng không nốt. Chăng lẽ từ đất nẻ nó chun ra? Năm mạng người trong vụ chim cò không thể xem thường. Bất hạnh ngẫu nhiên ư? Anh chàng không tin. Kinh nghiệm thầm báo: Không có điều gì tự nhiên xuất hiện. Nhiều lúc cứ nghĩ đó là sự an bài của Thượng đế. Nhưng không. Đó là một âm mưu vô cùng thâm độc của một tổ chức, một cỗ máy giết người hoàn hảo đang khuất trong bóng tối.
 
Lời quả quyết của Quarrel chẳng đã khẳng định thêm điều này? Hắn và cư dân ở đây cạch mặt cái hòn đảo tử thần Crab Key. Những người Cayman như Quarrel đâu phải là loại người chết nhát. Họ không dễ gì hù doạ. Trừ phi đó là sự tàn độc khủng khiếp. Tại sao tên No cố tạo ra nỗi ám ảnh này với cư dân địa phương? Nó có điều gì đó riêng tư. Không muốn ai xía vào vụ khai thác phân chim? Kể cũng lạ. Phân chim có gì quý báu. Chúng dùng phân chim để làm gì? Chế tạo bom? Vũ khí ư? Anh chàng đã quyết định gọi cho viên quyền Thống đốc vào lúc 10 giờ. Phải tìm ra lời giãi đáp thoả đáng về vụ này: phân chim, đảo Crab Key, tên No tạp chủng.
 
Đang suy nghĩ miên man, bỗng có tiếng gõ cửa. Anh chàng vội đứng lên mở. Quarrel bước vào. Trên má trái của hắn ta băng một miếng rõ to.
 
- Xin chào Đại tá. Ngài hẹn lúc 8 giờ 30.
 
- Vâng, vào một chút đi. Hôm nay, chúng ta rất bận. Ăn sáng chưa?
 
- Vâng. Cám ơn ngài. Cơm, cá muối và chút rượu rum.
 
- Sáng sớm làm gì nhiều thế?
 
Cũng bình thường thôi thưa ngài.
 
Khi hai người ngồi xuống ngoài lan can, James châm lửa mời hắn điếu thuốc.
 
- Nào, bắt đầu ngày hôm nay của chúng ta. Tôi phải đến Phủ Thống đốc rồi Viện Nghiên cứu của Jamaica. Có lẽ đến chiều mới xong. Hôm nay anh không đi với tôi nhưng có một việc phiền anh chút xíu.
 
- Vâng, thưa ngài. Ngài cứ dặn, tôi sẽ làm ngay.
 
- Chiếc xe của chúng ta không ổn. Nó đang bị theo dõi. Anh đi xuống Motta hoặc nơi nào đấy ghé vào cửa hàng cho thuê xe. Mướn một chiếc tốt nhất, mới nhất chỉ chạy chừng vài dặm. Chỉ mướn xe không mướn tài xế. Thời hạn thuê: một tháng. Nhớ không? Sau đó, đến bến cảng kiếm cho được hai gã có hình dáng gần giống chúng ta. Gã nào phải biết lái xe. Sắm quần áo cho họ giống loại chúng ta thường mặc. Nhớ cả nón luôn nhé. Bảo với họ, chúng ta muốn mang chiếc xe đến Montego vào sáng mai. Chổ đường Ocho Rios, gần thành phố của Tây Ban Nha. Rồi họ cứ bỏ xe ở ga ra của Levy. Xong, gọi diện cho Levy, nhờ hắn ta trông giùm.
 
Quarrel mỉm cười:
 
- Ngài tính lừa tên nào đó?
 
- Chính thế. Trả cho hai gã ấy mỗi gã 10 bảng. Cứ bảo tôi là một doanh nhân người Mỹ giàu có, có ý thích ngược đời. Khoái hai người đứng đắn lái chiếc Sunbeam đến Montego. Hẹn họ sáng mai đúng 6 giờ phải có mặt ở đây. Anh đến với chiếc xe mới thuê. Sau đó cho họ lái chiếc Sunbeam đi. Mui xe phải hạ kín. Rõ chưa?
 
- Vâng, thưa Đại tá.
 
- Còn một việc nữa. Căn nhà Beau Sesert ở cảng Morgan, có ai thuê chưa?
 
- Hình như chưa. Nó xa mấy điểm du lịch mà giá cho thuê cao quá.
 
- Anh đến hiệp hội Graham, xem coi chúng ta có thể thuê một tháng không? Hoặc một nhà gỗ gần đấy cũng được. Tiền bạc không thành vấn đề. Cứ bảo tôi là một doanh nhân Mỹ giàu có, ông James. Lấy chìa khoá và trả tiền thuê. Nếu họ muốn tôi xác nhận, cứ phôn cho tôi.
 
Đưa tay vào túi, anh chàng rút ra một xấp bạc dày. Xẻ nửa cọc giao cho Quarrel, anh chàng nói tiếp:
 
- Đây là 200 bảng. Cất kỹ đừng cho ai biết. Nếu cần thêm, cứ phôn cho tôi. Anh biết tôi ở đâu, đúng không nào?
 
- Vâng, thưa ngài.
 
Hắn cảm thấy hoảng vì số tiền quá lớn. Bỏ chúng vào bên trong chiếc áo sơ mi xanh rối hắn gài nút cho đến tận cổ:
 
- Còn gì nữa không thưa ngài?
 
- Không. Cố gắng đừng để bị theo dõi. Gởi xe ở một nơi nào đó trong khu trung tâm rồi đi bộ đến mấy chổ ấy. Đặc biệt chú ý đám ngưởi Hoa, nhất là những tên sáp lại gần anh.
 
Nói xong anh chàng đứng dậy. Cả hai cùng bước tới cửa.
 
- Hẹn gặp anh 6 giờ 15 sáng mai. Rồi chúng ta đến bờ biển phía Bắc. Chắc chúng ta phải đóng ở đấy một khoảng thời gian rồi.
 
Quarrel gật đầu, vẻ mặt thoáng chút khó hiểu.
 
- Vâng, thưa Đại tá.
 
Vừa dứt lời, hắn bước nhanh ra cửa.
 
Nửa giờ sau, anh chàng lững thững bước xuống cầu thang. Vẫy một chiếc tắc xi, James chỉ hướng Phủ Thống đốc.
 
Chẳng thèm ký tên vào cuốn sổ đăng ký ở bàn tiếp tân, anh chàng ráng ngồi đợi trong phòng chờ. Kẻ thù vẫn lảng vảng đâu đây. Nó trong tối, anh chàng ngoài sáng. Không được phạm bất cứ một sai lầm nào, dù là nhỏ nhặt. Cố tạo ra vẻ không quan trọng càng ít bị chú ý. Mười lăm phút sau, A.D.C bước ra mời anh chàng vào phòng làm việc của viên Thống đốc ở lầu một.
 
Chà một căn phóng khá rộng, thoáng mát với mùi thuốc là nực nồng. Viên quyền Thống đốc trong bộ vét màu kem, cổ áo to qua khổ, tắt chếc cà vạt lốm đốm đen ngồi chễm chệ trên cái bàn bằng gỗ mun. Thật lạ. Chăng thấy thứ văn kiện giấy tờ chi cả. Chỉ vái tờ tạp chí Daily Gleaen hay Times Weekly nằm ngổn ngang bên cạnh chậu dâm bụt. Ông ta đã luống tuổi. Hơn sáu mươi cũng không chừng. Đôi mắt sáng, xanh thẫm trên gương mặt đỏ gay lộ vẻ nóng nảy. Hai bàn tay để hẳn trên bàn, ông ta chẳng cười mà cũng chẳng thèm đứng dậy:
 
- Xin chào ông ... James Bond. Xin cứ tự nhiên.
 
Bước tới cái ghế gấn bàn của ông ta, anh chàng ngồi xuống, chào lại:
 
- Xin chào ngài.
 
Chả nói thêm một câu, James ngồi yên đấy chờ đợi. Một chiến hữu ở Bộ Thuộc địa đã mách trước cho anh chàng. Cuộc đón tiếp này chẳng có gì thú vị. Thậm chí là vô cùng lãnh đạm. Ông ta sắp về hưu. Vị trí này bất quá là một giai đoạn chuyển tiếp. Bộ cất nhắc ông ta vào chức quyền Thống đốc chỉ nhằm thế chổ cho ngài Hugh Foot trong thời gian ngắn. Số là ngài Hugh hoạt động quá thành công, chuyển về Anh với chức vụ cao hơn. Còn ông ta thừa biết chẳng làm gì được như thế nên cứ tà tà. Trườc đây, ông ta đã từng làm Thống đốc ở Rhodesia. Vài tháng nữa, Bộ quyết định cho ông ta nghỉ hưu. Chả thiết gì cả. Ông ta cố kiếm chức giám đốc nào đấy ở London để dưỡng già. Còn những chuyện ở Jamaica, cứ làm thinh cho rảnh nợ. Vụ án của Strangsway là một thí dụ. Bằng mọi giá, ông ta cố lờ đi. Càng bới móc, càng nhọc công mà chẳng xơ múi được gì cả.
 
Viên quyền Thống đốc tằng hắng. Ổng thừa biết James thuộc loại khó nuốt.
 
- Ông cần gặp tôi?
 
Giọng anh chàng điềm tĩnh:
 
- Chỉ là công vụ thôi, thưa ngài. Tôi đến vì vụ án của Strangsway. Hẳn ngài nhận được thông tin từ Bộ trưởng.
 
Phải nắn gân lão già an phận này một chút. Dù đến đây đơn độc nhưng ai chống lưng cho anh chàng? Ổng phải hiểu rõ điều này. 007 và Cục Phản gián chả phải là mấy thằng ranh con dễ bắt nạt.
 
- Vâng, tôi có nhận được. Vậy tôi có thể giúp gì cho ông nào? Nếu tôi nhớ không lầm, vụ đó kết thúc rồi kia mà.
 
- Kết thúc thế nào thưa ngài?
 
Giọng ông ta thẳng thừng:
 
- Strangsway rõ ràng trốn theo cô gái. ĐÀO NHIỆM VÌ TÌNH. Tóm tắt là như vậy. Vài đồng sự của ông không thể sống thiếu gái.
 
Chà, lão xách mé tới mình, anh chàng thầm nghĩ.
 
- Mê gái, lụy vì tình, luôn gây ra những tai tiếng lăng nhăng. Chả hiểu sao Chính phủ không có một ông James Bond nào không có máu hảo ngọt. Tôi cứ cầu mong Cục gởi đến một tay nào đấy có năng lực hơn. Chức vụ thanh tra địa phương chẳng phải là chuyện đùa. Tôi có khối tư liệu từ phía cảnh sát.
 
Chả thèm đếm xỉa vào những lời móc nghéo của lão, James mỉm cười:
 
- Vâng, xin ngài nhớ những gì ngài phát biểu hôm nay. Tôi sẽ chuyển chúng về Cục. Dĩ nhiên, sếp của tôi đem chuyện này làm việc vời các ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao. Và một khi ngài hết nhiệm kỳ trở về Anh, tôi không dám chắc, thưa ngài là có gặp khó khăn gì không với Cục Phản gián? Chỉ có trời mới biết được. Còn Sở Cảnh sát của Jamaica có hiệu quả không? Chờ xét lại.
 
Lão quyền Thống đốc nhìn James nghi ngờ. Thằng ranh con thế mà gớm thiệt. Phải giữ mồm giữ miệng với hắn mới được.
 
- Ồ, đây chỉ là chuyện tầm phào ngoài lề thôi. Nếu cần trình bày quan điểm, tôi phải tự báo cáo với ngài Bộ trưởng. Trong thời gian ở đây, ông có cần gặp ai trong đám nhân viên của tôi?
 
- Tôi muốn nói chuyện với ông Trưởng ban phụ trách vấn đề thuộc địa.
 
- Tại sao vậy? Xin xỏ điều gì chăng?
 
Cái lão già chết tiệt. Chả làm nên trò trống gì, chỉ giỏi cái nước rộng họng, xách mé. Tỉnh bơ, James nói tiếp:
 
- Có vài sự cố trên đảo Crab Key. Khu bảo tồn chim bị phá hủy. Bộ Thuộc địa chuyển hồ sơ qua Cục Phản gián. Tôi có nhiệm vụ điều tra chuyện này.
 
Vẻ mặt lão già thư giãn:
 
- Được thôi. Chuyện này không thành vấn đề. Pleydell-Smith, Trưởng ban phụ trách thuộc địa sẽ gặp ông ngay lập tức. Còn vụ của Strangsway, chúng ta khép hồ sơ lại nhé? Chả cần phải bới móc ra làm gì.
 
Lão giơ tay lắc cái chuông bên cạnh. Vài phút sau, A.D.C bước vào.
 
- Ông James Bond muốn gặp Trưởng ban phụ trách thuộc địa. A.D.C, phiền anh đưa ông ta đến đấy. Tôi sẽ phôn cho Pleydell-Smith.
 
Lão đứng lên, bước qua bàn làm việc rồi giơ tay chào:
 
- Xin tạm biệt. Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau. Đảo Crab Key à? Tôi chưa từng đến đó. Nhưng chuyến đi này chắc sẽ thú vị lắm.
 
Bắt tay lão, giọng anh chàng thản nhiên:
 
- Tôi cũng nghĩ thế. Xin chào.
 
Chờ anh chàng bước ra khỏi phòng, lão quyền Thống đốc lẩm bẩm:
 
- Thứ ngựa non háu đá.
 
Trở lại bàn, ngồi xuống, lão nhấc điện thoại lên, nói vài câu lấy lệ với tay Trưởng ban phụ trách thuộc địa. Gác phôn xong, lão lật nhanh tờ Times Weekly, dán mắt vào trang cổ phiếu.
 
Tay Trưởng ban phụ trách vấn đề thuộc địa – Pleydell-Smith trông vẫn còn trẻ. Mái tóc xù xù, đôi mắt nâu sáng làm gương mặt gã hồn nhiên. Chà, một tay nghiện ống píp thứ thiệt. Ngồi nói chuyện với James chừng mươi phút, gã mồi thuốc hai, ba lần.
 
Vừa thấy mặt anh chàng, Pleydell-smith ngồi nhỏm dậy, nhanh nhẩu chạy tới bắt tay. Chỉ cho anh chàng chiếc ghế gần đó, gã đi tới đi lui trong phòng, dùng píp gãi gãi lên màng tang.
 
Giọng gã thân mật:
 
- James Bons à? Cái tên nghe quen quá. Để mình nhớ lại chút xem. Ồ, đúng rồi, cậu điều tra vụ kho tàng trên đảo. Bốn năm năm gì đó. Có một hôm, mình tìm thấy chồng hồ sơ về cậu nằm đâu đó trên bàn. Vụ án tuyệt vời. Thật hân hạnh. Mình không ngờ đấy. Cậu làm mọi thứ ở đây đảo lộn. Nhờ vụ đó, Kingston có chút tiếng tăm. Thiên hạ ngày nay chỉ biết lo nghĩ cho quyền lợi cá nhân, địa vị xã hội, quyền tự quyết. Miệng la to hét lớn đủ thứ mà chẳng làm nên trò trống gì cả. Nội cái điều khiển xe buýt cũng chả xong. Còn vấn đề sắc tộc ấy à, miễn bàn.
 
Vừa nói xong, hắn bước tới bàn làm việc, ngồi xuống đối diện với James, một chân gác lên tay ghế. Với tay lấy hộp thuốc, hắn bắt đầu nhồi cái tẩu:
 
- Xin cậu cứ tự nhiên. Mình có thể giúp gì nào? Mình dám cá, chuyện của cậu lý thú hơn nhiều mấy cái thứ quái quỷ nằm kia – Tay hắn quơ quơ về phía chồng công văn đang chờ giải quyết.
 
James mỉm cười. 5 năm rồi mà hồ sơ của anh chàng vẫn còn năm đâu đó trên bàn? Thật lạ. Xoáy vào chỗ hớ hênh của hắn, mình phải hỏi vài câu cho ra lẽ.
 
Ngồi thẳng người lên, James nghiêm giọng:
 
- Vâng. Tôi đến đây vì vụ của Strangsway. Nhưng trước hết, tôi muốn hỏi một câu. Với chừng ấy thời gian, hồ sơ vụ kho tàng vẫn còn nằm trên bàn? Ai đó yêu cầu ông lục lại hồ sơ? Nếu điều này có chút gì khó nói, ông có thể không cần trả lời. Nghe có vẻ phi lý thôi. Thật chẳng có gì quan trọng.
 
Pleydell-Smith nheo một mắt nhìn anh chàng:
 
- Mình biết do bản chất nghế nghiệp, đôi khi cậu quá dè dặt.
 
Rồi hắn ta ngó lên trần:
 
- Để nhớ lại xem. Vâng, có một hôm, mình tìm thấy nó trên bàn cô thư ký vừa mới tuyển. Cô ta đang sắp xếp lại tất cả hồ sơ. Thật là bề bộn. Rồi trong cái đống hỗn độn ấy, tình cờ mình gặp nó.
 
- Thế ư? Thật ngại quá. Chả hiểu sao, khi tôi vừa đặt chân đến đây, có nhiều kẻ muốn tiếp cận làm quen. Trở lại vấn đề chính, tôi muốn rõ vài điều. Ông biết gì về hòn đảo Crab Key? Gã người Hoa tự xưng là bác sĩ No, chủ nhân hòn đảo ấy? Vụ khai thác phân chim? Tất cả những chi tiết dù nhỏ nhặt nhất đều có giá trị.
 
Đột nhiên hắn cười nho nhỏ. Lấy cái tẩu ra khỏi miệng hắn vừa nói vừa nhồi nhồi mớ thuốc đang cháy dở với que diêm.
 
- Cậu đặt những câu hỏi hơi khó trả lời. Đó là cả một bộ phim nhiều tập ấy. Lúc đó mình còn làm ở Toà lãnh sự trước khi về Bộ Thuộc địa. Công việc đầu tiên của mình là ở Peru. Mình có nhiều mối quan hệ với đám người quản lý vụ làm ăn này: Companía Administrandoradel Guano. Những con người tốt bụng.
 
Chờ ống tẩu cháy đỏ, hắn quăng cái hộp quẹt lên bàn.
 
- Phần còn lại của câu chuyện, phải dựa vào tập hồ sơ. Hắn lắc cái chuông đặt bên cạnh. Vài phút sau, cánh của phía sau James mở ra.
 
- Cô Tano, mang cho tôi hồ sơ liên quan đến vụ mua bán của đảo Crab Key. Thêm hồ sơ về tay giám sát bị chết hôm trước Noen. Nếu tìm không ra, cứ hỏi cô Longfellow.
 
Cô thư ký dạ một tiếng nho nhỏ rồi khép cửa lại.
 
Xoay xoay người trên ghế, Pleydell-Smith bắt đầu kể:
 
- Mình có vài lời xơ lược về vụ phân chim. Thường người ta khai thác nguồn chất thải của hai giống chim: con Booby và Guany. Trên Crab Key, chỉ thấy loài Guany. Hình dáng chúng tương tự giống chim cốc xanh, cậu có thể thấy ở Anh. Chà, cái lũ Guany rất háu ăn. Chúng là cái máy nghiền cá thành phân chim. Cậu biết một lần nó ăn bao nhiêu con cá không? Tình cờ, người ta mổ bụng một con Guany, tìm thấy hơn 70 con cá trồng.
 
Lấy ống píp ra, hắn quơ quơ về phía anh chàng cố tạo chút ấn tượng.
 
- Một năm cả dân Peru chỉ dùng có bốn ngàn tấn cá. Còn đám Guany ở đó xơi cả thảy năm trăm ngàn tấn.
 
Bĩu môi, anh chàng làm ra vẻ ngạc nhiên:
 
- Thật ư?
 
- Vâng. Mỗi ngày, một con trong số hàng trăm ngàn con Guany ăn hết nửa ký cá rồi thải ra hơn nửa trăm gram phân. Ngày này qua ngày kia, chúng tạo thành hòn đảo phân chim.
 
James cắt lời:
 
Tại sao chúng không thải phân xuống biển?
 
- Cũng chả hiểu. Có lẽ do bản năng. Chúng cứ thải phân trên đảo từ thuở Chúa sáng tạo ra muôn loài. Hàng triệu triệu tấn phân trên vùng Pescadores và nhiều đảo khác. Mãi đến năm 1850, người ta mới biết chúng là nguồn phân bón tự nhiên giàu chất ni trát và phốt phát nhất trên thế giới. Thế là thiên hạ xúm nhau lên tàu đến các hòn đảo phân chim khai thác chúng. Thời kỳ ấy được gọi là Saturnalia ở Peru. Nó kéo dài hơn hai mươi năm. Ở Klondyke cũng thế. Thiên hạ giành giựt, chém giết nhau trên đống phân, cướp bóc các chiếc tàu, bắn nhau loạn xạ, bán những tấm bản đồ giả về các hòn đảo phân chim. Bổng chốc có khối thằng giàu to.
 
- Người ta quan tâm đến đảo Crab Key từ khi nào?
 
Anh chàng muốn đi thẳng vào vấn đề. Cái tay này cứ cà kê dê ngỗng mãi mấy thứ phân chim.
 
- Đó là đảo phân chim duy nhất ở phía Bắc. Nó cũng từng được khai thác. Chả biết từ lúc nào, khoáng chất trong nước ở vùng biển này thua dòng chảy Humboldt nên thịt loại cá trồng cũng không bổ dưỡng cho lắm. Vì thế nguồn phân ở đây có chất lượng kém hơn. Người ta khai thác chúng cũng khi trồi khi sụt. Mãi cho đến khi ngành kinh doanh này bùng nổ, nhất là khi bọn người Đức phát minh ra phân hoá học, người ta đổ xô nhau tới Crab Key và các hòn đảo có nguồn phân chim chất lượng kém. Vào lúc này, Peru vào cuộc. Họ quốc hữu hoá ngành khai thác phân chim và bảo vệ giống Guany. Rồi sản lượng bắt đầu tăng lên trở lại. Sau một thời gian dùng thử phân hoá học, người ta thấy chúng làm cho đất bị thoái hoá, không thể nào so sánh với đám phân chim. Thê là giá cả của chất thải từ Guany tăng lên không ngừng. Riêng Peru thực hiện chính sách bảo hộ nền nông nghiệp của họ với đống phân chim trong nước. Nguồn cung cấp đột nhiên khan hiếm. Thế là thiên hạ tranh giành Crab Key.
 
- Thế à?
 
Vừa nói đến đây, Pleydell-Smith dừng lại một chút. Tay lần kiếm cái hộp quẹt, hắn mồi cái tẩu lần nữa.
 
- Ngay khi chiến tranh vừa nổ ra, tay người Hoa láu cá, lưu manh ấy liền nghĩ ra cách làm giàu từ việc khai thác phân chim ở đảo Crab Key. Giá cả thị trường lúc ấy vào khoảng 50 đô một tấn tại Atlantic. Gã đề nghị mua Crab Key với giá mười ngàn bảng. Rồi gã vận chuyển công nhân đến đây làm việc ngày đêm. Chà, gã kiếm cũng được bộn bạc. Mỗi tháng một chuyến tàu từ châu u hay Antwerp đến chở chúng đi. Sau đó, để giảm giá thành sản xuất, gã dùng thêm máy gạn, máy nghiền. Còn đám công nhân ấy à, gã bóc lột tối đa. Những năm gần đây, giá thị trường chỉ còn 38 hay 40 đô gì đấy một tấn ở Antweep. Dĩ nhiên, gã hạ tiền thuê nhân công xuống. Rồi Crab Key trở thành nơi lao động khổ sai. Gã cấm không cho ai rời khỏi đảo. Rồi người ta bắt đầu đồn đãi nhau mấy câu chuyện liên quan đến cách cai trị hà khắc của gã. Dĩ nhiên, Crab Key thuộc sở hữu tư nhân. Chả ai dư hơi xía vào chuyện nội bộ của nó.
 
Anh chàng thấy có điểm cần làm rõ:
 
- Thật sự Crab Key đem lại tiền cho tên No?
 
- Guany là giống chim có giá trị nhất trên thế giới. Sau khi trừ hết chi phí, một cặp chim mang đến cho chủ nó hai đô la một năm. Mỗi con chim mái đẻ trung bình ba trứng, một cặp chim đáng giá 15 đô. Nhân con số này cho một trăm ngàn chim trên Crab Key, số tiền lên đến một triệu rưỡi đô. Con số không nhỏ phải không nào? Chưa kể gã dùng máy móc để tăng năng suất. Cậu thấy không, một miếng đất nhỏ xíu với chừng ấy tài sản.
 
Chừng nhớ ra chuyện gì, hắn lắc cái chuông nhỏ.
 
- Sao chồng hồ sơ nảy giờ không thấy tới? Rồi cậu sẽ tìm thấy những chi tiết thú vị trong đó.
 
Cánh cửa phòng mở ra phía sau James.
 
Giọng Pleydell-Smith càu nhàu:
 
- Mấy tập hồ sơ đâu, cô Tano?
 
- Xin lỗi sếp. Tôi không tìm ra chúng.
 
- Cô nói giỡn à? Không tìm ra chúng? Lần cuối cùng ai mượn chúng?
 
- Thưa, ngài Strangsway.
 
- Không phải thế. Tôi nhìn thấy ông ta mang chúng trở lại đây. Chuyện gì xảy ra thế?
 
Ả cố giữ giọng bình tĩnh:
 
- Tôi không biết, thưa sếp. Chỉ có cái bìa, còn tài liệu bên trong không có.
 
Quay người lại, anh chàng nhìn vào ả thư ký. Mỉm cười, anh chàng xoay lưng lại. Chuyện đã rõ mười mươi. Mấy chồng hồ sơ đang ở đâu? Tại sao hồ sơ của 007 cách đây 5 năm lại năm lăn lóc trên bàn của ả? James dư sức biết điều này. Hèn gì, mới vừa đặt chân xuống sân bay, con ả trơ trẽn Annabel xáp tới làm quen. Tai mắt của kẻ thù có mặt ngay trong cái phủ Thống đốc. Nó tiết lộ thông tin ra ngoài. Giống như tên No xảo quyệt, con ả mặt dày Annabel Chung, ả thư ký Tano với dáng vẻ nhu mì, Bẽn lẽn, đôi mắt đằng sau cặp kính cận là một ả người Hoa. Trùng hợp ư? Không hề!
 
 
 
 
Chương 6
 
NGÓN TAY TRÊN CÒ SÚNG
 
Một lát sau, Pleydell-Smith mời anh chàng dùng bữa ở Câu lạc bộ của Nữ hoàng. Ngồi tại bàn trong góc căn phòng bằng gổ cẩm kiêu kỳ, ngay bên dưới
 
bốn cái quạt quay vù vù, họ vừa ăn vừa tán gẩu về Jamaica. Lúc cà phê mang lên, Pleydell-Smith bắt đầu tâm sự.
 
Ngoài dáng vẻ trù phú, thơ mộng yên bình của hòn đảo này là những bí mật
 
khó ai hiểu hết được.
 
Hắn quơ quơ cái tẩu:
 
- Thế đấy. Người Jamaica là một chủng tộc khá lười biếng. Tâm hồn họ đơn
 
thuần, hệt như đứa trẻ con. Sống ngay trên hòn đảo giàu có như thế này,
 
nhưng họ không biết cách kiếm ra tiền. Một phần do làm biếng, một phần do
 
ngu dốt. Cách đây hai trăm năm, người Anh đến đây và chiếm nó thật dễ
 
dàng. Nhưng họ không lưu lại đây. Đến rồi đi. Dường như họ chỉ muốn chiếm
 
thêm lãnh thổ, chẳng màng khai thác chút tài nguyên nào.
 
Cùng với người Anh, đám người Bồ Đào Nha gốc Do Thái đến đây lập nghiệp.
 
Nhưng bọn này quá chú trọng đẳng cấp xã hội. Những kẻ hợm hĩnh, tạm gọi là
 
như thế. Họ dùng tiền của xây dựng nhà cửa lâu đài, truyền bá âm nhạc, đặt
 
tên các điểm du lịch. Tên họ nhan nhản trên tờ Glesner như cậu thấy đó. Họ
 
lao vào xản xuất rượu rum, thuốc lá và làm đại diện cho các công ty của
 
Anh quốc: xe hơi, bảo hiểm ...
 
Sau đó, là đám người Syrie đặt chân đến đây. Bọn này rất giàu có nhưng làm
 
ăn dở ẹt. Chúng kinh doanh các kho bãi, nhà trọ. Chả có máu làm ăn bẩm
 
sinh, chúng thường xuyên thua lỗ. Trữ hàng nhiều quá, đôi khi kẹt tiền
 
mặt, chúng phải bán đổ, bán tháo. Kế tiếp là bọn người Ấn Độ với nghề bán
 
trang sức. Họ cũng là đám cò con, kiếm ăn ngày ba bữa. Không dư được bao
 
nhiêu.
 
Cuối cùng là bọn tha phương cầu thực người Hoa. Cậu chớ có xem thường bọn
 
này. Với bản tính gan lì, kín đáo, chắc mót, ngay lập tức, bọn chúng trở
 
thành chủng tộc có nhiều tài sản ở Jamaica. Chúng kinh doanh trong ngành
 
ăn uống: mở các lò bánh, nhà hàng, quán ăn và cả nghề giặt giũ. Chúng
 
thường sống cô lập trong cộng đồng. Dần dần về sau, dùng thuốc tráng dương
 
nhiều quá, nhu cầu sinh lý không giãi quyết được, chúng lấy luôn mấy ẻm da
 
đen sinh ra hàng đống tạp chủng. Cậu có thể thấy nhan nhản bọn này ở
 
Kingston. Bọn này đúng là đám càn quấy nhất ở Jamaica. Chuyện gì chúng
 
cũng chẳng từ: cướp bóc, tống tiền, giết người... Thành tích của chúng
 
càng lúc càng chồng chất trong hồ sơ của Sở Cảnh sát.
 
James ngắt lời:
 
- Cô thư ký của ông có thuộc trong đám tạp chủng này?
 
- Đúng đấy. Một cô gái sáng dạ, làm việc rất hiệu quả. Chúng mình tuyển
 
được cách đây sáu tháng. Cô ta là ứng cử viên sáng giá nhất trong đợt ấy.
 
- Có lẽ là thế. Lanh lợi, nhanh trí. Còn tổ chức của bọn chúng, ai là tên
 
cầm đầu trong đám tạp chủng này?
 
- Cũng không rõ lắm. Có ai đó cầm đầu nhưng không hề lộ diện. Đấy là một
 
cộng đồng khép kín nhưng làm ăn rất hiệu quả. Thật ra, hồ sơ cũng không
 
cung cấp được chi tiết nào cụ thể. Cậu không thể tìm gì nhiều ở đấy. Còn
 
tên No, có phải bác sĩ hay không chưa rõ. Nhưng hắn đúng là miệng lưỡi như
 
đám con buôn. Ngọt xớt, xởi lởi, hoạt bát lắm. Chỉ cái chuyện rắc rối với
 
đám Audubon, cậu cũng có chút khái niệm về hắn.
 
Còn Crab Key như thế nào? Theo hồ sơ, đó chỉ là một hoang đảo với những
 
đầm lầy mọc đầy những cây đước và mấy đống phân chim khổng lồ. Nếu cần
 
biết thêm chi tiết, cậu có thể tham khảo ở Viện Nghiên cứu của Jamaica.
 
Mình có quen một tay ở đấy. Chở cậu tới đó xong, mình sẽ giới thiệu cậu
 
với hắn. Chịu không?
 
Một tiếng sau, James ngồi gọn lỏn trên chiếc ghế trong văn phòng mờ tối
 
với cái bản đồ địa hình của Crab Key sản xuất từ năm 1910 trải ra trước
 
mặt. Dùng mấy tờ giấy can Viện cho mượn, anh chàng phác thảo sơ bộ những
 
điểm chính yếu.
 
Tổng diện tích của hòn đảo vào khoảng năm mươi dặm vuông. Ba phần tư về
 
phía Đông là đầm lầy và những hồ nước không sâu lắm. Một con sông bắt
 
nguồn từ đây chảy nửa đường dọc theo bờ Nam đổ vào một vịnh cát nhỏ. Anh
 
chàng thầm đoán: Có lẽ đám Audubon chọn nơi này để xây dựng khu bảo tồn.
 
Vế phía Tây, có một ngọn đồi nhô cao khoảng trăm rưỡi thước rồi đột ngột
 
biến thành dốc thẳng ra biển. Từ ngọn đồi này có một đường chấm chấm dẫn
 
đến một cái hộp mang dòng chử Khu Khai Thác Phân Chim, hoạt động cho tới
 
năm 1880, Chả có bóng dáng một ngôi nhà, con đường hay lối mòn nào.
 
Từ xa nhìn vào, hòn đảo giống như một con chuột nước đang lội, Phần xương
 
sống nhô cao, đầu hướng về phía Đông, cách điểm cực bắc Galina của Jamaica
 
khoảng 30 dặm và 60 dặm về phía Nam của Cuba.
 
Anh chàng khá thất vọng. Đây chỉ là một bản đồ địa hình sơ sài.
 
Nhìn chung Crab Key nằm trong vũng nước cạn, ngoại trừ phía bờ Tây sâu
 
khoảng trăm rưỡi thước kéo dài đến vũng sâu của Cuba.
 
Cuộn nó lại, anh chàng trao lại tay quản thủ thư viện. Lúc ấy vẫn chưa tới
 
bốn giờ. Chà, trời hôm nay sao oi quá. Mồ hôi thấm ướt cả người.
 
Uể oải, James bước ra khỏi thư Viện, vẫy chiếc tắc xi trở về khách sạn.
 
Công việc chừng như tạm ổn. Có điều thật quái lạ. Không một chút thông tin
 
nào về tên No. Tất cả đều kín như bưng. Nếu thế chỉ còn một lý do duy
 
nhất: Nó quét sạch mọi thứ trước khi anh chàng đến đây. Kệ xác nó. Thêm
 
một thời gian nữa, mọi việc rồi cũng phơi bày. Chạy trời cũng không khỏi
 
nắng. Dứt khoát là thế. Còn chiều nay ấy à? Về khách sạn nghĩ dưỡng sức
 
chuẩn bị cho chuyến đi sáng mai.
 
Ghé lại bàn tiếp tân, anh chàng cố tìm xem lời nhắn của Quarrel.
 
- Thưa ông – Cô tiếp tân dễ thương đáp lại.
 
Chừng nhớ ra điều gì, cô nàng nói tiếp:
 
- Chỉ có giỏ trái cây từ bên phủ Thống đốc gởi đến. Sau giờ trưa một chút.
 
họ mang luôn tới phòng cho ngài.
 
- Người mang đến là ai?
 
- Một người da màu. Hắn bảo từ văn phòng của A.D.C
 
- Xin cám ơn cô em.
 
Nhận chìa khoá, anh chàng đi cầu thang lên thẳng tầng một. Thật nực cười.
 
Mới đây đã có quà. A.D.C trước giờ làm gì có thói quen này? Chúng định gài
 
bẫy mình chăng? Tay thủ sản khẩu súng bên trong áo khoác, anh chàng bước
 
nhè nhẹ đến cửa phòng. Vặn chiếc chìa khoá, anh chàng đá cánh cửa mở ra.
 
Căn phòng vẫn trống trơn. Không có gì thay đổi ngoài giỏ trái cây năm trên
 
bàn trang điểm. Khoá cửa lại, anh chàng bước tới.
 
Chà một giỏ trái cây to, trang hoàng khá đẹp với nào quýt, nho, chuối
 
hồng, mãng cầu xiêm, vú sữa, cùng một cặp quả xuân đào. Phía trên cột vào
 
hàng nơ là một phong thư trắng. Lấy nó ra, anh chàng giơ dưới ánh đèn. Bên
 
trong là một lá thư với dòng chữ: LỜI CHÚC MỪNG CỦA NGÀI THỐNG ĐỐC. Anh
 
chàng khịt mũi. Thằng nào ngu quá! Lão quyền Thống đốc và James như nước
 
với lửa. Làm gì có chuyện chúc mừng.
 
Nhìn sang mớ trái cây, James nghiêng người xuống, áp tai vào cố lắng nghe.
 
Không một tiếng động. Nắm lấy quai giỏ, anh chàng đổ nó xuống sàn. Từng
 
quả, từng quả một lăn khắp tấm thảm dừa. Cũng không có gì. Chẳng lẽ mình
 
đa nghi?
 
Nhặt một quả xuân đào lên, anh chàng thầm nghĩ: Gặp một tay háu ăn, chắc
 
hắn sẽ chọn quả này. Bước vào phòng tắm, anh chàng bỏ nó vô lavabo. Trở ra
 
phòng ngủ, James quan sát kỹ ổ khoá của tủ quần áo. Không thấy điều khả
 
nghi, anh chàng mở khoá.
 
Nhấc chiếc vali ra, anh chàng cúi người dò xét lớp bột tan đã rắc sẵn từ
 
buổi sáng quanh hai ổ khoá. Có vết vấy bẩn lan ra chung quanh. Ngay lỗ
 
khoá có vài đường trầy xước. Thế thì rõ rồi. Lợi dụng lúc anh chàng vắng
 
mặt, bọn chúng lẻn vào đây tìm kiếm. Bất quá chỉ lả mấy tên gà mờ để lại
 
dấu vết tùm lum. Thua xa cái đám tội phạm trước đây 007 từng tiễn về bên
 
kia thế giới.
 
Mở vali ra, anh chàng dựng nó lên. Ngay bốn dầu đinh đồng bình thường đính
 
vào đường viền trên góc phải của nắp, anh chàng dùng ngón tay nạy nó lên.
 
Giữ nó trong tay, anh chàng kéo ra một sợi dây thép dài cả thước rồi để
 
xuống sàn. Sợi dây này luồn xuyên qua các vòng thép nhỏ bên trong nắp vả
 
giũ cho vali luôn đóng lại. Tất cả vẫn còn nguyên. Tên đột nhập làm quái
 
gì mà biết mở cái vali.
 
Mở cái túi đồ nghề, anh chàng lấy ra một cái kính lúp đồ nghề của bọn thợ
 
bạc rồi trở vào phòng tắm. Bật cái đèn ngay tấm gương dùng để cạo râu,
 
xoay quả xuân đào vào bên dưới cái kính, James quan sát thật kỹ.
 
A, đây rồi. Ngay trên vết nứt của cái quả mọng nước, ngon lành kia lộ ra
 
một lổ kim. Mép của nó có vết nâu nhạt. Thật tinh vi. Nếu không dùng kính
 
lúp, có trời mới phát hiện được.
 
Bỏ nó xuống lavabo, anh chàng nhìn thẳng vào trong gương. Miệng nhép một
 
nụ cười thật dễ ghét. Chà, thế là lũ chúng nó nấp trong bóng tối đã tuyên
 
chiến. Vâng, tao chỉ chờ có thế. Trước sau gì chúng mày cũng phải ra mặt.
 
Một dòng máu nóng từ bên dưới chạy ngược lên trên theo sống lưng của anh
 
chàng. Dâng mãi ... dâng mãi ... Mặt James đỏ rần. Trực giác và kinh
 
nghiệm của 007 quả chẳng sai. Vụ án Strangsway và Truebloody đã có cơ sở.
 
Họ cùng bị giết. Còn đống hồ sơ hoá thành tro bụi. Có lẽ họ quá vội vàng
 
lần theo dấu vết. Và giờ đây khi anh chàng vào cuộc, ả Tano chó chết ngay
 
lập tức thông báo cho tên giấu mặt. Con ả trơ trẽn Annabel cùng với thằng
 
tài xế tắc xi hôm nọ bám sát theo sau anh chàng. Bọn chúng đã tìm ra được
 
khách sạn Blue Hills. Và bắt đầu KHAI HỎA.
 
Đến nước này, chẳng thể nào dừng lại được nữa. Chúng sẽ tiếp tục nã những
 
đòn chí mạng vào anh chàng. Nhưng thằng cầm đầu là ai? Ngón tay thằng chó
 
nào đang bóp cò? Manh mối giờ chỉ là con số không to tướng. Nhưng anh
 
chàng vẫn dám quả quyết, đằng sau khẩu súng ấy không ai khác hơn là thằng
 
chó No. Bãi chiến trường của cuộc chiến không khoan nhượng ấy dứt khoát
 
phải diễn ra trên hòn đảo Crab Key!
 
Trở ra phòng ngủ, anh chàng nhặt từng quả một rồi mang chúng vào nhà tắm
 
xem xét. Y như dự đoán, quả nào cũng đều bị tẫm độc. Luôn có lỗ kim nhỏ,
 
mép nâu nhạt xuất hiện không ở cuống thì ở vết nứt. Chà, đầu độc kiểu này
 
dư sức giết cả tiểu đội. Một mình 007 mà ăn thua gì.
 
Rung cái chuông gọi tên hầu phòng, anh chàng nhờ hắn kiếm giùm cái thùng
 
cạt tông, mấy tờ giấy và vài cọng dây. Bỏ đống trái cây vào thùng, anh
 
chàng cột lại cẩn thận. Sau đó , nhấc cái phôn lên, James gọi đến phủ
 
Thống đốc, yêu cầu gặp Pleydell-Smith.
 
- Vâng, có phải là Pleydell-Smith? Tôi là James Bond. Xin lỗi đã làm phiền
 
ông. Nhưng tôi có việc rất quan trọng. Ở Jamaica có phòng xét nghiệm nào
 
không? Thế thì quá tốt. Tôi có chút việc cần nhờ. Khi tôi chuyển cái thùng
 
đến ông, nhớ mang nó đến tay xét nghiệm viên. Đích thân ông đấy nhé. Đừng
 
giao cho ai khác. Vâng, tôi sẽ giãi thích sau. Khi nhận được kết quả xét
 
nghiệm, nhớ đánh điện báo cho tôi theo địa chỉ ở Beau Desert, cảng của
 
Morgan. Tôi sẽ ở đấy trong vài tuần tới. Vâng, có chút không tiện nói qua
 
điện thoại. Lần sau gặp, tôi sẽ giãi thích rõ hơn. Nhờ ông báo với tay ấy
 
làm xét nghiệm cẩn thận. Đừng nhìn sơ một chút là bảo không có gì. Nhận
 
được kết quả, ông sẽ hiểu hết mọi chuyện này. Cám ơn rất nhiều. Thật là
 
may mắn, sáng nay được gặp ông. Xin chào.
 
Đề tên lên cái thùng, anh chàng bưng nó xuống đường.
 
Vẫy một chiếc tắc xi, James trả tiền nhờ gã tài xế chuyển hộ đến phủ Thống
 
đốc. Lúc ấy đã 6 giờ chiều.
 
Trở lên phòng, anh chàng tắm nhanh, thay đồ rồi gọi chút rượu. Vừa định
 
bước ra lan can thì Quareel gọi điện.
 
- Mọi việc đều ổn cả, thưa Đại tá.
 
- Thế ư? Tuyệt lắm. Còn căn nhà thì sao?
 
- Thu xếp xong rồi, thưa ngài.
 
Rất tốt.
 
Chà, Quarrel thật được việc. Tất cả đâu vào đấy. Khoan khoái, anh chàng
 
bước ra lan can.
 
Ánh nắng chiều như còn chút luyến lưu, chợt le lói vài tia nhợt nhạt.
 
Ngoài kia, bóng tím thẫm phủ gần hết thị trấn và bến cảng. Xa xa trên bầu
 
trời, tiếng gầm rú của chiếc Super Constelltion càng lúc càng lớn dần.
 
Cũng chính nó, mới chiều hôm qua mang anh chàng đến đây.
 
Ôi, hai mươi bốn giờ qua thật là dài. Mọi việc dường như đã thay đổi kể từ
 
khi anh chàng bước ra khỏi máy bay. Mình có nên kể cho ông M nghe chuyện
 
này? Hay viết báo cáo về cho Chính phủ? Với Chính phủ thì không thể rồi.
 
Mình sẽ nói điều này với ông M? Tên No gởi cho mình giỏ trái cây tẩm độc
 
à? Có bằng chứng không? Điều gì bảo tên No gởi đến? James không có một dấu
 
vết xác thực. Tất cả chỉ là trực giác và suy luận.
 
Làm ăn thế này, ông M cười vào mũi mình. Rồi ông ta nhăn cái mặt lên, tay
 
bấm vào máy bộ đàm liên lạc với tay Chánh Văn Phòng:
 
- Này Bill. 007 lụt nghề rồi. Hắn quả quyết có gã nào đó dùng mấy quả
 
chuối tẫm độc định thủ tiêu hắn ta. Nghe sao giống mấy bộ phim Tàu. Có lẽ
 
nằm trong bệnh viện quá lâu ngày, hắn hoá rồ mất rồi. Tốt nhất, anh nên
 
gọi hắn về đi.
 
Nghĩ đến đây, bất giác anh chàng cười thầm. Lúc này vẫn chưa thích hợp.
 
Còn quá sớm. Đứng lên, anh chàng gọi thêm ly rượu. Vâng, phải chờ đợi thời
 
cơ. Kẻ thù vẫn chưa xuất hiện dù nó đã bắt đầu khai hoả. Bao năm lăn lộn
 
trong lòng địch, 007 chưa một lần thất bại. Giờ đây cũng thế. Không có
 
ngoại lệ.
 
Uống nốt ly rượu thứ hai, anh chàng bước xuống nhà ăn dùng bữa tối. Căn
 
phòng khá văng lặng. Vừa ăn, anh chàng vừa đọc quyển: Cẩm Nang Về West
 
Indies.
 
Mãi một lúc sau, James cảm thấy buồn ngủ. 9 giờ mấy rồi còn gì. Mệt mỏi,
 
anh chàng trở về phòng, chuẩn bị hành lý cho buổi sáng mai. Sắp xếp xong,
 
James phôn cho cô tiếp tân nhờ đánh thức vào lúc 5 giờ 30.
 
Gài cửa nẻo lại thật cẩn thận, anh chàng leo lên giường, năm nghiêng về
 
bên trái, tay phải chạm vào báng khẩu Walther PPK nhét dưới gối. Dù ban
 
đêm, trời thật oi ả, không một ngon gió. Đành chịu thôi. Không thể mở cửa
 
toang hoác. kẻ thù luôn giấu mặt và vô cùng xảo quyệt. Nó nấp trong bóng
 
tối rình mò từnh sơ hở một. Rồi anh chàng nhớ lại lời Pleydell-Smith ban
 
sáng: Bọn tạp chủng chuyện gì mà chẳng dám làm. Chỉ năm phút sau, anh
 
chàng đánh liền một giấc không mộng mị.
 
Mãi đến ba giờ sáng, anh chàng tỉnh giấc. Căn phòng thật im lặng. Không
 
một tiếng động. Từ phía xa xa, tiếng chó sủa vang vong lại. Rồi tiếp đó là
 
cả bầy chó hùa nhau inh ỏi. Chừng mươi phút sau, tiếng sủa dứt hẳn. Cả
 
không gian im phăng phắc. Ánh trăng xuyên qua khe cửa sổ chiếu những dãi
 
trắng đen vào căn phòng. James có cảm tưởng mình bị nhốt trong chiếc lồng.
 
Thật ngột ngạt khó thở. Anh chàng chợt băn khoăn. Hình như có cái gì đánh
 
thức mình dậy.
 
Vừa định bước khỏi giường, anh chàng cảm thấy có gì lạ lạ đang ngọ nguậy
 
ngay mắt cá phải. Rồi bây giờ, nó bò lên ống quyển. Kỳ vậy ta. Cảm giác
 
thật nhột. À, bàn chân của một loại côn trùng. Chà cái con này khá dài. Ít
 
nhất cũng gần hai tấc. Quái, giường của khách sạn bốn năm sao gì mà có côn
 
trùng. Chả lẽ nó bay tứ ngoài vào hay tên nào đó cắc cớ bỏ vào đây tính hù
 
dọa mình?
 
Rồi cái vật lạ đang bò dần dần.
 
Giờ anh chàng biết nó là gì rồi. Một con rết của miền nhiệt đới. Nhớ lại
 
hối chiều trong Viện Nghiên cứu Jamaica, anh chàng từng trông qua hình
 
dáng của nó. Người ta chứa chúng trong những hũ ngâm phoọc môn. Thân chúng
 
dẹp, màu nâu nhạt, dài gần hai tấc cũng vào cỡ con này. Dọc theo cái đầu u
 
lên là những cái càng chứa nọc độc. Thứ nọc độc dư sức giết người nếu nó
 
cắn phải động mạch.
 
Nó đang bò tới đầu gối. Cứ thế nó tiến dần lên bắp đùi. Anh chàng tự nhủ:
 
Dù chuyện gì có xảy ra, không được run sợ, không được cuống quýt lên. Phải
 
bình tĩnh đối phó.
 
Chà, chẳng lẽ nó muốn bò vào hạ bộ. Hai hàm răng anh chàng nghiến chặt
 
lại. Lạy Chúa, nó định cắn một phát vào đấy? Hay tính chun qua hậu môn?
 
Gai ốc đang nổi khắp người anh chàng. Ồ, may quá. Nó tiếp tục bò lên bụng.
 
Mấy cái chân của nó bám chặt vào da anh chàng.
 
Từng chút tứng chút một, nó tiến về phía quả tim. Chúa ơi, nó mà nổi khùng
 
lên cắn một cái, chỉ có nước đem đi chôn thôi. Sự đời thật khó lường. Một
 
007 oai hùng như thế, quả cảm như thế giờ thất thủ trước con rết cỏn con.
 
Kẻ thù thật xảo quyệt, đê tiện. Không còn nghi ngờ gì nữa, tên mang giỏ
 
trái cây bỏ nó vào đống mùng mền ban chiều.
 
Nó không dừng lại, bò tiếp lên ngay xương đòn của James. Ủa, hình như nó
 
dừng lại. Nó định làm gì? Cái đầu búa của nó ngọ nguậy qua lại. Có khoảng
 
trống nào giữa da mình và tấm mền không? Dùng góc mền túm lấy nó? Ồ không.
 
Không thể được.
 
Nó đang nằm ngay động mạch cổ. Có lẽ nó ngạc nhiên khi thấy phần động mạch
 
phình ra, tóp vào. Chừng như nó bị ngộp, muốn chun ra tìm chút không khí.
 
Rồi nó bò tiếp qua cổ, vào phần râu lởm chởm ngay cằm. Ôi lạy Chúa. Mấy
 
bàn chân của nó di chuyển về phía góc miệng.
 
Cảm giác nhột nhột. Ngửi cái mùi của nó, anh chàng muốn ói. Nhúc nhích,
 
nhúc nhích, nó leo qua cánh mũi ...
 
Anh chàng nhắm hai mắt lại. Sức nặng của con rết đang đè lên mí mắt phải.
 
Mình có thể giũ nó ra lúc này được không? Chả ăn thua. Hàng trăm chân bám
 
chặt vào da, làm sao rứt ra được?
 
Ậy, nó tiếp tục bò lên trán rồi dừng lại ngay đường chân tóc. Nó tính làm
 
gì? Ồ, nó bắt đầu liếm tứng giọt mồ hôi của anh chàng tươm ra ở trán. Ôi
 
lạy Chúa. Hình như nó khoái chí lắm. Nó đứng đó vài phút. Không thể làm gì
 
khác hơn, anh chàng đành phải chờ đợi. Chẳng bao lâu sau, nó bắt đầu cựa
 
quậy tiến vào mớ tóc bồng bềnh của anh chàng. Chẳng lẽ nó tính ngủ ở đấy?
 
Thật vô vọng, phải chờ nó bò xuống cái gối.
 
Một giây ... hai giây ... ba giây ...
 
Từng cái chân nhỏ di chuyển dần xuống lớp vải mềm mại của chiếc gối. Chừng
 
như có tiếng sột soạt nhè nhẹ. Khi những bản chân cuối cùng của con rết
 
rời khỏi người, anh chàng vùng dậy nhanh, nhào ra giữa phòng. Bật đèn lên,
 
anh chàng bước tới giường.
 
Chà, nó đang bò về một phía của chiếc gối. Bình tĩnh, James túm lấy gối
 
rồi quăng xuống giữa phòng. Quá bất ngờ, con rết lăn lăn lộn lộn trên
 
miếng thảm dừa. Nó định bò trốn đi. Chẳng chút chần chừ, anh chàng lượm
 
ngay chiếc giày nằm cạnh chân giường. Đập một cái, thân thể dài hai tấc
 
của con rết độc nát như tương. Máu mủ phọt ra tanh ói. Bỏ chiếc giày
 
xuống, anh chàng chạy ngay vào nhà tắm. Phải tắm cho thật sạch. Nhớt dãi
 
của nó nhả ra khắp người anh chàng quá ghê tỡm. Đúng là xúi quẩy.
 
 
 
 
 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top