Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 257 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

 

Chương 1
 
NGHE RÕ RỒI … RÕ RỒI …
 
Những tia nắng cuối cùng vướng vào gờ đá nhấp nhô của dãy núi Blue rồi đua nhau phủ bóng trên con đường Richmond. Lúc ấy đã 6 giờ chiều. Một khoảng tím thẫm che khuất con đường rộng lớn vắng vẻ. Chỉ có tiếng rì rào của bầy dế ven bãi cỏ. Đám ểnh ương cũng ào ào bắt chước tạo nên một điệp khúc thiên nhiên.
 
Dọc hai bên đường, những căn nhà đồ sộ xây theo kiểu củ nằm chường ra, kiêu kỳ. Ấy là cơ ngơi của đám đại gia tai to, mặt bự: các giám đốc ngân hàng, những viên chức cao cấp, thương gia hàng đầu của cảng Kingston.
 
Mới 5 giờ chiều họ đã về nhà. Đấu láo vài ba câu với đám bà xã diệu đàng, thay đồ xong, nửa tiếng sau, họ lại ra xe đến các buổi party. Làn khói thoát ra từ những chiếc xe sang trọng lẫn vào trong không khí sực nức mùi hoa nhài. Cảnh vật bình yên, thơ mộng đến thế!
 
Ở Jamaica, ai chẳng biết, Richmond là con đường tuyệt vời nhất. Tuyệt vời cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bạn có thể tìm thấy ở đó hình dáng của đại lộ Park của NewYork, KensingtonPalaceGarden ở London hay con đường D’Iena tại Paris. Vẻ hào nhoáng, xa hoa của nó thật khác xa phần còn lại của Kingston: nghèo nàn, bẩn thỉu, đất đá ngổn ngang. Cuộc sống dân nghèo luôn là thế. Kiếm miếng cơm còn không đủ, nói chi đến chuyện nhà cửa.
 
Chỉ nhìn khoảng sân trước của mấy ngôi nhà trên đường Richmond với một, hai bãi cỏ rộng hơn nửa mẫu đầy những kỳ hoa dị thảo đến từ mũi Hope, bạn không khỏi giật mình.Chưa hết, xa hơn một chút về phía ngã tư, ngay trên đĩnh đồi là dinh thự của quan thống đốc toàn quyền và ngài Tổng tư lệnh quân đội của Jamaica.
 
Xuôi về phía Đông giao điểm của con đường số 1 và Richmond là một căn nhà hai tầng đồ sộ khác. Ngay cổng vào, một lối đi đầy sỏi trứng, hai bên có những hàng cột chạm trổ tinh vi vươn mình qua bãi cỏ rồi chạy dài đến những khoảng sân tennis phía sau. Dọc theo một bên là hàng hiên sơn trắng hai đầu đều có cửa to. Ngoài sân, chiều nào cũng vậy, mấy vòi nước hoạt động hết công xuất. Vừa tưới cây, chúng vừa tạo độ ẩm cho bầu không khí oi ả của miền nhiệt đới.
 
Căn nhà - ồ, không phải, gọi là toà lâu đài mới đúng -, vốn là thánh địa của đám dân đen ở Caribê. Không khác gì Mecca trong mắt dân Hồi giáo. Hơn năm mươi năm qua với tên gọi là Câu lạc bộ của Nữ hoàng, nó nổi tiếng với bao nhiêu huyền thoại. Đám doanh nhân ở Jamaica cố nài nỉ xin một chân hội viên. Ậy , cái bọn thừa tiền muốn mua chút danh phận đã lầm to. Có nằm mơ cũng chẳng thấy được. Trơ mặt cùng với thời gian, Câu lạc bộ của Nữ hoàng cứ sừng
 
sững ra đó với những định chế bất di bất dịch. Bọn lái buôn đứng từ xa mà thèm nhỏ dãi. Tìm đâu được chỗ nào trên quần đảo Caribê một nơi phục vụ tốt đến như thế. Chà, cái đám nhân viên có bằng cấp hẳn hoi, vâng dạ đúng khuôn phép, khác xa đám tiếp viên bát nháo của các nhà hàng. Còn nửa, tài nấu của tay bếp trưởng quả là số dách. Muốn dùng gì có ngay thứ đó. Thật hợp khẩu vị. Không chút chê trách. Còn cái hầm rượu thì chứa toàn những loại thượng hạng làm đám con buôn thèm thuồng mà không thể thốt nên lời.
 
 
 
Vâng, chiều nào cũng thế, vào lúc 5 giờ, một hàng xe của đám quý tộc đậu kín bên ngoài câu lạc bộ. Đám quan to đầu cứ hẹn nhau chơi bài bridge cho đến nửa đêm. Nhìn vào bảng số xe, bạn có thể đoán ai là chủ nhân của những chiếc xe bóng loáng, sang trọng. Đứng đầu hàng là con ngựa sắt của ngài Thiếu tướng chỉ huy trưởng quân đội Caribê. Kế tiếp là chiếc xe của viên Luật sư công tố hàng đầu của Kingston. Vị trí thứ ba dành cho ngài Giáo sư toán học nổi tiếng của trường đại học Kingston. Còn cuối dãy là chiếc Sunbeam Alpine màu đen của Viên thanh tra địa phương John Strangsway. Ông ta còn là đại diện chính thức của Cục Phản gián của vương quốc Anh tại vùng biển này.
 
Chiều nay có gì khác lạ. Trước 6 giờ 15 một chút, chả biết từ đâu có ba gã ăn mày mù loà xuất hiện ở ngay ngã tư. Lê từng bước trên lề, chúng hướng về phía hàng xe đang đậu. Chà, ăn xin sao mà to con thấy sợ. Nom rõ là những gã châu Phi lai Tàu. Kể cũng lạ, đám tạp chủng thế này đâu có dễ gì kiếm trên vùng biển Caribê.
 
Đầu cúi hẳn, tay gõ dây gậy trắng xuống lề đường, chúng đi thành hàng. Tay gã phía sau đặt lên vai gã đằng trước. gã đi đầu mang kính xanh thẫm dẫn đường. Hai gã còn lại, đôi mắt nhắm nghiền. Quần áo rách nát, chiếc kết trên đầu dơ bẩn, chúng lê từng bước chân. Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc … Tiếng gậy gõ đều trong chùm sáng nhá nhem của buổi chiều tà. Từng bước rồi từng bước, chúng tiến về phía hàng xe. Không một tiếng van xin, nài nỉ. Bọn chúng cứ im lặng. Không thể tin được. Đám ăn xin, ăn mày à, đâu có thiếu gì ở cảng Kingston. Nhưng chúng lại xuất hiện tại con đường quý tộc ngay gần cổng của Câu lạc bộ quý tộc. Chẳng thể hiểu nổi.
 
Tinh mắt một chút, bạn thấy trong phòng chơi bài, bàn tay sạm nắng của Strangsway vươn tới một cổ bài màu xanh, rút liền bốn lá.
 
Bepp!
 
Tiếng va chạm nhẹ khi ông ta quảng chúng xuống mặt bàn.
 
- Quân chủ 100. Bên dưới 90.
 
Vừa nói xong ông ta nhìn vào đồng hồ rồi đứng lên:
 
- Hai mươi phút sau tôi sẻ trở lại. Bill, tới phiên anh chia bài rồi đó. Gọi cái gì uống đi. Kêu cho tôi thứ dùng thường ngày. Lúc tôi vắng mặt xin quý vị đừng có chơi gian. Tôi làm dấu rồi đấy.
 
Viên Thiếu tướng tư lệnh, Bill Templar, cười khẩy. Gõ vào cái chuông bên cạnh, Bill cào mớ bài về phía mình:
 
- Nhanh chân lên, ông bạn mắc dịch. Ngày nào cũng vậy, khi người ta đang hên, ông bạn cứ nhấc cái mông đi.
 
Bị cằn nhằn thế, chứ Strangsway có nghe gì đâu. Lúc này, chân ông ta đã bước ra khỏi cửa. Khi tên phục vụ chạy tới, ba người còn lại kêu thức uống cùng ly whisky cho Strangsway.
 
Vâng, cảnh tượng này như một thông lệ xảy ra vào mỗi buổi chiều, đúng 6 giờ 15. Mưa gió cũng mặc. Cuộc chơi dở dang cũng kệ. Strangsway phải trở về văn phòng gọi một cú phôn.. Tuy bực mình, nhưng ba người kia chẳng ai hỏi lý do. Ông ta cũng không màng giải thích. Ai nấy đều ngầm hiểu: CÔNG VIỆC. Thứ công việc bí mật của Cục Phản gián chớ phải chuyện đùa đâu. Phiền nhiễu thì chắc rồi.. Đành phải chịu thôi. Strangsway vốn là linh hồn của đội chơi bốn người. Tánh tình ông ta lại hào phóng. Chầu rượu này mặc nhiên ông ta trả tiền. Không thèm lời qua tiếng lại. Thiếu một tay, chả lẻ đám quý tộc vơ đại tên lái buôn nào đó cho đủ tụ?
 
Vùa nốc mấy ly rượu tên bồi mang tới, họ bắt đầu tán dóc. Thế Strangsway làm gì vào giờ này? Có đúng là gọi một cú phôn? Gọi cho ai thế?
 
Sự thật đây là thời khắc quan trọng nhất trong ngày của ông ta. Thời gian bắt liên lạc với máy điện báo trong toà nhà ở công viên Regent, London, tổng hành dinh của Cục Phản gián. Vâng, chính xác vào 6 giờ 30 giờ địa phương, Strangsway phải gởi báo cáo về cho London và nhận chỉ thị. Có việc gì bận, như đau nằm liệt giường hay còn kẹt trên các hòn đảo lân cận, ông ta phải báo cáo vào ngày hôm trước. Quy định là thế. Nếu 6 giờ 30, cú điện báo với London không được thực hiện, báo động Xanh lập tức xuất hiện vào lúc 7 giờ. Nửa tiếng sau, là báo động Đỏ. Cuối cùng, nếu vẫn không có tín hiệu từ Kingston, tình trạng khẩn cấp mặc nhiên được ban bố. Cơ quan III, văn phòng chủ quản của Strangsway lập tức vào cuộc, truy tìm nguyên nhân. Chu trình điện báo của London trên khắp thế giới là một vòng tròn khép kín, không chút sơ hở. Chỉ chểnh mảng một chút, tất cả đều đảo lộn. Strangsway thừa biết điều này. Chưa bao giờ báo động Xanh xảy ra trong cuộc đời công cụ của ông ta, nói chi đến báo động Đỏ. Công việc lúc nào cũng phải đặt lên hàng đầu. Chơi thì lúc nào chả được.
 
***
 
Nguyên tắc vốn cứng ngắc không thể nào phá vỡ: 6 giờ 15, Strangsway rời câu lạc bộ. 6 giờ 25, ông ta lái xe tới ngay ngôi nhà gỗ dưới chân núi Blue, mặt nhìn ra biển. Vài phút sau đó, ông ta bước vào phòng. Ở đấy, cô nàng Mary- Trueblood, thư ký riêng đang sẵn sang phát tín hiệu liên lạc với London.
 
3
 
Bạn chớ xem thường cô nàng.Với danh nghĩa là thư ký riêng nhưng Trueblood là nhân vật thứ hai đầy quyền lực của đám phản gián ở Caribê, một cựu thủ trưởng của W.R.N.S.
 
Gắn ống nghe vào tai, Trueblood phát đi mật mã của Strangsway, WXN 14 mêga xích. Chồng giấy ghi tốc ký nằm sẳn trên đùi cô nàng. Ngồi xuống kế bên, ông ta đưa tay nhặt ống nghe. Lúc ấy, đồng hồ báo 6 giờ 28. Cả hai cùng im lặng. Họ đang chờ mật mã WWW từ London. Chiều nào cũng thế. Thói quen như một thứ kỷ luật thép, không thể thay đổi.
 
Liệu Strangsway có từng lo xa một chút hay không? Tính chính xác trong công việc là điều kiện phải có. Nhưng nếu kẻ thù nắm rõ được quy luật này, quả là một nguy hiểm chết người đang chờ đón ông ta.
 
***
 
Đi dọc theo hành lang lót gỗ cẩn của Câu lạc bộ, viên Phân cục trưởng Strangsway với dáng người cao, thân hình rắn chắc, một miếng băng đen phủ ngang mắt phải, chiếc mũi khoằm, đội trưởng đội phá cầu trong thời kỳ chiến tranh, đẩy cái cửa lưới rồi bước ra lối đi. Tâm hồn ông ta thật thanh thản. Không khí về đêm sao mà mát mẻ đến thế . Hên thật, rút một cái ra ba con gà. Đám chiến hửu nhìn ngẩn tò te. Chỉ có một điều làm ông ta hơi lo lắng. Một vụ việc khá phức tạp hai tuần trước đó ông M chỉ thị cho Strangsway. Cũng kỳ. Thông tin từ phía London không cụ thể mấy. Kể ra, vụ việc tạm ổn. Strangsway đã lần ra một vài đầu mối. Dù không quan trọng cho lắm nhưng có vẫn còn hơn không. Tiếp cận với đám cộng đồng người Hoa bước đầu đã có kết quả. Một vụ việc kỳ lạ. Ông ta nghĩ mãi mà không ra. Khẽ nhún vai, ông ta bước ra con đường Richmond. Hoang tưởng với nghề nghiệp như Strangsway là một kẻ thù. Giãi pháp vốn có nhưng chả mấy thuyết phục. Thực chất cái đám người Hoa này là gì? Có năng lực đội đá vá trời hay chỉ là một bọn tâm thần phân liệt?
 
Kìa, bóng dáng của ba gã mù loà làm ông ta chú ý.
 
Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc … Lốc cốc …
 
Chúng vẫn lê bước chân chậm về phía Strangsway. Khoảng cách cỡ hai mươi thước. Ông ta nhẩm tính: bọn chúng sẻ vượt qua chừng một, hai giây trước khi mình vào xe. Thò tay vào túi, ông ta lấy ra đồng florin.
 
Lúc này, ông ta đang đứng ngang hàng với ba gã ăn mày. Quái, bọn châu Phi lai Tàu! Thật kỳ lạ. Nhưng ông ta chẳng thừa thì giờ suy nghĩ về điều này. Strangsway vung tay ra. Kẻng! Đồng florin rơi vào cái lon thiếc.
 
- Xin cám ơn ngài – Gã đi đầu lên tiếng
 
- Xin cám ơn ngài – Hai gã sau lặp lại
 
Tay Strangsway đang cầm chiếc chìa khoá xe. Đột nhiên, ông ta có linh cảm chẳng lành, Rồi những cây gậy thôi gõ xuống lề đường.
 
Hoàn toàn trống vắng.
 
Vẻ im lặng đáng sợ.
 
Nhưng, đã quá trễ.
 
Khi ông ta vượt qua thằng cuối cùng, ba tên cùng xoay người lại. Hai thằng phía sau lùi đi một bước để tạo khoảng cách nã đạn. Chúng rút nhanh ba khẩu súng lục có gắn hệ thống hãm thanh từ cái túi da trong người. Động tác thật chuyên nghiệp, ba tên sát thủ bắn liên tiếp vào ba vị trí khác nhau trên lưng ông ta: một viên vào giữa hai vai, một ngay phần eo, một trúng vào xương chậu. Rít trong không khí ba viên đạn phóng ra cùng lúc.
 
HỰ Ư Ư …
 
Cả thân hình ông ta đổ nhào về phía trước. Hệt như trúng phải một cú đá quá mạng. Rồi Strangsway nằm gục ngay tại chỗ. Chút bụi đất bốc lên. Lúc ấy đúng 6 giờ 15.
 
RÉTTTTTT …
 
Một chiếc xe tang dơ dáy, bốn góc trên mui có cắm mấy chùm lông đen từ ngã tư chạy ào tới chỗ ba tên sát thủ rồi thắng lại. Bánh xe cạ lên mặt đường nghe khủng khiếp.
 
Chẳng chần chừ một giây, hai tên khiêng xác của Strangsway lên. Còn tên kia mở vội cửa sau của chiếc xe tang. Ồ, một cái hòm loại thường để sẵn trong xe. Mở nắp hòm ra, chúng đặt ông ta vào trong đó rồi đậy lại. Sau khi cánh cửa sau đóng lại, cả ba ngồi xuống mấy chiếc ghế ngay góc. Vứt đám gậy sang bên, khoác mấy chiếc áo vải len che phủ bộ quần áo rách rưới, chúng thay mấy cái kết dơ bẩn bằng những cái mũ nồi cao. Vẻ mặt tên lái xe, một thằng tạp chủng khác, lo lắng. Mông nó xoay qua xoay lại trên ghế.
 
Nào, đi thôi – Tên sát thủ to con nhất trong bọn lên tiếng.
 
Nhìn vào cái đồng hồ dạ quang, nó thấy lúc đó 6 giờ 20. Chỉ còn ba phút. Không được trễ hơn.
 
Đánh một vòng chử U, chiếc xe tang nhắm thẳng về phía ngã tư. Quẹo phải, nó chạy từ từ với tốc độ gần 50 cây số/giờ ra xa lộ trải đầy đá dăm, hướng về phía chân đồi.
 
Bọn sát thủ trên xe làm bộ đau buồn. Mặt chúng xìu xuống như đưa tiễn người quá cố. Lưng thẳng lên, chúng đưa một cánh tay bắt chéo thành hình chữ thập trước ngực. Thê lương. Ảm đạm. Ai nhìn thấy mà không mủi lòng.
 
***
 
WXN gọi WWW … WXN gọi WWW … WXN …WXN …
 
Ngón tay giữa trên bàn tay phải của Trueblood gõ nhẹ lên bàn phím. Rồi cô nhìn vào đồng hồ. 6 giờ 28 phút. Kỳ thật! Ông ta trễ mất một phút. Rồi cô ta có vẻ mơ màng.
 
***
 
Có lẽ giờ này sếp mình vừa mới cho xe vào cổng. Một phút nữa, bước chân ông ta sẽ vội vã trên hành lang. Rồi tiếng mở khoá nhẹ, bóng dáng cao cao của Strangsway lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Vừa lấy cái ống nghe, vừa thì thầm:
 
- Xin lỗi, Trueblood. Chiếc xe của tôi không chịu nổ máy.
 
Mà cũng có thể là:
 
- Ồ, xin lỗi Trueblood. Đám giao thông chặn xe tôi lại. Ngay khúc đường Tree. Giờ chắc bọn ấy biết chủ nhân của chiếc xe là ai rồi.
 
Chẳng chần chừ một giây, Trueblood bắt đầu liên lạc… WXN gọi WWW … WXN gọi WWW …
 
***
 
Trueblood điều chỉnh nút quay số. 6 giờ 29 phút. Cô nàng bắt đầu lo lắng. Vài giây nữa, tín hiệu của London tải đến. Ồ, cô nàng bối rối. Nếu sếp đến không kịp lúc, cô nàng không biết xử trí ra sao. Chả lẽ mình mạo danh ông ta? Thế còn chết dở. Thật sự vô ích và quá nguy hiểm. Hệ thống an ninh trên sóng vô tuyến thừa sức phát hiện điều này. Mỗi nhân viên đều có một mật mã riêng. Làm sao gian lận được? Điều này Trueblood quá rõ.
 
Với bề dày kinh nghiệm hơn 5 năm trong Cục Cảnh sát của Caribê, cô ta quá biết mỗi mật mã có chuỗi tín hiệu chính xác. Nếu điện báo viên báo sai, mối liên lạc tự động bị cắt. Đó là trường hợp bảo vệ tối thiểu cho quá trình chuyển tải thông tin tránh rơi vào tay kẻ thù. Trong trường hợp nhân viên bị địch bắt, bị tra tấn thậm tệ, họ chỉ cầm thêm vài tín hiệu lạ trong chuỗi mật mã. Đầu kia ở London biết ngay chuyện gì đã xảy ra.
 
Ngay lúc này, tín hiệu từ Cục Phản gián tải đến. Trueblood nhìn vào đồng hồ: 6 giờ 30. Chà, tình hình thật sự căng thẳng rồi. Hình như có tiếng bước chân ngoài phía hành lang. Ôi, lạy Chúa, một giây nữa sếp sẽ đến. Không để đám London phát hiện, cô ta quyết định liên lạc.
 
WWW gọi WXN … WWW gọi WXN … Ông có nghe rõ không? … Có nghe tôi nói rõ không?
 
Tín hiệu từ phía London tải đến bắt liên lạc với Phân Cục ở Jamaica. Làn sóng rất mạnh. Tiếng tè tè vang dậy.
 
Tít tít tè tè …Tít tít tè tè … Tít tít tè tè … Tít tít tè tè …
 
Ngoài cửa, tiếng bước chân dừng lại. Như trút được gánh nặng, Trueblood đáp lại:
 
- Nghe rõ rồi … Nghe rõ rồi … Rất rõ …
 
ẦMMM!
 
Một tiếng động thật to phát ra từ phía cửa. Cái gì đó đụng trúng mắt cá Mary. Nhìn xuống, cô nàng thấy cái ống khoá. Ngạc nhiên, cô nàng quay người lại.
 
Bóng dáng một gã đàn ông đứng ngay ngạch cửa. Chẳng phải Strangsway. Một gã da đen to kềnh càng, tay thủ cây súng có gắn hệ thống hãm thanh. Nước da nó vàng sậm, đôi mắt xếch, ti hí.
 
AHHHHH …
 
Cô nàng bắt đầu la, vẻ mặt hốt hoảng.
 
Cười khẩy, nó nâng cây súng lên, bắn ba phát vào ngực trái Mary.
 
ĐỪNGGGG ...
 
Vừa kịp la một tiếng, người cô ta sụp ngay xuống chiếc ghế gần đó.
 
RẦMMM!
 
Cái ống nghe vuột ra, rớt xuống sàn.
 
Tít tít tè tè …Tít tít tè tè …
 
Tín hiệu từ London phát thêm một giây rồi ngừng lại. Không còn nghi ngờ gì nữa. Hệ thống cảnh báo trên vô tuyến biết chuyện chẳng lành xảy ra với WXN.
 
Tên sát thủ quay lưng ra. Chừng một phút sau, nó trở lại, trên tay cầm một cái hộp có dán nhãn vàng: Thuốc Súng và một cái bao đựng đường có hàng chử Tate & Lyle.
 
Đặt cái hộp xuống sàn, nó bước tới chỗ Trueblood. Cố tròng cái bao qua đầu cô ta, nó kéo cả cái xác vào trong bao. Không đủ chỗ, hai chân nạn nhân thò ra ngoài. Cúi xuống, nó đẩy mạnh cho chúng lọt vào trong. Khệnh khạng, nó lôi cái bao qua cửa , về phía hành lang.
 
Vài phút sau, nó quay trở lại. Nơi một góc phòng, cái tủ sắt dang mở ra. Cuốn ký hiệu điện báo mở sẵn trên bàn. Ném hết giấy tờ, tài liệu trong tủ ra giữa phòng, nó giựt hết mấy cái màn cửa xuống cho vào đống giấy nằm lăn lóc trên sàn. Xong, nó quay lại đá hai ba cái ghế gần đó vào mớ hỗn độn. Mở cái hộp ra, nó đổ một mớ thuốc súng lên rồi châm lửa đốt. Bước ra hành lang, nó đốt tiếp mấy chỗ bên ngoài.
 
Tẹt tẹt tẹt … Tẹt tẹt tẹt … Tẹt tẹt tẹt …
 
Mớ bùi nhùi bắt lửa rất nhanh, liếm vào lớp gỗ tấm. Tên sát thủ tiến vế phía cửa trước, mở nó ra để thông gió. Nhìn qua hàng rào dâm bụt, nó thấy dáng chiếc xe tang đằng xa.
 
Không gian thật im lặng. Chỉ có tiếng rì rào của lũ dế trong bụi. Tiếng nổ máy nho nhỏ của chiếc xe tang từ xa vọng lại. Bước lui ra hành lang, nó vác bao đường lên vai rồi đi ra đường. Sau khi cho cái xác của Trueblood nẳm ngay trên Strangsway trong chiếc hòm, tên sát thủ ra hiệu cho thằng tài xế. Ngay khi ngọn lửa bùng lên liếm vào cửa sổ, chiếc xe tang vọt nhanh theo xa lộ, vế phía hồ nước ngọt Mona.
 
Bốn mươi lăm phút sau, cái quan tài chứa hai mạng người vùi sâu dưới ba tấc đất. Vâng, bốn mươi lăm phút định mệnh. Toàn bộ nhân viên cao cấp cùng đống hồ sơ của Phân Cục Phản gián tại vùng biển Caribê hoàn toàn mất dạng.
 
 
 
 
Chương 2
 
LỰA CHỌN VŨ KHÍ
 
Ba tuần sau, London bước vào tháng Ba. Ngay ngày đầu tiên, thời tiết cực kỳ khắc nghiệt. Bắt đầu là mưa đá, mưa tuyết. Rồi cơn bão số 8 quét ngang thành phố. Bàn dân thiên hạ khốn khổ vì tai ương của lão trời già. Có chuyện bước ra đường, mọi người trùm kín áo mưa. Gió cứ thổi đến từng cơn đau buốt da thịt, nứt nẻ mặt mày. Ôi lạy Chúa. Ai nấy đều cầu mong bão táp mau qua.
 
Ngay cả ông M, người quá dạn dày với sương gió, nắng mưa cũng cảm thấy khó chịu. Khi chiếc xe Silver Wraith Rolls màu đen, cũ kỹ dừng lại trước cổng ngôi nhà cao tại công viên Regent, ông ta bước ra. Mưa quất vào mặt ông từng hồi một.
 
Chả thèm để ý, ông M bước đến cửa ngay chỗ tay tài xế.
 
- Smith, ngày hôm nay tôi không cần xe nữa. Cứ về nhà đi. Tối nay, tôi về bằng xe điện ngầm. Thời tiết thế này chạy nhông ngoài đường không thích hợp.
 
Anh chàng Stoker Smith mỉm cười cám ơn:
 
- Vâng, thưa ngài.
 
Rồi ông M bước từng bước vững chãi qua cổng, đi vào ngôi nhà. Ông ta lúc nào cũng thế. Luôn quan tâm đến nhân viên cấp dưới. Bao nhiêu năm qua vẫn vậy. Không chút hách dịch, cửa quyền.
 
Gạt mạnh cần số, Stoker nhấn ga cho chiếc xe lướt trong làn mưa tuyết. Dùng thang máy đi lên lầu 8, ông M bước dọc theo hành lang trải thảm dày về phía văn phòng của ông ta. Sau khi đóng cửa lại, ông máng áo khoác và khăn quàng cổ lên móc. Rút vội cái khăn tay to, ông lau mặt. Ông M là thế đấy. Chả bao gờ biểu lộ cảm xúc ra ngoài. Luôn vũng chãi, trầm tĩnh.
 
Ngồi xuống chiếc ghế ngay bàn làm việc, ông chồm người về chiếc máy bộ đàm. Nhấn một nút liên lạc, giọng ông trầm trầm:
 
- Này cô Moneypenny, mang tài liệu đến cho tôi rồi bắt liên lạc với ngài James Molony. Có lẽ ông ta đang ở bệnh viện St. Mary. Báo với ông Chánh văn phòng, nửa tiếng sau tôi cần gặp 007. Nhớ đem hồ sơ của Strangsway đến.
 
Đợi cho giọng của Moneypenny đáp lại, ông mới thôi nhấn nút. Tựa lưng vào ghế, tay với lấy cái tẩu, ông bắt đầu nhồi thuốc vào. Vẻ mặt ông dường như đăm chiêu. Vài phút sau, Moneypenny mang chồng hồ sơ bước vào.
 
Vài báo cáo ngang chữ khẩn cấp. Ông ta thậm chí chẳng thèm nhìn lên. Cũng chả quan tâm đến chồng giấy tờ trước mặt. Nếu thực sự quan trọng, hồi khuya này họ đã phôn tới rồi. Một lát sau, ngọn đèn vàng trên máy bộ đàm sang nhấp nháy. Đưa tay lấy ống nghe đen ở hàng thứ tư, ông nói ngay:
 
- Có phải là ông James Molony? Ông có thể nói chuỵên với tôi khoảng chừng năm phút?
 
- Không, sáu phút, thưa ngài. Ngài muốn tôi cấp giấy chứng nhận cho một nhân viên cao cấp của Nữ Hoàng? - Từ đầu dây bên kia giọng của ông bác sĩ tâm thần nổi tiếng vui vẻ đáp lại.
 
Ông M cau mày khó chịu:
 
- Không phải thế. Tôi muốn hỏi chuyện một nhân viên của tôi. Đây là một đường dây công cộng. Không tiện nhắc tên anh ta. Có lẽ ông vừa mới cho anh ta xuất viện vào ngày hôm qua. Không biết anh ta có đủ sức khoẻ để tiếp tục công việc?
 
Đầu dây bên kia ngừng một chút. Rồi giọng ông James Molony vang lên Đúng theo kiểu bác sĩ đang đánh giá bệnh nhân:
 
- Thể trạng nói chung tốt. Vết thương ở chân đã hồi phục. Không thấy có tác dụng phụ nào.
 
Rồi ông ta ngừng lại một chút.
 
- Này ông bạn. Có một điều tôi cần báo cho ông biết. Anh ta cần nghĩ ngơi đôi chút. Mà sao ông quay đám nhân viên căng thế? Theo tôi, anh ta phải làm công việc nhẹ nhàng hơn. Dường như mấy năm gần đây anh chàng thường xuyên bị sốc. Thần kinh luôn căng thẳng.
 
Ông M đáp lại cộc lốc:
 
- Đành phải chịu thôi. Công việc là thế đó. Còn phải để anh ta quyết định nữa. Anh ta không phải bị thương lần đầu. Theo lời ông nói, tình trạng sức khoẻ của anh ta rất tốt, đúng không? Cũng may, anh ta không lâm vào tình trạng tồi tệ như mấy nhân viên trước kia.
 
- Ồ, ông bạn của tôi. Về phương diện y học, đau đớn là điều rất kỳ lạ. Chúng ta vẫn chưa hiểu hết về điều này. Nỗi đau của một phụ nữ trong thời gian mang thai hoàn toàn khác hẳn với một người chịu đau trong bão thận. Mà cũng may, cơ thể con người có thể nhanh chóng thích ứng với mọi cơn đau. Ông M à, nhân viên của ông đang đau đớn thật sự đấy. Đừng nghĩ là không tìm thấy tổn thương thực thể …
 
- Vâng, tôi hiểu.
 
Ông M thầm nghĩ: James đã phạm một sai lầm nghiêm trọng. Và đó là cái giá mà anh chàng phải trả. Đối diện với kẻ thù, không thể nào lơ đễnh. Cái nghề này vốn thế.
 
Vẻ mặt ông cau có. Trước giờ, ông có thích ba cái bài giảng dài hơi đâu. Dù là lời nhận xét của một bác sĩ hàng đầu thế giới về tâm thần học cũng vậy. Đối xử với nhân viên như thế nào, ông có thừa kinh nghiệm.
 
Ông M nói tiếp:
 
- Ông đã từng nghe đến bác sĩ Steincrohn, Peter Steincrohn chưa?
 
- Chưa.
 
- Đó là một bác sĩ người Mỹ. Ông ấy đã từng viết một quyển sách bàn đến việc cơ thể con người có khả năng chịu đựng tối đa bao nhiêu hình phạt. Bên Washington có gởi tặng cho thư viện của chúng ta. Ông ta có trình bày cả một danh sách thí nghệm trên một người ở thể trạng bình thường. Tôi có sao chép lai. Ông có muốn nghe qua không?
 
Đưa tay vào túi áo khoác, ông M lấy ra một xấp giấy. Lật từng tờ ra , ông tìm đúng mẩu giấy.
 
- Này, ngài James Molony. Ngài còn giử máy chứ. Vâng, danh sách đây rồi. Túi mật, lá lách, hạch amiđan, ruột thừa, một quả thận, một lá phổi, hai lít máu, hai phần năm lá gan, hầu hết phần bụng, một thước ruột, một nửa não.
 
Đầu dây bên kia vẫn im lặng. Ông M nói tiếp:
 
- Ông có ý kiến gì không?
 
Có tiếng càu nhàu miễn cưỡng của ông bác sĩ:
 
- Vâng. Tôi vẫn không hiểu. Sao ông ta không thêm vào đấy một cánh tay hay một cái chân. Cả hai thứ cũng được. Mà này, ông bạn. Ông muốn chứng minh điều gì?
 
Ông M phát cười to:
 
- Không chứng minh gì hết. Danh sách làm tôi tò mò chút đỉnh thôi. Xem chừng vết thương trên người nhân viên của tôi thua xa nhiều lần với thí nghiệm của bác sĩ Steincrohn. Thôi đừng tranh cãi về điều này. Tôi định đưa anh ta đến một nơi có không khí trong lành. Jamaica chẳng hạn.
 
Nhìn ra cửa sổ nước chảy ròng ròng rồi ông M nói tiếp:
 
- Có lẽ đó là một kỳ nghỉ dưới ánh mặt trời. Còn tốt hơn chịu mưa gió ở đây. Cùng đi với anh ta có một cô nữ nhân viên khác. Tình bạn có thể làm cho mọi vết thương sớm bình phục, đúng không?
 
Thế thì được đấy. Tôi vẫn thầm ước mong như thế.
 
Rồi giọng bác sĩ hơi lưỡng lự:
 
- Đừng nghĩ tôi muốn xía vô chuyện nội bộ của ông. Lòng can đảm của con người có giới hạn. Tôi biết công việc của các ông khác với người thường. Bất cứ điềư gì lạm dụng quá cũng không tốt. Chúng ta vẫn chưa thể đo lường hết khả năng chịu đựng của con người. Có thể nhân viên của ông đã trải qua quá nhiều nguy hiểm. Cần cho anh ta thời gian nghĩ ngơi. Ông có nhớ mấy lời nhận xét của Morgan?
 
- Không.
 
- Theo Morgan, lòng can đảm cũng giống như tiền bạc. Xài nhiều quá sẽ cạn kiệt. Tôi đồng ý điều này. Kể từ trước chiến tranh, nhân viên của ông đã tham gia quá nhiều điệp vụ nguy hiểm. Không phải anh ta không đủ năng lực. Nhưng con người luôn có giới hạn.
 
 
 
Ông M cảm thấy chừng như buổi nói chuyện đã quá đủ:
 
- Vâng, tôi hiểu. Tôi chỉ định gởi anh ta ra nước ngoài. Một kỳ nghỉ ở Jamaica. Đừng lo lắng thái quá ngài James Molony à. Tôi sẽ lưu ý chuyện này. Ông có tìm ra thứ thuốc bọn giặc cái tiêm vào người anh ta?
 
- Mãi đến ngày hôm qua mới có kết quả.
 
Ông bác sĩ cảm thấy mừng. Dẫu sao câu chuyện không đến nỗi căng thẳng. Ông già M này hắc ám lắm. Chả biết trình bày thế nào cho ông ta hiểu.
 
James Molony nói tiếp:
 
- Chúng tôi phải mất ba tháng. Cũng may có một tay bác sĩ từ trường Y nhiệt tới giúp sức. Thứ thuốc độc ấy có tên là fugu. Bon Nhật thường dung nó để tự sát. Người ta trích nó từ tuyến sinh dục của loài cá nóc Nhật Bản. Bọn địch dùng nó để giết hại kẻ thù. Nó có tác dụng chẳng khác nào chất độc cura dân da đỏ. Chúng làm tê liệt thần kinh trung ương. Tên khoa học của fugu là Tetrodotoxin. Một chất kịch độc có tác động nhanh. Với liều bằng đúng liều tiêm vào người nhân viên của ông, vài giây sau, hệ hô hấp và thần kinh vận động của anh ta bị tê liệt hoàn toàn. Đầu tiên, anh ta lâm vào chứng song thị. Đồng tử dãn ra. Không mở mắt lên được. Kế đến, anh ta không thể thực hiện động tác nuốt. Đầu gục xuống. Rồi chết vì thiếu oxy não.
 
- Lạy Chúa. Cũng may, anh ta không lâm vào tình trạng như thế.
 
- Một kỳ tích đấy. Anh ta còn cơ may sống sót là nhờ vào anh chàng người Pháp đi cùng. Hắn đặt anh ta xuống sàn rồi làm hô hấp nhân tạo. Kéo dài khả năng sinh tồn cho tới khi mấy bác sĩ đến. Mà đám bác sĩ ở Nam Mỹ cũng khá lắm. Chẩn đoán ngay là triệu chứng ngộ độc chất cura. Họ có phương pháp giải độc thích hợp. Nhưng đó chỉ là cơ may với tỉ lệ một phần triệu. Con giặc cái ấy ra sao rồi?
 
Ông M đáp ngắn gọn:
 
- Ả đi đời nhà ma rồi. Vâng, cám ơn ông rất nhiều, bác sĩ James Molony. Đừng bận tâm về bệnh nhân của ông. Anh ta sẽ có thời gian nghĩ dưỡng sức. Xin chào.
 
Gác cái phôn xuống, vẻ mặt ông M lạnh lùng và trống vắng. Kéo chồng báo cáo về phía mình, ông mở chúng ra đọc nhanh. Đôi khi tay ông ghi vội vài ba nhận xét lên phần lề của chúng. Thỉnh thoảng, ông nhấc máy lên gọi gì đó cho mấy phòng ban. Mươi phút sau, ông đặt chúng vào giỏ công văn đã được xét duyệt. Với tay lấy cái tẩu, ông nhồi thuốc lần nửa.
 
Trên bàn, giờ chẳng còn gì ngoài chồng hồ sơ to dày với hàng chử Tuyệt Mật có ngôi sao đỏ ở góc. Ngy giữa là những chữ in hoa cỡ to: PHN CỤC CARIBÊ. Strangsway & Trueblood. Một ngọn đèn nhấp nháy trên máy bộ đàm. Nhấn nút, ông M hỏi nhanh:
 
- Chuyện gì?
 
- Thưa ngài, 007 có mặt.
 
- Cho anh ta vào. Năm phút sau gọi viên sĩ quan phụ trách vũ khí đến.
 
Dựa lưng vào ghế, miệng ngậm ống píp, ông quẹt một que diêm rồi rít. Xuyên qua làn khói trắng, ông nhìn về phía cánh cửa. Đôi mắt ông sáng lên. Vẻ cân nhắc hiện rõ.
 
Từ ngoài bước vào, James Bond khép cánh cửa lại sau lưng rồi ngồi xuống cái ghế gần bàn viết.
 
- Chào 007.
 
- Xin chào bác.
 
Đột nhiên căn phòng im lặng. Chỉ còn tiếng sột soạt trong ống píp nơi miệng ông M. Trời lạnh làm đốm lửa tắt ngúm. Quẹt đi quẹt lại mấy lần, mớ thuốc mới chịu cháy. Ngoài cửa sổ, mưa tuyết bệt dài từng mảng.
 
James chợt rung mình khi nhớ lại mấy tháng vừa qua. Chàng điệp viên huyền thoại mình đồng da sắt như thế phải chuyển đi từ bệnh viện này tới bệnh viện kia. Thật khủng khiệp. Nhiều tuần liền nằm trong phòng hồi sức. Bầu không khí ảm đạm, thê lương. Các bác sĩ đã tận tình cứu chữa. Họ đã mang sinh mạng anh trở về từ cõi chết. Chúa cũng còn thương xót. Giờ anh chàng lại ngồi đây đối diện với ông M. Những giây phút trên giường bệnh, anh chàng thông minh, sắc sảo của ông M. Chúng đang dò xét anh chàng. Có điều gì không ổn chăng? Điệp vụ vừa qua có chút sơ sót? Hay ông ta muốn chuyển mình về làm công việc bàn giấy? Hoặc có một điệp vụ nào khác ông ta vẫn còn giữ bí mật?
 
Liệng cái hộp quẹt lên bàn, ông ta tựa lưng vào ghế, hai tay đặt sau đầu.
 
- Cháu cảm thấy thế nào? Có muốn trở lại làm việc không?
 
- Vâng. Cháu rất muốn. Tất cả ổn rồi, thưa bác.
 
- Có cảm nhận gì về vụ việc vừa qua? Tịnh dưỡng cho lại sức đã. Tay Chánh văn phòng có một số bằng chứng về cháu. Cháu có yêu cầu gì không?
 
Giọng ông M thật lạnh lùng. Hoàn toàn theo kiểu thượng cấp truyền đạt cho thuộc hạ. James cảm thấy hơi chạm tự ái. Có chút gì đó không được thoải mái.
 
- Không. Vụ kỳ rồi có mè nheo đôi chút. Cháu tự trách mình sao quá lơ đễnh. Thế con ả mới giở trò được. Sẽ không như thế nữa, thưa bác.
 
Đặt hai bàn tay xuống bàn, ông M chồm người ra trước. Ánh mắt ông sắc lạnh. Giọng nói vẫn mượt mà nhưng đáng sợ.
 
- Cây Beretta và hệ thống hãm thanh có gì đó không ổn, 007.
 
Nếu cháu còn mang hai con số 0, không thể mắc bất kỳ sai phạm nào. Cháu có muốn nhường công việc lại cho người khác rồi trở về công việc bàn giấy?
 
James cảm thấy người bốc hoả. Anh chàng nhìn ông M với vẻ bực bội. Trời, hai con số 0 đó là niềm tự hào của anh chàng. Quyền được giết khi thi hành công vụ. Kiếm được nó đâu phải dễ. Phải đánh đổi bằng một điệp vụ nguy hiểm cùng cực. Giờ tự dưng tặng không cho thằng nào. Không! Dứt khoát là không!
 
Anh chàng nghiêm giọng:
 
- Thưa bác. Cháu không muốn thế.
 
- Chúng ta phải thay đổi vũ khí. Đó là ý kiến của bộ phận chuyên trách. Bác cũng nghĩ thế. Cháu hiểu không?
 
Anh chàng vẫn ngoan cố, cãi lại.
 
- Thưa bác, cháu đã từng dùng nó. Cháu thích nó. Điều ấy có thể xảy ra với bất cứ ai, bất cứ loại súng nào.
 
- Bác không đồng ý. Điều quan trọng bây giờ là cháu sẽ dùng gì thay vào đó?
 
Nhấn vào máy bộ đàm, ông M trầm giọng:
 
- Viên sĩ quan phụ trách vũ khí đến chưa? Cho anh ta vào.
 
Quay về phía James, ông M lên tiếng:
 
- Cháu có thể chưa nắm rõ điều này. Nhưng thiếu tá Boothroyd, chuyên gia vũ khí hàng đầu của thế giới thừa biết về nó. Nếu không có năng lực như thế, anh ta chẳng làm việc ở đây. Chúng ta cùng lắng nghe ý kiến cua Boothroyd.
 
Cánh cửa mở ra, một anh chàng ốm, dáng người thấp, mái tóc hung đỏ bước vào đứng bên cạnh chiếc ghế của James. 007 chưa từng gặp qua tay này. Đôi mắt màu nâu của hắn rất to, sắc sảo không lộ vẻ sợ hãi. Liếc sơ 007 một cái, hắn ta nhìn về phía ông M, dáng người thư giãn.
 
Giọng Boothroyd điềm tĩnh, không có cảm xúc:
 
- Xin chào ngài.
 
- Chào anh, Boothroyd. Tôi có chút việc muốn hỏi. Anh nghĩ thế nào về loại súng Beretta 25 ly?
 
- Thưa ngài, đó là súng dành cho phụ nữ.
 
Ông M nhướng đôi mày chế nhạo về phía James. 007 cười gượng.
 
Ông M hỏi tiếp:
 
- Thế à? Tại sao vậy?
 
- Thưa ngài, lực bắn không mạnh. Nhưng bù lại rất dễ sử dụng. Dáng vẻ bên ngoài bắt mắt. Phụ nữ rất thích loại súng này.
 
- Còn dùng nó với hệ thống hãm thanh thì sao?
 
- Cũng không tăng được lực bắn. Tôi không thích ùung hệ thống hãm thanh. Chúng khá nặng lại cồng kềnh, nhất là lúc ngài đang vội. Tôi chưa từng khuyên ai dùng chúng chung với nhau khi thực hiện công vụ.
 
Hướng về 007, giọng ông M vui vẻ:
 
- Nào 007. Có ý kiến gì không?
 
James khẻ nhún vai:
 
- Thưa thiếu tá Boothroyd, tôi không đồng ý. Tôi dùng khẩu Beretta đã 15 năm. Nó chưa hề kẹt đạn. Tôi cũng chưa bắn trật lần nào. Cho đến giờ, Không có một báo cáo than phiền về hiệu quả của nó. Đôi khi có chút gì đó không ổn nhưng tôi có thể điều chỉnh được. Những cây súng lớn hơn, chẳng hạn như cây Colt 45, nòng dài tôi đã từng dùng qua. Đối với cự ly gấn và nhất là trong tình trạng hoạt động bí mật, tôi vẫn thích cây Beretta.
 
James dừng lại một chút. Lòng thầm nghĩ: Tình hình này nói căng quá không được. Mình phải có vài câu vô thưởng vô phạt. Tranh luận với tay này tới khuya còn chưa xong. Lời lẽ của hắn tự tin lắm. Mà trúng nghề vũ khí của hắn, khó mà hơn thua được.
 
- Thưa ngài Thiếu tá. Chuyện hệ thống hãm thanh, tôi hoàn toàn nhất trí với ngài. Chúng thật phiền nhiễu. Nhưng đôi khi phải dùng đến chúng.
 
Ông M bắt đầu lên tiếng. Giọng khô khan.
 
- Chúng ta không cần bàn cãi thêm về khẩu Beretta. Đổi súng là chuyện phải làm. Cháu sẽ nhanh chóng làm quen với một khẩu khác, đúng không?
 
Rồi giọng ông ta dịu xuống, pha chút thông cảm:
 
- Nào 007. Cháu đứng lên một chút. Bác muốn ông thiếu tá nhìn sơ hình dáng của cháu.
 
Không một tiếng trả lời, anh chàng làm theo lời ông M. Nhưng đôi mắt không có chút thân thiện. Vẻ mặt vẫn còn bực tức.
 
Boothroyd chả thèm để ý. Ánh mắt hắn lãnh đạm, hờ hững. Dạo một vòng quanh James, dừng lại bên hông rồi hắn đưa tay khẽ nắn phần cánh tay rắn chắc của anh chàng. Sau đó, hắn bước về phía trước mặt anh, hỏi:
 
- Tôi có thể xem qua khẩu súng của ông?
 
Đưa tay vào áo khoác, James rút ra cây Beretta cưa nòng. Xem qua xem lại cây súng rồi Boothroyd bỏ nó lên bàn tay ướm thử nặng nhẹ.
 
Một lát sau, hắn bỏ Beretta lên bàn:
 
- Thế còn bao da của ông?
 
Cởi áo khoác ra, James gỡ cái bao súng khỏi vai rồi mặc áo vào. Boothroyd quan sát hai mép cái bao da. Không biết có bị thủng chổ nào không mà hắn nhìn tới nhìn lui rất kỹ. Chà, xem bộ dạng hắn liệng cái bao da lên bàn cạnh cây súng nữa kìa. Thấy phát ghét.
 
Ánh mắt Boothroyd hướng về phía ông M:
 
- Thưa ngài chúng ta có thứ khác tốt hơn cây này.
 
Giọng của hắn y hệt tên thợ may lần đầu tiên James đi đo quần áo. Ngồi xuống ghế, anh chàng nhìn ông M vẻ bình thản.
 
- Nào Boothroyd. Anh có ý kiến gì không?
 
Tay Thiếu tá đáp lại bằng thứ giọng của dân chuyên nghiệp:
 
- Thưa ngài, tôi chỉ tiến hành thử nghiệm những cây súng loại nhỏ tự động. Loại năm ngàn vòng ở cự ly hai mươi thước. Trong số đó, tôi sẽ chọn cây Walther PPK 7,65 ly. Nó chỉ xếp thứ tư sau cây M-14 của Nhật, Tokarew và Sauer M-38. Tay cò nhẹ, linh hoạt, ổ đạn duỗi ra một khoảng dễ nắm. Nó thích hợp với 007. Lực bắn của nó mạnh. Dĩ nhiên, nó to hơn. Nòng 32 so với khẩu Beretta 25 ly. Tôi không thích những khẩu súng nhẹ, tính chính xác không cao. Còn đạn của dây Walther có thể kiếm ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Vì thế, nó có ưu điểm hơn ba loại kia.
 
Quay về phía James, ông M hỏi:
 
- Có ý kiến gì không?
 
Giọng anh chàng hơi lẽn bẽn:
 
- Vâng, đó là một cây súng tốt, thưa bác. Hơi to hơn cây Beretta một tí. Không biết ngài Thiếu ta đề nghị tôi dùng gì đựng nó?
 
Giọng Boothroyd súc tích:
 
- Bao da ba góc của Berns Matin. Mang trong dây lưng quần bên trái rất tuyệt. Đeo ngang vai không thành vấn đề. Bao da cứng chắc. Giữ súng ổn định khi dằn xóc. Thuận tiện cho việc rút súng. Nhanh gấp nhiều lần cái thứ nằm kia.
 
Hắn chỉ tay về phía bàn rồi nói tiếp.
 
- Ba phần năm giây dư sức nã trúng một tên ở cự ly 6 thước.
 
Ông M lên tiếng:
 
- Thế là ổn rồi. Còn thứ nào lớn hơn không?
 
Giọng hắn lãnh đạm:
 
- Chỉ có một loại. Smith & Wesson Centennial Airweight, súng lục nòng 38 ly. Không có cò súng. Vì thế không thể móc vào quần áo. Chiều dài tổng cộng hơn tấc rưỡi. Trọng lượng chỉ có 13 pao. Để giảm bớt trọng lượng, ổ đạn chứa năm viên. Nhưng độ bắn rất chính xác. Dùng đạn loại 38 ly S & W đặc biệt. Với cách nạp đạn tiêu chuẩn, tốc độ nóng súng 250 m/giây, năng lượng nòng súng là 78. Có thể dùng nhiều loại nòng khác nhau: dài, 8 phân, tấc hai …
 
Chà, giọng ông M có vẻ bồn chồn:
 
- Thôi được rồi. Nếu anh bảo chúng tốt, chúng tôi cứ tin vậy. Gởi mỗi loại một cây cho 007, Walther và Smith & Wwsson. Cùng với bao da nữa. Anh sắp xếp cho hắn ta có thời gian tập dượt. Bắt đầu từ hôm nay. Trong một tuần phải thành thục được không? Thôi cám ơn anh rất nhiều, Thiếu ta Boothroyd. Tôi không muốn làm mất thì giờ của anh.
 
- Không có chi thưa ngài - Vừa trả lời xong, hắn đi ra khỏi phòng, dáng vẻ vũng chãi.
 
Bầu không khí đột nhiên im lặng. Chỉ có tiếng quất của làn mưa tuyết từng hồi vào cánh cửa. Xoay người trên ghế, mắt ông M nhìn ra xa.
 
Lúc này, đã hơn 10 giờ, James ngó cây Beretta cùng với cái bao da để trên bàn vẻ lưu luyến. Khối sắt vô tri kia sát cánh cùng anh chàng hơn mười lăm năm. Một khoảng thời gian chẳng thể gọi là ngắn ngủi. Đã bao lần nhờ nó, anh chàng thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Vâng, ngày đầu tiên anh chàng có quyền được bắn khi thi hành công vụ.
 
Tháo từng bộ phận ra, chùi dầu, lắp cẩn thận từng viên vào ổ, lấy đạn ra, lắp vào đôi ba lượt, dùng giẻ chùi sạch phần vỏ, gắn nó vào bao da, đứng trước gương quan sát. Những động tác như thế, anh chàng đã từng làm bao nhiêu lần rồi? Chả thể nhớ nổi! Mang nó trong người, anh chàng vũng vàng biết bao nhiêu khi chạm trán với kẻ thù. Giữa những đêm dài tăm tối, cây Beretta như truyền thêm dũng khí cho chàng điệp viên mang bí số 007 trong lòng địch. Nó đã tiễn bao nhiêu tên chó chết về bên kia thế giới? Đột nhiên một nỗi buồn dào dạt trào dâng trong lòng James. Ừ, nó chỉ là một vật vô tri, dáng vẻ không cầu kỳ, thanh nhã. Không sánh bằng những loại súng hàng đầu như lời nhận xét của Boothroyd. Nhưng giữa anh chàng và nó có một mối đồng cảm thật khó giại bày. Và mối thâm tình ấy, ông M định cắt đứt …
 
Giọng của ông M kéo anh chàng về thực tai:
 
- James, thật sự đáng tiếc. Bác biết cháu yêu mến nó. Nhưng phải đặt lý lẽ lên hàng đầu, nhất là công việc như chúng ta. Không thể tiếp tục dùng một thứ vũ khí lần thứ hai khi nó bị hỏng. Bác không muốn những trò may rủi xảy ra với những điệp viên mang bí số 00. Họ phải được trang bị thật tốt. Sinh mạng con người là quan trọng hơn cả. Cháu hiểu chứ? Một cây súng không thể nào sánh bằng một cánh tay hay một cái chân của cháu, đúng không?
 
James khẽ cười gượng:
 
- Vâng, thưa bác. Cháu hiểu. Cháu chỉ có chút buồn khi chia tay với nó.
 
- Thôi gác qua chuyện ấy. Bác có một việc cần nhờ đến cháu. Một công vụ ở Jamaica. Vấn đề nhân sự. Có thể tạm gọi như thế. Công việc điều tra hằng ngày và báo cáo. Ánh sáng mặt trời, không khí ở bãi biển có thể giúp cháu mau chóng hồi phục sức khoẻ. À, còn mấy con ba ba nữa, cháu tha hồ dùng chúng làm bia tập cây súng mới. Giống như một kỳ nghĩ phép. Có thích không nào?
 
Ôi, rõ chán. Anh chàng than thầm. Không lẽ dây là một chuyến công vụ cuối cùng trước khi về gặm mớ tài liệu ngày tám tiếng ở London? Công vụ hay kỳ nghĩ?
 
Dường như mình làm ông ta thất vọng. Ông ta không còn tin tưỡng vào năng lực của mình nữa? 007 oai hung ngày nào giờ thảm hại đến nõi này sao? Không còn thích hợp những diệp vụ vào sinh ra tử?
 
Vẻ chán nản vang lên trong giọng nói của James:
 
- Nghe cũng khá hấp dẫn, thưa bác. Lâu rồi, cháu không có chút thời gian thư giãn. Nhưng nếu bác cảm thấy thế …
 
- Đúng, bác cảm thấy thế.
 
 
 
Chương 03 
 
NHIỆM VỤ CHO MỘT KỲ NGHỈ
 
Trời đang tối dần. Bên ngoài, tuyết đóng thành từng mảng to. Chồm người về phía trước, Tay ông M nhấn nút vào cây đèn để bàn chụp xanh. Chùm sáng vàng hắt thành vũng trên mặt bàn phủ da đỏ. Căn phòng có vẻ ấm cúng hẳn. Ông M đột nhiên kéo chồng hồ sơ dày về phía mình.
 
Mãi lo về khẩu súng, James không để ý đến nó. Liếc ngang qua các hàng chữ to không mấy khó khăn, anh chàng thấm nghĩ: Quái, Strangsway có chuyện gì ư? Còn Truebloody là ai?
 
Vừa nhấn cái nút trên bàn, ông M vừa nói:
 
- Bác chỉ nắm sơ sơ vụ việc. Tay Chánh văn phòng biết rõ nội tình. Bác e rằng vấn đề này có đôi chút khó khăn.
 
Vài phút sau, tay Chánh văn phòng Bill bước vào. Bill từng là Đại tá ở Sappers. Một anh chàng trạc tuổi James nhưng mái tóc bắt đầu nhuốm bạc ở hai bát. Gánh nặng của công việc, trách nhiệm trước tổ chức làm hắn ta già trước tuổi. Cũng còn may cho hắn. Nhờ có sức chịu đựng dẻo dai cùng với tính vui nhộn bẩm sinh, nếu không chắc hẳn phải về hưu non từ lâu.
 
James đâu có lạ gì Bill. Hai người vốn là cặp bài trùng ở Cục Phản gián.
 
Vừa thấy 007, Bill mỉm cười. Ông M nói:
 
- Kéo ghế ngồi đi Bill. Tôi đang định bàn với 007 chuyện của Strangsway. Cần phải làm rõ sự tình trước khi chúng ta bổ nhiệm người mới ở đó. Trong thời gian sắp tới 007 sẽ là quyền Phân Cục Trưởng. Tôi muốn tuần tới anh ta lên đường. Liệu cậu có thể thu xếp thủ tục với bên Bộ Thuộc địa và Chính phủ? Nào, bây giờ chúng ta bàn về vụ của Strangsway.
 
Quay sang James, ông M nói tiếp:
 
- Chắc cháu không lạ gì Strangsway phải không? Cháu từng cộng tác với ông ta 5 năm về trước trong vụ tìm kiếm kho tàng, đúng không? Theo cháu, ông ta là người như thế nào?
 
- Một nhân viên mẫu mực. Có hơi căng thẳng một tí. Lẽ ra theo cháu, ông ấy đã thuyên chuyển từ lâu rồi. Ở miền nhiệt đới, 5 năm quả là một thời gian khá dài.
 
Không màng đến lời nhận xét, ông M hỏi tiếp:
 
- Còn nhân vật thứ hai trong Phân Cục, cô Mary Truebloody, Cháu từng gặp qua chưa?
 
- Dạ chưa.
 
- Cô ta có lý lịch nhân thân rất tốt. Từng là thủ trưởng của W.R.N.S trước khi về làm việc cho chúng ta. Chưa mắc một khuyết điểm nào. Dáng vẻ rất xinh. Có thể đây là một nghi vấn. Theo cháu, Strangsway có thuộc loại mèo mỡ lăng nhăng?
 
- Cháu không chắc điều này. Nhưng chuyện gì đã xảy ra với họ?
 
James không thốt ra lời nhận xét bất lợi cho ông ta. Mà cũng dám lắm. Cái tay này lúc nào cũng mướt rượt, ăn diện bảnh bao.
 
- Đó là điều chúng ta cần tìm ra. Đột nhiên họ biến mất. Không để lại một dấu vết gì cả. Trong một buổi tối cách đây ba tuần. Ngôi nhà gỗ từng là văn phòng làm việc của ông ta biến thành đám tro tàn cùng toàn bộ hồ sơ tài liệu. Đồ đạc của cô gái còn nguyên kể cả hộ chiếu. Nhưng làm hai cuốn hộ chiếu giả với Strangsway không khó gì. Với chức vụ Thanh tra ở Caribê, ông ta có cả chồng hộ chiếu khống. Đám cớm ở đấy đang kiểm tra toàn bộ danh sách hành khách trong tất cả các chuyến bay từ Caribê đi Florida, Nam Mỹ và những hòn đảo trong vùng. Chưa có kết quả gì hết. Có lẽ họ còn quanh quẩn ở đó đôi ba ngày trước khi dông mất. Cô gái có thể nhuộm tóc, hoá trang đôi chút. Đám an ninh sân bay ở đấy năng lực luôn yếu kém. Sờ sờ ra trước mắt còn chẳng thấy nữa là. Tôi nói có đúng không Bill?
 
Giọng của Bill không chắc chắn. Chừng như hắn còn hồ nghi điều gì.
 
- Vâng, có lẽ thế, thưa sếp. Nhưng tôi vẫn không hiểu về cú liên lạc vô tuyến lần cuối cùng.
 
Quay sang James, Bill bắt đầu kể:
 
- Họ bắt đầu buổi điện báo thường lệ vào lúc 6 giờ 30 chiều, giờ Jamaica. Theo nhận định của hệ thống kiểm soát điện báo, có lẽ Mary đánh mật mã gọi về WWW. Nhưng sau đó bỏ lửng. Chúng ta cố gắng liên lạc nhưng không được. Hình như có chuyện gì xảy ra ở đấy. Rồi chẳng có tín hiệu trả lời cho báo động Xanh, báo động Đỏ. Sự việc chỉ có bấy nhiêu. Ngày hôm sau, cơ quan III gởi 258 từ Washington đến. Ngay sau đó, đám cảnh sát vào cuộc. Chính phủ không muốn làm căng vụ này. Họ định xếp êm cho xong chuyện
 
Có một vài điểm bất lợi với Strangsway. Hình như hắn ta có quan hệ lăng nhăng với một vài cô gái. Xét cho cùng, cũng không trách được ông ta. Không nhiều công việc lắm. Thì giờ rảnh rỗi chả biết làm gì. Tán gái riết rồi dính. Dính rồi định trốn đi xây tổ uyên ương. Thế là chính phủ đưa ra quyết định ngay. Đám cớm cũng nhận xét như thế. Chuyện gái ghiếc có lẽ là lý do thuyết phục nhất. 258 đến đấy một tuần cũng không tìm ra gì cả đành trở về Washington. Cho đến giờ, đám cớm có mà ra gì đâu. Chỉ là phỏng đoán.
 
Bill dừng một chút xíu. Rồi hắn quay sang ông M, Giọng từ tốn:
 
- Thưa sếp, tôi biết sếp đồng ý với nhận định của chính phủ. Nhưng có một điều tôi thấy không thoả đáng. Đó là cú liên lạc điện báo cuối cùng. Nếu ráp nó vào vụ một cặp tình nhân bỏ nhiệm sở trốn đi, tôi thấy không ổn. Những người bạn của Strangsway tại Câu lạc bộ cho biết ngày hôm ấy hắn ta vẫn bình thường. Không có điểm gì đáng nghi . Rời buổi đánh bài bridge dở dang vào lúc 6 giờ 15, hắn ta còn quay lại dặn đám chiến hữu hai mươi phút sau trở lại. Chiều nào cũng hệt như thế. Thời gian biểu luôn chính xác. Rồi bổng nhiên hắn ta mất tích. Chiếc xe hơi thậm chí còn bỏ ngoài đường ngay trước Câu lạc bộ. Nếu hắn ta muốn chuồn đi với nhân tình, sao lại để mấy người kia ngồi chờ? Đi buổi sáng có phải tiện hơn không? Hay đợi đến khuya, sau khi hoàn tất cú điện báo, thu xếp hết đồ đạc? Vấn đề này làm tôi cứ nghĩ mãi không ra.
 
Giọng ông M có vẻ lưỡng lự:
 
- Tình yêu luôn làm con người ta mù quáng. Dĩ nhiên, mù quáng sẽ dẫn đến ngu dại. Ngoài lý do ấy ra, có thể giải thích vụ này như thế nào? Một Phân cục buồn tẻ, không có nhiều việc để làm. Báo cáo ngày nào cũng y như ngày nấy. Đôi khi có bọn cướp bị truy nã trốn nước Anh dông đến đấy núp chờ thời. Tôi không nghĩ vụ việc của Strangsway lại to chuyện hơn thế đâu.
 
Quay sang James, ông ta hỏi:
 
- Cháu nghĩ sao?
 
Giọng anh chàng quả quyết:
 
- Theo cháu, sự việc không diễn ra kỳ lạ như thế. Có thể ông ta có dính líu tình cảm với cô gái. Nhưng với tính cách của Strangsway, công vụ bao giờ cũng xếp lên trên. Cục Phản gián luôn là ước mơ lớn nhất trong cuộc đời của ông ấy. Chẳng bao giờ ông ta xem thường nó. Cháu có thể thấy điều này qua những báo cáo của ông ta. Dù không có gì vẫn viết rất tỉ mỉ, cẩn thận.Cô gái kia cũng vậy. Tại sao hai người lại trốn đi trong khi hoàn toàn có thể xin chuyển công tác? Còn vụ điện báo lại bỏ dỡ giữa chừng nửa. Cô ta từng là thủ trưởng của W.R.N.S. Sao lại tắc trách và nông nổi như mấy ẻm mới lớn được.
 
- Bác chấp nhận lời nhận xét chân tình của cháu. Bác cũng đắn đo về những điều này. Tuy nhiên trước khi có đáp án cụ thể, chúng ta phải dự đoán tất cả những khả năng có thể xảy ra. Cháu có nghĩ ra giãi pháp nào không?
 
Tựa lưng vào ghế, ông M chờ đợi. Với lấy ống píp, ông bắt đầu nhồi thuốc. Thuở giờ ông M có khoái ba cái vụ kỳ cục như vậy đâu. Giãi quyết vụ sếp lẹo tẹo với nhân viên nữ rồi mất tiêu. Trời ơi, đây là Cục Phản gián mà. Đâu phải là cơ quan chuyên trách về hôn nhân gia đình. Còn biết bao nhiêu điệp vụ quan trọng trên thế giới đang chờ ông xử lý. Đành gởi 007 đến giả vờ thi hành công vụ để xếp lại vụ việc. Sẵn cho anh chàng một kỳ nghỉ an dưỡng.
 
Đặt cái tẩu vào miệng, ông châm lửa:
 
- Nào James, có ý kiến gì không?
 
Anh chàng không muốn đưa ra lời nhận xét vội vàng. Mà Bill nói cũng có lý lắm chứ. Anh chàng khoái tính cách của Strangsway. Nhiệt tình, năng động.
 
Tuy có hơi nóng tánh một chút nhưng hắn ta không đến nỗi ấm đầu như nhận định của Chính phủ.
 
Hình như nhớ ra điều gì, James hỏi:
 
- Thưa bác, cháu có chút thắc mắc. Strangsway theo dõi vụ án cuối cùng nào? Ông ta có báo cáo gì không? Cơ quan III có yêu cầu ông ta vấn đề gì đặc biệt? Trong vài tháng gần đây có bất cứ gút mắc gì không?
 
- Không có gì. Ông M quả quyết.
 
Lấy cái tẩu ra, ông chỉ về phía Bill:
 
- Đúng không nào?
 
- Vâng, thưa sếp. Chỉ có vụ mấy con chim chết tiệt.
 
Chà, ông M đáp lại giọng khinh khinh:
 
- Ừ nhỉ. Một vài con két ở sở thú hay của ai đó. Nhờ chúng ta liên hệ với Bộ Thuộc dịa. Cũng hơn sáu tuần trước đây.
 
- Vâng, thưa sếp. Nhưng không phải là sở thú. Đó là một tổ chức ở Mỹ có tên Audubon. Họ bảo vệ những động vật hoang dã. Đại loại như thế. Họ liên hệ với Đại sứ quán của chúng ta ở Washington. Rồi bên Bộ Ngoại giao giới thiệu họ đến Bộ Thuộc địa. Dường như tại Mỹ, đám này có khá nhiều quyền lực. Thậm chí họ còn rào một hàng rào điện tử để ngăn chặn bọn trộm cắp tổ chim.
 
Ông M khịt mũi:
 
- Một thứ chim qoái quỷ gì có tên là sếu Whooping. Cháu có thể đọc chúng trong tài liệu này.
 
James vẫn kiên quyết:
 
- Thưa bác, đám Audubon muốn chúng ta làm gì?
 
Tay vẫy cái tẩu với vẻ bực bội, ông M dẩy chồng hồ sơ về phía Bill:
 
- Này, Bill. Kể cho 007 nghe đi.
 
Nhặt lấy, Bill lật phần cuối tìm những trang cần thiết rồi gấp đôi hồ sơ lại. James thấy ngay phía trên có dấu mộc xanh, trắng của Bộ Thuộc địa. Anh chàng vẫn ngồi yên vẻ dửng dưng.
 
Còn ông M nhìn James với ánh mắt bồn chồn.
 
- Chúng ta chuyển tài liệu cho Strangsway vào ngày 20 tháng Giêng. Ông ta báo đã nhận được. Rồi sau đó, không thấy ông ta trả lời gì cả.
 
Tựa lưng vào ghế, Bill nhìn James nói tiếp:
 
- Dường như có một loài chim tên là Roseate Spoonbill. Hình của nó đính kèm theo hồ sơ. Giống như một loài cò hồng có cái mỏ dài, dẹp, xấu xí dùng để đào thức ăn trong bùn. Đã nhiều năm qua, chúng gần như tuyệt chủng. Trước chiến tranh một chút, chúng còn sót lại khoảng trăm con trên thế giới. Chủ yếu tập trung ở Florida và vùng phụ cận. Sau đó, có người phát hiện một đàn trên một hòn đảo Crab Key giữa Jamaica và Cuba. Nó nằm trong quần đảo Jamaica, thuộc địa của vương quốc Anh. Tài nguyên chủ yếu trước kia của nó là nguồn phân chim. Nhưng trữ lượng quá thấp mà phí tổn khai thác lại cao. Công việc kinh doanh phải ngừng lại. Dường như loài này đã sống ở đó khoảng năm mươi năm. Đám Audubon đến đấy quan sát rồi mướn một khu đất làm nơi bảo tồn có hai người giám sát. Họ còn thuyết phục các hang hàng không đừng bay ngang hòn đảo để tránh làm lũ chim hoảng sợ. Có chổ sống ổn định, bầy chim sinh sản rất nhanh. Chỉ trong thời gian ngắn chúng có đến năm ngàn con. Sau đấy chiến tranh nổ ra. Giá phân chim đột nhiên tăng lên. Một tay nào đó nghĩ đến hòn đảo này. Gã thuyết phục chính quyền Jamaica mua đứt hòn đảo này với giá mười ngàn bảng. Gã còn hứa sẽ không làm phiền đến khu bảo tồn. Lúc ấy vào năm 1943. Rồi gã đưa tới một số nhân công thuê với giá bèo khai thác phân chim. Vậy mà gã cũng kiếm được bộn bạc. Dạo gần đây, giá phân chim lại tuột xuống thê thảm. Theo cái đà nay, gã sắp phải dẹp tiệm.
 
- Gã ấy là ai?
 
- Một người Hoa lai Đức, tự gọi mình là bác sĩ No, Julius No. Chả biết có bước chân vô trường Y nào hay chưa? Hay chỉ là mấy tên lang băm bịp bợm. Bác sĩ lại đi kinh doanh phân. Kể cũng lạ.
 
- No? Ngược nghĩa với yes à?
 
- Ừ.
 
- Có thêm chi tiết nào về gã này không?
 
- Chẳng có gì. Gã rất kín đáo. Không giao tiếp với bất cứ ai. Gã không muốn lũ chim, nguồn cung cấp phân bị quấy rầy. Rồi thời gian dần trôi qua, cũng chẳng có gì đáng nói. Mãi cho đến trước Noen, một tay giám sát của Audubon chèo thuyền tới bờ Bắc của Jamaica. Ấy, một tay vóc dáng vạm vỡ, người vùng Barba. Người hắn lả đi. Toàn thân bị phỏng. Vết thương rất nghiêm trọng. Vài ngày sau, hắn chết. Lúc hấp hối, hắn trăn trối lại vài điều. Thật không thể tin được. Một con rồng chả biết từ đâu hiện ra, miệng khạc lửa tấn công vào lán trại của hắn, giết chết tên giám sát còn lại, đốt sạch mọi thứ rồi khạc lửa vào lũ chim hiếm. Bầy chim hoảng sợ bay mất tiêu. Có Chúa mới biết bây giờ chúng ở đâu. Dù toàn thân phỏng nặng, hắn cũng cố lết về phía bờ biển, lấy trộm một chiếc thuyền, chèo suốt đêm tới Jamaica. Cò lẽ trong cơn mê sảng, hắn kể chuyện điên rồ. Sau đó, đám Audubon hay được. Dễ gì bon này để yên. Họ phái hai thám tử dùng một chiếc Beechcraft bay từ Miami đến điều tra. Trên đảo có một cầu hàng không gã No xây dựng để vận chuyển lương thực.
 
Đột nhiên, ông M xen vào, giọng chua chat:
 
- Bọn ăn không ngồi rồi quẳng không ít tiền cho lũ chim.
 
- Vâng. Chuyện kỳ lạ này nối tiếp chuyện kỳ lạ khác. Chiếc Beechcraft bị rơi. Thêm hai tên Audubon thiệt mạng. Bọn này bắt đầu giận dữ. Họ có dù to lắm ở Washington. Thế là họ mượn đựoc một tàu chiến nhỏ trong đội tàu tập trận của Hải quân Hoa Kỳ ở vùng biển Caribê. Khi chiếc tàu đến gần hòn đảo, viên thuyền trưởng điện đàm với gã No. Mà miệng gã nay dẻo lắm. Không khác gì miệng lưỡi của đám con buôn. Gã nói năng ra vẻ ôn tồn, không một chút cáu gắt. Nghe được những lời đường mật, viên thuyền trưởng khoái chí. Tên No chỉ cho phép một mình viên thuyền trưởng dùng cầu thang không lên đảo xem xét. Chiếc Beechcraft biến thành đống sát vụn. Nhưng chả có điềm khả nghi. Có lẽ nó đáp xuống đảo vội quá nên đâm vào vách núi. Xác của hai tên Audubon và phi công được tẩm liệm tử tế trong mấy cái hòm đắt tiền. Buổi tiễn đưa ba cái quan tài mới long trọng làm sao. Bọn chúng khua chiêng, đánh trống om sòm. Thềy bùa thầy pháp la hét inh ỏi. Viên thuyền trưởng xúc động. Rồi ông ta yêu cầu đến lán trại của khu bảo tồn. Ở đấy, không có gì ngoài một đống hoang tàn cháy rụi. Theo lời gã No, có lẽ do quá cô đơn, không gái ghiếc, nhiệt độ môi trường khá cao, mấy tên Audubon đâm ra loạn trí. Rồi trong cơn hoang tưởng, một tên tự đốt cháy tất cả. Chừng nghe cũng có lý lắm chớ. Sống cô đơn trên hoang đảo hơn mười năm hai gã làm gì mà chịu nổi. m dương không điều hoà theo triết học Trung Hoa dễ dẫn đến điên loạn.
 
Quả là ngọt mật chết ruồi. Viên thuyền trưởng nghe thấy bùi tai. Có gì đâu mà xem cho phí thời giờ? Cả khu bảo tồn giờ chỉ là một đống đổ nát hoang tàn với vài cặp vợ chồng cò mỏ dẹp. Quay về tàu, ông ta ra lệnh nhổ neo dông mất.
 
Đám Audubon biết được đâm ra cuồng nộ. Họ yêu cầu chúng ta vào cuộc. Dĩ nhiên, Bộ Thuộc địa và chính quyền Jamaica đâu có mặn mòi gì ba cái chuyện chim chóc. Bên này đá qua. Bên kia đá lại. Cuối cũng vụ việc rơi vào trong tay Cục Phản gián.
 
Khẻ nhún vai, Bill chỉ vào chồng hồ sơ:
 
- Thế là câu chuyện thần tiên cùng lũ chim choc đáp vào văn phòng của Strangsway.
 
Ông M nhìn James, vẻ khinh khỉnh:
 
- Nào 007. Cháu hiểu ý của bác rồi chứ? Mấy con mụ thừa tiền lắm của, ở không chẳng biết làm gì, luôn làm cho chuyện bé xé ra to. Thời đại bây giờ, mấy tay giàu có quá bắt đầu nghĩ đến chuyện bảo tồn: từ nhà thờ nhà cổ, bức tranh bị mục nát, chim chóc, thú vật … Hàng trăm hàng ngàn như thế. Người đâu mà thoả mãn ý thích điên khùng của họ. Vấn đề rắc rối là họ có ô dù quá to ở Washington, những chính trị gia hàng đầu. Họ có cả núi tiền nửa chứ. Lạy Chúa, không biết họ đào từ đâu ra? Mấy mụ già đó mà quậy thôi không còn đường chống dỡ. Phải làm thế nào cho dư luận dịu lại. Thời gian sẽ làm họ quên. Chúng ta phải dính líu vì nó thuộc lãnh thổ của vương quốc Anh. Nhưng lại là hòn đảo thuộc chủ quyền tư nhân. Không ai có thể xâm phạm. Bác làm gì bây giờ? Gởi đến đấy một chiếc tàu ngầm? Mà để làm gì kia chứ? Tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra với lũ cò? Vụ việc cuối cùng của Strangsway xử lý là thế.
 
Ông ta bắt đầu khịt mũi, người ngiêng về phía trước:
 
- Còn câu hỏi nào khác không? Bác còn khối chuyện phải làm.
 
Anh chàng mỉm cười. Lòng thầm nghĩ: Ông M đôi lúc trở nên cáu gắt. Sức nặng của công việc, trách nhiệm với Chính phủ, uy tín trước nhân viên khiến ông ta lúc nào cũng bị ám ảnh về hiệu quả công việc Ông ta cứ sợ hoang phí thời gian, công quỹ. Rồi anh chàng đứng lên:
 
- Thưa bác, cháu cần xem lại hồ sơ. Cho đến giờ, 5 xác chết ít nhiều có liên quan tới lũ chim. Strangsway và Trueblood cũng không nằm ngoài lý do này. Cháu biết nói thế có lẽ phi lý. Thậm chí là buồn cười nữa. Nhưng đến giờ chúng ta chưa có một bằng chứng nào cả. Tất cả chỉ là phỏng đoán.
 
Giọng ông M bực bội:
 
- Thế được rồi. Cháu phải thu xếp nhanh lên. Rồi đến dấy như một kỳ nghỉ. Có thể phải sắp xếp lại từ đầu.
 
Giơ tay lấy chồng hồ sơ, anh chàng định nhặt luôn khẩu Beretta cùng cái bao da.
 
Ngay lúc đó giọng ông M gần như quát:
 
- Không, Lần sau bác phải thấy cháu mang hai cây súng kia.
 
Nhìn vào ánh mắt của ông ta, James cảm thấy bực dọc. Vâng, lần đầu tiên trong đời, James thấy ghét ông. Anh chàng đâu có lạ gì tính khí của ông ta: cương quyết, nghiêm khắc. Một phần cũng do lỗi của anh chàng. Điệp vụ vừa qua 007 xém chút mất mạng. Đến Caribê lần này có khác nào thời gian nghỉ phép? Tới bờ biển nắng ấm để tránh cảnh giông tố ở London? Có bao giờ ông M để cho đám nhân viên ăn ở không đâu? Sao lại phái mình đến dấy chứ? Chẳng lẽ ông ta muốn chọc quê mình sao? Cái lão già chết tiệt.
 
Nỗi giận dữ bắt đầu dâng lên trong làng James. Khắp cả người anh chàng nóng ran, da thịt như có lũ kiến đanh bò.
 
Cố nén lại, giọng James nhẹ nhàng.
 
- Vâng, cháu hiểu, thưa bác.
 
Mặt sưng một đống, anh chàng quay gót bước ra.
 
 
 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top