Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 275 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

 

Chương 19
 
Những người khiêng cáng đưa viên đại uý vào trong lều rồi khẽ đặt lên bàn mổ. Đại uý William Kane của Sư đoàn thiết giáp số 9 có thề trông thấy cô y tá nhìn mình một cách thất vọng nhưng anh không thể nghe rõ cô ta nói gì. Anh không biết đó là do đầu mình bị băng quá nhiều hay anh đã bị điếc rồi. Anh thấy môi cô ta động đậy nhưng không nghe gì hết. Anh nhắm mắt lại suy nghĩ.
 
Anh suy nghĩ rất nhiều về quá khứ, suy nghĩ một chút về tương lai, và chợt nghĩ nếu mình chết thì sao.
 
Anh biết rằng nếu anh sống thì sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ. Anh nghĩ về Kate đang ở New York. Cô y tá có thể thấy một giọt nước mắt của anh chẩy xuống mặt.
 
Kate đã nhất định không chịu để anh vào quân đội mặc dầu anh tỏ ra rất quyết tâm. Anh biết là chị sẽ chẳng bao giờ hiểu được, và anh cũng không thể nào chứng minh được cho chị, vì vậy anh đã không nói gì.
 
Bây giờ anh chỉ thấy có vẻ mặt thất vọng của chị ám ảnh. Anh chưa bao giờ nghĩ đến cái chết thật sự - Có ai nghĩ đến điều đó đâu - Và bây giờ anh chỉ muốn sống để trở về với gia đình.
 
William đã để ngân hàng Lester lại cho Ted Leach và Tony Simmons cùng quản lý cho đến khi nào anh về Phải, cho đến khi nào anh về.... Anh không dặn lại nếu anh không về thì sao. Cả hai người đều yêu cầu anh đừng đi. Lại thêm hai người đàn ông nữa không hiểu anh. Cuối cùng, sau khi anh đã đăng lính rồi, anh cũng không dám gặp con nữa. Richard, lúc đó đã bẩy tuổi, đòi đi theo bố đánh bọn Đức, nhưng bố không cho đi theo nên chú khóc.
 
Trước hết họ cho anh đi theo học trường sĩ quan dự bị Ở Vermont. Trước đây anh đã đến vermont rồi, đi trượt tuyết với Matthew, lên đồi thì chậm mà xuống thì rất nhanh. Lớp học sĩ quan kéo dài ba tháng. Sau lớp học, anh thấy mình khỏe lên như cũ. Từ sau Harvard đến giờ mới lại thấy được như vậy.
 
Nhiệm vụ đầu tiên của anh là sang Lon don làm sĩ quan liên lạc giữa quân Mỹ với quân Anh. Anh được đến ở Dorchester, nơi đã bị Bộ Quốc phòng Anh tiếp quản và giành cho quân đội Mỹ. William đã đọc báo ở đâu đó nói Abel Rosnovski cũng đã giành khách sạn Nam tước ở New York cho quân đội và anh rất hoan nghênh cử chỉ ấy. Những chuyện tắt đèn với còi báo động máy bay khiến anh có cảm giác mình đang dính đến chiến tranh thật, nhưng anh thấy lạ, tưởng mình như ở xa tận đâu đâu phía nam công viên Hy de. Suốt đời làm gì anh cũng chủ động được. Anh không hề là người đứng ngoài cuộc bao giờ. Việc đi lại giữa sở chỉ huy của Eisenhower ở Si. James với phòng Tác chiến của Churchill ở Storey không phải là thứ việc mà William chủ động được. Anh cảm thấy như suốt cả cuộc chiến tranh này anh sẽ chẳng bao giờ được đối diện với một tên Đức trừ phi Hitler đem quân sang xâm chiếm Quảng trường Trafalgar.
 
Khi một phần của Quân đoàn Một được đưa lên vùng Scotland để tập luyện cùng với trung đoàn bộ binh nổi tiếng của Anh được mệnh danh là Cảnh Giới Đen, William cũng được phái lên đó quan sát để về báo cáo xem phát hiện được những gì. Trong suốt cuộc hành trình bằng xe lửa vừa chậm vừa dài lên Scotland, anh bắt đầu tưởng như mình chỉ là một anh liên lạc được đề cao lên thế thôi, và anh tự hỏi sao mình lại vào quân đội làm gì chứ. Nhưng đến Scotland rồi, anh thấy mọi thứ đều rất khác. ít ra ở đây cũng có không khí chuẩn bị chiến tranh rất sôi nối, và khi trở về Lon don, anh lập tức làm đơn xin chuyển sang Quân đoàn Một. Viên sĩ quan chỉ huy của anh không thích giữ một người ưng hành động ngồi ở bàn giấy, nên chấp nhận cho anh đi luôn.
 
Ba ngày sau William trở lại Scotland, nhập vào trung đoàn mới và bắt đầu tập luyện với quân Mỹ ở Inveraray để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ sắp tới. Tập luyện rất vất vả, căng thẳng. Những đêm đánh trận giả trên đồi ở Scotland với trung đoàn Cảnh Giới Đen thật khác hẳn với những tối ngồi viết báo cáo ở Dorchester.
 
Ba tháng sau họ nhẩy dù xuống miền Bắc nước Pháp đề nhập với cánh quân của omar N. Bradley tiến sâu vào lục địa châu âu. Không khí thắng lợi đã lởn vởn trước mặt và William muốn mình là người lính đầu tiên vào Berlin.
 
Quân đoàn Một tiến về phía sông Rhine, quyết tâm vượt qua mọi chiếc cầu. Đại úy Kane sáng hôm đó được lệnh là cánh quân của anh phải vượt qua cầu Ludendorff trước để giao chiến với địch đóng trong một khu rừng phía bờ bắc Remagen cách đó chừng một dặm. Khu vực này nằm sâu phía trong sông.
 
Anh đứng trên đỉnh đồi quan sát binh đoàn thiết giáp số 9 vượt qua cầu, chỉ lo không biết nó sẽ bị nổ tung bất cứ lúc nào.
 
Viên đại tá đưa sư đoàn của ông ta vào theo.
 
William cùng một trăm hai mươi người do anh chỉ huy đến tiếp. Phần lớn trong số những người này, cũng như William, bây giờ mới ra trận là lần đầu. Ở đây không còn là chuyện tập dượt với quân Scotland và bắn đạn giả nữa, và không còn chuyện tập xong thì cùng ăn nữa. Ở đây, trái lại, là quân Đức, là đạn thật, là chết và sau đó cũng không có ăn nữa.
 
Vào đến bìa rừng, William và các bạn không thấy có chống cự, thế là họ quyết định vào sâu trong rừng hơn nữa. Họ từ từ tiến quân, không thấy có chuyện gì và William đã bắt đầu nghĩ rằng binh đoàn số 9 đã giải quyết xong công việc và cánh quân của anh chỉ còn có việc đi theo. Đang nghĩ thế thì một loạt đạn phục kích ào ào bắn ra, có cả đạn súng cối. Họ bị hoàn toàn bất ngờ. Những người của William phục ngay xuống đất và tìm cách nấp vào sau các gốc cây. Chỉ trong vài giây đồng hồ anh đã mất quá nửa trung đội.
 
Trận đánh. nếu như có thể gọi đó là trận đánh, chỉ không đầy một phút, mà anh thì chưa trông thấy mặt mũi một tên Đức nào. William nằm bò xuống đất ướt và anh hoảng hồn trông thấy một đợt quân của Sư đoàn 9 tiếp tục kéo vào rừng. Anh nhẩy từ chỗ nấp ra phía sau một cái cây báo cho họ biết là có phục kích.
 
Viên đạn đầu tiên trúng vào đầu anh. Anh ngã khuỵu xuống bùn nhưng vẫn giơ tay vẫy hét bảo đồng đội đừng tiến lên nữa. Viên đạn thứ hai trong vào cổ anh, và viên thứ ba vào ngực. Anh nằm lặng trong vũng bùn, chờ chết mà vẫn chưa trông thấy địch, một cái chết không vinh dự mà cũng chẳng anh hùng tí nào.
 
Rồi sau đó William biết là mình được nằm trên cáng và người ta khiêng đi. Anh không nghe, không thấy gì hết. Anh không biết đó là đêm tối hay chính anh bị mù.
 
Hình như người ta khiêng anh đi xa lắm. Rồi anh mở được mắt, trông thấy một viên trung tá đi khập khiễng từ trong lều ra. Trông ông ta quen quen, nhưng anh không thể nghĩ ra ai. Những người khiêng cáng đem anh vào trong lều mổ và đặt anh lên bàn. Anh cố không ngủ thiếp đi, vì sợ ngủ có thể chết luôn.
 
William tỉnh dậy. Anh biết là có hai người đang đỡ mình. Họ khẽ lật người anh lại và cắm một mũi kim vào người anh. William mơ gặp Kate, rồi mẹ anh, rồi Matthew đang chơi với Richard con anh. Anh ngủ thiếp đi.
 
Anh lại tỉnh dậy. Anh biết là họ đã chuyển anh sang một chiếc giường khác. Một chút hy vọng mỏng manh thay thế cho ý nghĩ không tránh khỏi chết. Anh nằm bất động, một bên mắt nhìn lên mái lều bạt. Đầu anh không cựa quậy được. Một cô y tá bước đến xem bảng theo dõi bệnh rồi nhìn anh. Anh lại ngủ thiếp.
 
Anh lại tỉnh dậy. Không biết đã bao lâu rồi? Lại một cô y tá khác. Lần này, anh có thể nhìn được rõ hơn một chút. Ôi, mừng quá! Anh đã cựa quậy được cái đầu nhưng đau vô cùng. Anh cố thức được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Anh muốn sống rồi. Rồi anh lại ngủ.
 
Anh lại tỉnh dậy. Bốn bác sĩ đang chăm chú nhìn anh. Họ quyết định gì đây? Anh không nghe được họ nói gì nên không thể biết. Họ lại chuyển anh đi nữa.
 
Anh có thể thấy họ đặt anh vào một chiếc xe cứu thương. Cánh cửa xe khép lại, tiếng động cơ rì rì rồi chiếc xe bắt đầu lăn trên đường gập ghềnh. Một cô y tá ngồi bên giữ chặt lấy người anh. Hình như xe đi hơn một giờ đồng hồ , nhưng anh không biết thời gian ngắn dài như thế nào nữa. Xe đến một chỗ êm hơn rồi dừng lại. Họ lại khiêng anh nữa. Lần này họ đi trên chỗ thẳng, rồi lên gác, đưa anh vào một căn phòng tối. Họ lại chờ, rồi thấy căn buồng di chuyển, có lẽ là một cái xe khác. Căn buồng đó bay lên. Cô y tá chích cho anh một mũi tiêm nữa. Anh không còn nhớ được gì hết. Cho đến lúc anh cảm thấy như máy bay hạ xuống rồi lăn bánh lên một chỗ nào đó mới đứng lại. Họ lại di chuyển anh nữa. Lại một xe cứu thương khác, một cô y tá khác, một mùi vị khác, một thành phố khác. New York chăng, hoặc ít nhất đây cũng là nước Mỹ chăng. Chẳng nơi nào trên thế giới có mùi vị như thế cả. Chiếc xe cứu thương đưa anh đến một nơi khác êm hơn, xe đứng lại rồi đi tiếp, cuối cùng đến một nơi như cố định. Họ lại khiêng anh một lần nữa, lên cầu thang gác và đưa vào một căn phòng nhỏ chung quanh có tường trắng. Họ đặt anh vào một chiếc giường êm và dễ chịu hơn. Anh cảm thấy đầu mình đã đặt xuống gối, và đến lúc anh tỉnh lại, anh tưởng như chỉ còn một mình mình. Nhưng rồi anh thấy mắt mình vẫn nhìn được và tưởng như Kate đang đứng trước mặt anh. Anh định giơ tay sờ vào người chị, định nói, nhưng không thốt được thành lời.
 
Chị mỉn cười, nhưng anh biết chị không thấy được anh cũng mỉm cười. Anh lại tỉnh. Kate vẫn còn đó nhưng mặc chiếc áo khác. Hay là chị đã đi rồi lại đến nhiều lần? Chị lại cười với anh. Không biết đã bao lâu rồi nhỉ? Anh cố nghiêng đầu đi một. chút, trông thấy Richard con trai anh, nó đã cao lớn và đẹp trai rồi.
 
Anh muốn nhìn các con gái nhưng không nghiêng được đầu thêm nữa. Chúng đã bước gần đến bên anh để anh nhìn thấy được. Virginia, lẽ nào nó đã lớn bằng này rồi? Và Lucy nữa kia, không thể thế được.
 
Những năm tháng sao đã trôi đi nhanh thế? Anh ngủ thiếp đi.
 
Anh lại tỉnh dậy. Không có ai ở đây, nhưng bây giờ anh đã cựa quậy được cái đầu. Người ta đã tháo đi một số băng và bây giờ anh có thể nhìn rõ hơn. Anh định nói điều gì đó, nhưng không nói thành lời được.
 
Kate chỉ đứng nhìn. Mớ tóc vàng của chị đã dài hơn, trùm xuống vai. Đôi mắt nâu hiền dịu và nụ cười không sao quên được của chị bây giờ thật đẹp, rất đẹp Anh gọi tên chị. Chị cười. Rồi anh lại ngủ thiếp.
 
Anh lại tỉnh dậy nữa. ít băng quấn hơn trước. Lần này con trai anh nói.
 
- Chào bố, - Richard nói.
 
Anh nghe tiếng nói của con và đáp. - "Chào Richard", nhưng không nhận ra tiếng của chính mình.
 
Cô y tá đỡ anh ngồi dậy, sẵn sàng chào đón cả gia đình. Anh cảm ơn cô. Một bác sĩ sờ vào vai anh.
 
- Cái đáng lo nhất đã qua rồi, ông Kane. Ít hôm nữa ông sẽ khỏe và về nhà được.
 
anh mỉm cười nhìn Kate bước vào phòng, có virginia và Lucy đi theo sau. Anh muốn hỏi mẹ con rất nhiều điều. Bắt đầu từ đâu nhỉ? Trí nhớ của anh có nhiều khoảng trống phải lấp đã. Kate cho anh biết là anh đã gần chết. Anh biết như thế, nhưng không thể ngờ được là từ lúc binh đoàn của anh bị phục kích trong rừng Remagen đến giờ đã hơn một năm trôi qua rồi.
 
Những năm tháng hôn mê bất tỉnh đã đi đâu cả, những tháng mà sự sống đã mất đi chẳng khác gì như đã chết? Richard bây giờ đã gần mười hai tuổi, đã đang chuẩn bị vào trường Si. Paul rồi. Virginia đã lên chín và Lucy gần lên bẩy. Hình như áo chúng nó mặc đã ngắn hơn trước. Anh lại phải tìm hiểu các con từ đầu Kate có vẻ như đẹp hơn là William nhớ lại. Chị bảo với William là không bao giờ chị chấp nhận việc anh có thể chết, chị kề cho anh nghe Richard học ở Buckley rất khá và Viginia chừng như Lucy đều rất nhớ bố. Chị nén đau nói với anh rằng những vết sẹo trên mặt và trên ngực rồi sẽ lành. Chị cảm ơn Chúa khi nghe các bác sĩ đảm bảo với chị rằng óc anh không hề gì và mai kia anh sẽ có thể nhìn được như thường. Chị chỉ mong mình có thể làm được gì giúp cho anh phục hồi mau chóng.
 
Mỗi thành viên trong gia đình đóng một phần vào quá trình phục hồi ấy. Richard giúp bố đi lại cho đến lúc không cần đến nạng nữa. Lucy giúp bố ăn đến lúc nào bố tự ăn được. Virginia đọc sách của Mark Twain cho bố nghe. William không biết là nó đọc vì nó hay vì anh, vì cả hai bố con đều rất thích. Đêm nào William không ngủ được, thì Kate đến ngồi bên cạnh.
 
Rồi cuối cùng sau lễ Giáng sinh là bệnh viện cho anh được về nhà.
 
Một khi đã về đến căn nhà ở Đường 68 rồi, William phục hồi càng nhanh chóng. Các bác sĩ dự đoán chỉ trong sáu tháng nữa là anh có thể trở về ngân hàng làm việc. Tuy người có sứt sẹo đấy nhưng rất linh hoạt. Anh được phép tiếp khách đến thăm.
 
Người đầu tiên đến thăm là Ted Leach. Ông ta ngạc nhiên với vẻ bề ngoài khác hẳn của anh. Theo Ted nói lại, William được biết là trong năm qua ngân hàng Lester làm ăn đã khá hơn, và các bạn đồng nghiệp mong chờ anh về với tư cách là chủ tịch của họ. Tony Simmons đến thăm với những tin tức khiến anh đau buồn. Lan Lloyd và Rupert Cork- smith đều qua đời. Như thế là anh không còn được nghe những lời khuyên của họ nữa. Rồi Thomas Chen có gọi đến nói ông ta rất hài lòng được tin William đã bình phục, đồng thời cũng cho anh biết rằng ông ta đã về hưu nửa vời, chuyển rất nhiều khách hàng sang cho anh con trai của ông là Thađeus hiện nay đang có văn phòng ở New York. William nhận xét là cả hai bố con cùng mang tên của các thánh tông đồ. Thomas Chen cười và nói ông hy vọng Wilham vẫn sẽ tiếp tục sử dụng đến công ty của ông. William đảm bảo với ông như vậy.
 
- Nhân đây, tôi có một mẩu tin này mà có lẽ ông cũng cần biết.
 
William yên lặng nghe ông luật sư già nói và anh bỗng trở nên giận dữ, rất giận dữ.
 
Chương 20
 
Tướng Alfred Jodl ký bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện tại Reims ngày 7 tháng 5, 1945 trong khi Abel trở về New York lúc này đang chuẩn bị lễ chiến thắng và kết thúc chiến tranh. Một lần nữa, đường phố lại đầy chặt những người trẻ tuổi mặc quân phục, nhưng lần này vẻ mặt của họ là vui mừng thật sự chứ không phải vui gượng như trước. Abel lấy làm buồn thấy có quá nhiều người cụt chân, cụt tay, mù hoặc sứt sẹo đầy mình. Đối với họ, chiến tranh không bao giờ là kết thúc, dù cho người ta có ký kết những tờ giấy gì đi nữa ở cách xa đây bốn nghìn dặm.
 
Khi Abel bước vào khách sạn Nam tước trong bộ đồ trung tá thì chẳng ai nhận ra được anh. Ba năm trước đây, lần cuối cùng họ thấy anh trong quần áo bình thường thì vẻ mặt anh lúc đó còn trẻ chứ có đâu sứt sẹo thế này. Khuôn mặt họ trông thấy bây giờ còn già hơn cái tuổi ba mươi chín của anh. Những nét nhăn trên trán chứng tỏ chiến tranh còn để lại dấu vết trên người anh. Anh đi thang máy lên tầng bốn mươi hai là văn phòng của mình, một người bảo vệ cứ khăng khăng là anh lên nhầm tầng.
 
- George Novak đâu? - Abel hỏi.
 
- Ông ấy ở Chicago, thưa Trung tá, - Người bảo vệ đáp - Gọi ông ấy ra nghe điện thoại, - Abel nói - Tôi sẽ bảo là ai gọi?
 
- Abel Rosnovski.
 
Anh bảo vệ vội chạy đi.
 
Giọng quen thuộc của George lạch cạch trên điện thoại chào mừng khiến Abel cảm thấy trở về nhà thật là dễ chịu. Anh đã mong mãi mới có hôm nay. Anh quyết định đêm đó không ở lại New York và lên máy bay đi ngay tám trăm dặm về Chicago. Anh đem theo báo cáo mới nhất của George để đọc trên máy bay.
 
Anh xem kỹ từng chi tiết những tiến bộ của Công ty Nam tước trong những năm cuối cùng của chiến tranh, vui mừng thấy George đã làm ăn khá và trong những năm anh đi vắng vẫn giữ được cho công ty ở cái thế vững vàng. Abel không có điều gì phải phàn nàn về sự thận trọng của George trong việc dùng người. Lợi nhuận vẫn cao vì trong chiến tranh nhiều nhân viên làm việc đã đi quân dịch nhưng khách sạn vẫn đông người vì khắp nước người ta đi lại nhiều.
 
Abel quyết định dùng ngay nhân viên mới nếu không các khách sạn khác sẽ chọn lấy những người tốt nhất mới trở về.
 
Đến sân bay Midway, cửa vào 11c, anh đã thấy có George đứng sẵn đó chờ anh. George hầu như không thay đồi gì, chỉ có béo hơn một chút, tóc rụng đi một ít thôi. Họ nói chuyện với nhau đến một giờ về tất cả những chuyện gì đã xảy ra trong ba năm qua mà Abel tưởng như mình chưa hề đi vắng xa. Abel thầm cảm ơn con tàu Mũi Tên Đen đã giới thiệu cho anh một người làm phó chủ tịch công ty như vậy.
 
Tuy nhiên George thì khổ tâm về chuyện thấy Abel có vẻ như khập khiễng hơn cả hồi đi.
 
- Ông Thọt của ngành khách sạn đó, - Anh ta nói đùa. "Bây giờ anh không còn chân mà đứng nữa nhé" - Chỉ có anh Ba lan mới đùa ngốc thế, - Abel đáp.
 
George cười và có vẻ ngượng như vừa bị chủ mắng.
 
- Cảm ơn Chúa là tôi đã có được một anh Ba lan ngốc trông nom cho mọi thứ trong khi tôi đi tìm bọn Đức Abel không cưỡng lại được chuyện đi quanh một tua xem khách sạn Nam tước Chicago đã rồi mới lên xe về nhà. Trong những năm chiến tranh thiếu thốn, khách sạn không còn giữ được vẻ lộng lẫy như xưa nữa. Anh thấy có nhiều thứ cần được đổi mới. Nhưng thôi, hãy để đấy đã. Ngay lúc này đây, tất cả những gì anh cần là gặp lại vợ con. Bỗng anh như bị choáng.
 
ở George thì ba năm qua không thay đổi gì mấy nhưng Florentyna thì khác hẳn. Cô bé bây giờ đã mười một tuổi và đã biến thành một thiếu nữ rất xinh đẹp trong khi đó thì Zaphia, mặc dầu chỉ mới ba mươi tám, trông đã như một bà trung niên béo ụt ịt xấu xí.
 
Đầu tiên là Zaphia và Abel không biết phải đối xử với nhau như thế nào và vài tuần sau đó thì Abel hiểu ra là quan hệ giữa hai người với nhau không còn có thể như trước kia được nữa. Zaphia không làm gì để kích thích Abel và cũng chẳng tỏ ra hứng thú gì với những cố gắng của anh. Anh lấy làm buồn thấy vợ không quan tâm. Anh định cho chị ta chú ý đến công việc của anh hơn, nhưng chị không thiết. Chị ta chỉ hài lòng với việc ở nhà và không muốn dính dáng gì đến Công ty Nam tước. Anh đành cứ để chị như vậy, và không biết mình còn có thể trung thành với vợ được bao lâu nữa. Trông thấy Florentyna anh mừng rỡ bao nhiêu thì thấy Zaphia anh lại lạnh lùng bấy nhiêu. Cùng ngủ với nhau nhưng anh tránh không làm tình với chị. Đôi khi có làm thì anh lại nghĩ đến những người đàn bà khác. Lâu dần, anh kiếm cớ đi vắng khỏi Chicago và để tránh cái nhìn như lặng lẽ trách móc và rầu rĩ của Zaphia.
 
Anh bắt đầu đi những chuyến xa về các khách sạn khác đem Florentyna đi theo vào những kỳ cô nghỉ hè. Sau khi trở về Mỹ, anh bỏ ra sáu tháng đầu đi thăm các khách sạn của công ty Nam tước như anh đã làm hồi tiếp quản Công ty Rich Mong sau khi Davis Loroy qua đời. Trong năm, khách sạn nào cũng trở lại được với những tiêu chuẩn anh mong đợi.
 
Nhưng Abel muốn tiến lên hơn nữa. Anh báo cho Curtis Fenton biết trong một cuộc họp của công ty là tổ nghiên cứu thị trường của anh đã khuyên anh nên cho xây một khách sạn ở Mexico và một nứa ở Brazil, trong khi đó họ vẫn đang tìm những vùng đất mới để xây khách sạn Nam tước.
 
- Nam tước Mexico City và Nam tước Rio de Janeiro, - Abel nói. Anh thích nghe những cái tên đó vì nó âm vang.
 
- Ông có đủ kinh phí để xây được những cái đó, - Curtis Fenton nói. trong khi ông đi vắng thì tiền đã tích luỹ được nhiều đấy. Ông có thể xây Nam tước ở bất cứ nơi nào ông muốn. Có Trời mà biết được đến bao giờ thì ông mới thôi không xây nữa, hả ông Rosnovski".
 
- Một ngày kia, ông Fenton ạ, tôi sẽ xây một Nam tước ở ngay Warsaw, rồi sau đó tôi sẽ thôi, - Abel nói. - Có thể là tôi đã góp phần đánh bại được bọn Đức rồi, nhưng tôi vẫn còn có món nợ phải thanh toán với bọn Nga nữa.
 
Curtis Fenton cười. (Chỉ mãi đến tối, khi kể lại chuyện cho vợ nghe, ông ta mới hiểu được là Abel Rosnovski đã quyết tâm xây cho được một Nam tước ở Warsaw).
 
- Còn đối với ngân hàng của Kane thì sao rồi?
 
Abel bỗng đổi giọng làm Curtis Fenton chột dạ.
 
ông lo ngại thấy Abel Rosnovski vẫn còn cho là William Kane phải chịu trách nhiệm về cái chết quá sớm của Davis Loroy. Ông mở hồ sơ đặc biệt ra xem lại ông đọc:
 
- Lester, Kane và công ty có chứng khoán chia ra cho mười bốn thành viên của gia đình Lester cùng với sáu người làm việc trước kia và hiện nay, trong khi đó bản thân ông Kane là cổ đông lớn nhất với tám phần trăm của quỹ ủy thác gia đình.
 
- Có người nào của gia đình Lester muốn bán cổ phiếu không? Abel hỏi.
 
- Nếu chúng ta trả giá cao thì mua được. Cô Susan Lester, con gái của Chales Lester trước đây, đã cho chúng tôi biết là cô có thể xét đến bỏ phần chứng khoán của cô, và ông Peter Parfitt, một cựu phó chủ tịch của Lester, cũng tỏ ra quan tâm đến việc chúng ta muốn mua lại.
 
- Họ chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
 
Susan Lester có sáu phần trăm. Peter Parfitt chỉ có hai phần trăm.
 
Họ muốn bao nhiêu?
 
Curtis Fenton lại nhìn vào hồ sơ trong khi Abel cũng liếc nhìn vào báo cáo hàng năm mới nhất của Lester. Anh dừng lại ở Điều thứ bảy.
 
- Cô Susan muốn hai triệu đô la cho chỗ sáu phần trăm của cô, còn ông Parfitt đòi một triệu đô la cho chỗ hai phần trăm.
 
- Ông Parfitt tham quá đấy, Abel nói. "Vậy chúng ta chờ cho đến khi nào ông ta thật đói. Ông hãy mua ngay chứng khoán của cô Susan Lester mà không cần nói ông đại diện cho ai, còn khi nào ông Parfitt thay đổi ý kiến thì ông báo cho biết".
 
Curtis Fenton lên tiếng ho.
 
- Ông có thấy phiền điều gì không, ông Fenton. - Abel hỏi.
 
Curtis Fenton ngập ngừng. "Không, không có gì, - Ông dè dặt đáp.
 
- Thế thì tốt, vì tôi sẽ để cho một người nhận tài khoản đó, một người chắc là ông biết rồi, Henry osbome.
 
- Nghị sĩ osborne ấy ư - Curtis Fenton hỏi.
 
- Phải, ông có quen ông ta không ?
 
- Tôi chỉ biết tiếng - Fenton nói với một giọng như không thích lắm va ông cúi đầu xuống.
 
Abel không để ý Anh biết tiếng Henry đã đành, nhưng anh còn biết ông ta có khả năng vượt qua những bọn quan liêu trung gian và có được những quyết định chính trị nhanh chóng, do đó Abel xét có thể mạo hiểm với ông ta được. Ngoài ra, hai người đều có mối căm thù chung đối với ông Kane.
 
- Tôi cũng mời ông osborue làm giám đốc của Công ty Nam tước đặc trách về tài khoản Kane. Điều này phải được coi là hết sức mật, vậy xin ông giữ kín cho.
 
- Vâng, tuỳ ông, - Fenton buồn bã nói. Ông nghĩ bụng không biết mình có nên nói ra điều hoài nghi của mình cho Abel Rosnovski biết không.
 
- Giải quyết xong với cô Susan Lester thì ông cho tôi biết ngay nhé.
 
Vâng, thưa ông Rosnovski, - Curtis Fenton đáp nhưng không ngửng đầu lên.
 
Abel quay về khách sạn Nam tước ăn trưa. Henry osborne đang ở đó đợi anh.
 
Ngài nghị sĩ, - Abel lên tiếng chào ông ta trong nhà sảnh.
 
Nam tước, - Henry đáp lại, rồi hai người khoác tay nhau đi vào nhà ăn, ngồi ở một chiếc bàn trong góc. Abel mắng thậm tệ một anh phục vụ vì áo anh ta để thiếu một khuy Vợ Ông khỏe không, Abel?
 
Khỏe lắm, còn vợ Ông, Henry.
 
- Rất cừ, - Cả hai người cùng nói dối.
 
- Có tin gì hay không?
 
- Có đấy Cái miếng đất ở Atlanta mà ông cần đã được trông coi cẩn thận, - Henry nói bằng một giọng kín đáo. "Giấy tờ cần thiết trong vài ngày nữa xong.
 
ông có thể bắt đầu xây Nam tước Atlanta vào khoảng đầu tháng." - Chúng ta không làm cái gì bất hợp pháp đấy chứ?
 
- Không có gì để những người cạnh tranh với ông có thể mó đến được, điều đó tôi đảm bảo, Abel. - Henry osborue cười.
 
Thế thì tốt, Henry. Tôi không muốn rắc rối với pháp luật.
 
- Không, không, - Henry nói. "Chỉ có ông với tôi biết về chuyện này thôi".
 
- Tốt, - Abel nói. "Trong những năm qua ông đã giúp tôi được nhiều lắm, Henry, và tôi có chút quà này cho ông về những cái ông đã làm. Ông có muốn trở thành một trong những giám đốc của Công ty Nam tước không?
 
- Vậy thì vinh dự cho tôi lắm, Abel.
 
- Ông đừng nói thế. Ông đã giúp cho tôi có được biết bao nhiêu giấy phép xây dựng, quý hoá biết chừng nào. Tôi thì tôi chẳng bao giờ có thời gian đi giao thiệp với những nhà chính trị và đám quan liêu cả Thế mà họ thì họ lại cứ muốn giao thiệp với những người tốt nghiệp Hazward kia, mà ngược lại đám này lại rất coi thường họ chứ.
 
- Ông đối với tôi thế là rộng rãi lắm, Abel.
 
- Chẳng qua là đáp nghĩa đối với ông thôi. Bây giờ thì tôi muốn ông làm việc này lớn hơn mà lại thiết thân đến chúng ta nữa, nhưng phải rất bí mật mới được Việc này không tốn thì giờ của ông lắm nhưng lại giúp cho chúng ta có thể trả thù được cái ông bạn chung của chúng ta ở Boston ấy, ông William Kane.
 
Người quản lý nhà ăn đưa đến hai đĩa bít- tết thịt bò thật ngon. Henry chăm chú nghe Abel trình bày kế hoạch của anh ta về William Kane.
 
Mấy ngày sau, vào mùng 8 tháng 5, 1946, Abel đi New York để dự lễ kỷ niệm chiến thắng. Anh tổ chức một bữa tiệc cho hơn một nghìn cựu binh Ba lan ở khách sạn Nam tước, mời tướng Kasimierz Sosnkowski là tổng chỉ huy các lực lượng Ba lan ở Pháp sau năm 1943, làm khách tham dự. Abel đã chờ đợi sự kiện này từ mấy tuần trước, và anh đem theo Florentyna về New York, Zaphia ở lại Chicago.
 
Đêm liên hoan, phòng tiệc của khách sạn Nam tước New York được trang hoàng lộng lẫy, tất cả 120 bàn tiệc đều cờ sao vạch của Mỹ và cờ trắng đỏ của Ba lan. Chung quanh tường đều có ảnh của các tướng lĩnh Eisenhower, Patton, Bradley, Clark, Paderewski và Sikorsky. Abel ngồi ở giữa bàn đầu, viên tướng ngồi phía bên phải anh và Florentyna, bên trái.
 
Tướng Sosnkowski đứng lên phát biểu và tuyên bố Trung tá Rosnovski đã được bầu làm chủ tịch suốt đời của Hội cựu binh Ba Lan vì những hy sinh to lớn của ông cho sự nghiệp chung Ba lan - Mỹ, nhất là việc ông đã dành khách sạn Nam tước New York cho quân đội suốt thời kỳ chiến tranh. Một người ở cuối phòng, có lẽ uống nhiều rượu đã hơi say, lên tiếng hét to:
 
- Chúng ta sống sót được với bọn Đức thì cũng sống sót được với bữa tiệc này của Abel.
 
Hàng nghìn cựu binh cùng cười lên vui vẻ, chúc Abel bằng rượu vốt ka của Danzig. Rồi họ yên lặng nghe viên tướng nói về tình cảnh Ba lan sau chiến tranh vẫn còn bị nước ngoài xâm chiếm, kêu gọi mọi người hãy tiếp tục đấu tranh để giành lại chủ quyền cho quê hương đất nước. Abel tin rằng một ngày kia Ba lan sẽ được tự do và anh sẽ còn sống để được thấy tòa lâu đài trả về cho anh. Tuy nhiên, anh vẫn còn nghi ngại, không biết rồi có thực hiện được ý nguyện đó không Viên tướng tiếp tục nhắc nhở mọi người rằng những người Mỹ gốc Ba lan, nếu tính theo đầu người, còn hy sinh nhiều nhân mạng và tiền của hơn bất cứ nhóm ngoại kiều nào khác ở Mỹ. "Thử hỏi có bao nhiêu người Mỹ tin rằng Ba lan đã mất sáu triệu người .trong khi đó Tiệp Khắc chỉ mất có mười vạn?
 
Một số người bảo là chúng ta ngốc không chịu đầu hàng ngay khi biết là thế nào mình cũng bị đánh bại.
 
Một dân tộc đã biết dùng ky binh để chống lại xe tăng của bọn Quốc xã thì sao có thể bị đánh bại được? Các bạn thấy đó, rõ ràng là bây giờ chúng ta không bị bại".
 
Abel lấy làm buồn thấy rằng phần lớn người Mỹ vẫn còn cười khi họ nghe nói đến cố gắng chiến tranh của Ba lan, nhất là khi nghe nói đến anh hùng chiến đấu của Ba lan. Viên tướng kia lại thuật lại cho cử tọa nghe về câu chuyện Abel dẫn một đoàn người đi cứu đồng ngũ bị chết và bị thương trong trận Remagen. Viên tướng nói xong và ngồi xuống rồi, các cựu binh đều đứng dậy hoan hô hai người mãi.
 
Florentyna rất lấy làm tự hào về cha mình.
 
Abel rất ngạc nhiên thấy sáng hôm sau báo chí đều đăng lại chuyện đó. Trước nay, những thành tích của Ba lan ít khi được tưa lên báo chí xuất hiện trong tờ báo riêng của họ thôi. Anh nghĩ bụng giá như mình không phải là Nam tước Chicago thì báo chí cũng chẳng nhắc đến chuyện này làm gì đâu. Tự nhiên Abel được hưởng cái vinh dự như một anh hùng Mỹ chưa được ca tụng, và suốt ngày hôm đó anh phải đứng cho người ta chụp ảnh và phỏng vấn.
 
Đến tối thì Abel mới cảm thấy thất vọng. Viên tướng đã lên máy bay đi Los Angeles làm việc khác, Florentyna trở về trường ở La ke Forest, George ở Chicago, còn Henry osborne đã đi Washington. Khách sạn Nam tước New York bỗng trở nên quá rộng và trống vắng đối với Abel. Tuy nhiên, anh không có ý muốn trở về Chicago với Zaphia.
 
Anh quyết định ăn sớm ở dưới nhà rồi xem lại một loạt những báo cáo hàng tuần của các khách sạn khác trong công ty, sau đó lên căn phòng ở gác thượng, cạnh phòng làm việc. Anh ít khi ăn một mình trong phòng riêng, trái lại muốn được ăn ở phòng ăn chung của khách sạn để tiện quan sát các hoạt động. Càng có thêm nhiều khách sạn mới, anh càng lo sợ mất đi mối quan hệ chặt chẽ với các nhân viên ở dưới.
 
Abel đi thang máy xuống nhà, dừng lại ở quầy tiếp tân hỏi xem tối nay có bao nhiêu người thuê phòng, nhưng anh chợt nhìn thấy một người đàn bà khá đẹp đang đứng đó ghi tên. Anh tin chắc là mình có quen biết người đàn bà này, nhưng ở chỗ anh đứng khó nhận ra được. Khoảng ngoài ba mươi, anh nghĩ bụng.
 
Viết xong, cô ta quay ra nhìn anh.
 
- Abel, - Cô ta nói. "Gặp anh tuyệt quá".
 
- Trời đất ơi, Melaniel Tôi không nhận được ra cô nữa.
 
Còn anh thì ai cũng nhận ra được, Abel.
 
- Tôi không biết là cô đang ở New York.
 
Chỉ qua một đêm thôi. Tôi ở đây có việc cho tờ báo.
 
- Cô là nhà báo à? - Abel hỏi có vẻ không tin.
 
- Không, tôi là cố vấn kinh tế cho một số tờ báo có trụ sở ở Dallas. Tôi đến đây nghiên cứu về thị trường.
 
Hay đấy nhỉ.
 
- Không hay lắm đâu, - Melanie nói, nhưng có việc làm cho đỡ hư thôi.
 
- Cô có thì giờ ăn tối với tôi được không?
 
- Ý kiến hay đấy, Abel. Nhưng tôi cần đi tắm thay quần áo cái đã, anh chờ được chứ.
 
- Tất nhiên, tôi chờ được. Hẹn gặp cô ở nhà ăn chính nhé. Cô đến chỗ bàn tôi, khoảng một tiếng đồng hồ thôi.
 
Cô mỉm cười rồi đi theo chú nhỏ ra thang máy. Abel ngửi thấy mùi nước hoa lúc cô bước qua. Abel vào nhà ăn xem bàn của anh có hoa tươi không, rồi vào bếp chọn thức ăn sẽ gọi cho Melanie.
 
Cuối cùng không còn gì để làm nữa, anh ngồi vào đó chờ. Anh luôn luôn liếc nhìn đồng hồ rồi lại nhìn ra cửa nhà ăn xem Melanie có đến không. Cô ta sửa soạn đến hơn một tiếng mới xong, nhưng cũng bõ cho anh chờ. Lúc cô ta xuất hiện ở cửa vào trong tấm áo dài bó sát người và long lanh dưới ánh đèn nhà ăn, trông cô thật đẹp và lịch sự. Người phụ trách nhà ăn vội đưa cô đến bàn Abel ngồi. Anh đứng dậy đón, trong khi một người hầu bàn mở chai rượu Krug và rót ra hai cốc.
 
- Hoan nghênh cô, Melanie. - Abel rót và nâng cốc.
 
"Rất mừng gặp lại cô ở Nam tước".
 
- Rất mừng được gặp lại Nam tước, - Cô nói, "nhất là trong ngày kỷ niệm chiến thắng".
 
- Cô nói thế là sao? - Abel hỏi.
 
- Tôi đọc báo thấy nói về bữa tiệc lớn của anh, lại được biết anh mạo hiểm cứu những đồng đội bị thương ở Remagen. Chuyện hấp dẫn lắm. Hóa ra anh là một chiến sĩ vô danh nhưng nổi tiếng.
 
- Họ nói quá lên đó thôi, - Abel nói.
 
- Tôi chưa hề thấy anh khiêm tốn bao giờ, Abel, vì vậy tôi tin rằng những điều họ thuật lại là đúng.
 
Anh rót cho cô ta cốc sâm banh thứ hai.
 
- Sự thật là trước nay tôi chỉ sợ có cô thôi, Melanie.
 
Nam tước mà còn biết sợ ai nữa? Tôi không tin.
 
- Đúng đấy, tôi không phải một anh chàng quý tộc ở miền Nam, như cô đã có lần nhận xét như thế rồi đấy - Anh luôn luôn nhắc đến những chuyện cũ. - Cô mỉm cười rồi hỏi đùa:
 
"Thế anh có lấy cô gái Ba lan xinh đẹp không - Có tôi có lấy - Có hạnh phúc không?.
 
- Không hay lắm. Cô ta bây giờ béo tròn, đã bốn mươi rồi, và chẳng còn hấp dẫn gì đối với tôi nữa.
 
- Rồi sau đó anh sẽ bảo là cô ta không hiểu được anh chứ gì, - Melanie nói, giọng cô có vẻ thích thú vừa nghe Abel nói.
 
- Thế cô có kiếm được chồng cho mình không? - Abel hỏi.
 
- Ồ có chứ, - Melanie đáp. "Tôi lấy một anh chàng thực sự quý tộc ở miền Nam, với đủ những tiêu chuẩn của nó".
 
- Thế thì rất mừng cho cô, - Abel nói.
 
- Năm ngoái tôi ly dị anh ta rồi, với một khoản tiền lớn - Ồ tiếc quá nhỉ, - Abel nói, nhưng trong bụng lại thích. "Cô uống thêm sâm banh nữa chứ Anh có định tìm cách quyến rũ tôi không đấy, Abel?
 
- Chờ cô ăn xong đã chứ, Melanie. Mặc dầu thế hệ đầu tiên của những người Ba lan nhập cư có một số tiêu chuẩn đấy, nhưng tôi phải thừa nhận nếu có quyến rũ thì bây giờ là đến lượt tôi.
 
Vậy tôi phải cảnh cáo anh trước, Abel, là từ khi ly dị chồng tới giờ tôi chưa ngủ với một người đàn ông nào khác. Chả thiếu gì đâu, nhưng không có ai ra hồn cả Sờ soạng thì nhiều đấy, nhưng yêu thì quá ít.
 
Họ ăn cá hun khói, kem trứng và phó mát Rothshild. Họ kể lại cho nhau nghe về đời mình từ cuộc gặp lần trước đến nay.
 
- Lên tầng thượng uống cà- phê chứ. Melanie?
 
- Sau một bữa ăn thịnh soạn thế này, còn có cách chọn lựa nào khác nữa đâu? - Cô ta nói.
 
Abel cười và khoác tay cô ra khỏi nhà ăn rồi vào thang máy. Cô ta hơi loạng choạng với đôi giày gót cao khi bước vào thang máy. Abel bấm vào nút số 42.
 
Melanie nhìn những con số chạy, mỗi khi qua một tầng. "Tại sao không có tầng mười bẩy" cô ngây thơ hỏi. Abel không biết trả lời thế nào.
 
Lần trước tôi uống cà phê trong phòng anh.... - Melame định nói nữa.
 
Thôi đừng nhắc lại, - Abel nói, sợ cô ta nhắc đến chuyện đau thương cũ. Họ bước ra ngoài thang máy vào tầng 42 và chú nhỏ chạy đến mở cửa phòng.
 
Trời ơi - Melani nhìn căn phòng thốt lên. abel, phải nói là anh đã học được cách sống của một đại triệu phú rồi đấy. Tôi chưa từng thấy những gì quá đáng đến như thế này".
 
Abel đang sắp giơ tay ra ôm lấy cô thì có tiếng gõ cửa. Một nhân viên phục vụ trẻ đưa cà phê với một chai Remy Martin đến.
 
- Cám ơn chú, Mike, - Abel nói. "Tối nay chỉ có thế thôi là hết".
 
- Thế là hết ư? - Melanie cười nói.
 
Chú phục vụ nghe thấy thế đỏ mặt, nhưng vì chú là da đen nên không rõ. Chú nhanh chóng bước ra ngoài.
 
Abel rótc cà phê và rượu brandy. Cô ta từ từ nhấp rượu, ngồi bắt tréo hai chân. Abel cũng muốn ngồi bắt tréo hai chân nhưng anh chưa biết xoay thế nào. Lúng túng một lát, anh nằm ngay xuống bên cạnh cô. Cô ta xoa tóc anh. Anh đưa tay lần lần lên đùi cô. Họ bắt đầu hôn nhau thì Melanie đưa chân hất chiếc giầy của cô bắn ra, vô ý thế nào làm đổ luôn cả cà phê lên tấm thảm Ba Tư.
 
- Ôi thôi chết? - Cô nói. "Làm hỏng cái thảm đẹp của anh rồi".
 
- Mặc kệ nó đấy. - Abel nói và kéo cô lại gần mình, đưa tay mở khóa kéo sau áo. Melanie cung cởi khuy áo sơ- mi của anh. Abel vừa hôn vừa định cởi áo nhưng vướng khuy ở tay áo, anh đành tập trung vào cởi áo cho cô ta trước. Thân hình của cô chưa hề mất đi chút nào cái đẹp của nó và vẫn đúng như anh hình dung, chỉ có khác là bây giờ đầy đặn hơn. Bộ ngực căng phồng và đôi chân dài thon thả. Anh chịu không cởi được khuy tay áo nữa, đành buông cô để cởi cho xong, và anh biết rằng thân thể của mình chẳng ra thế nào so với cô ta thật đẹp. Anh chợt nghĩ đến tất cả những gì anh đã được học về phụ nữ thường bị hút vào những người đàn ông có quyền lực thì bây giờ anh thấy đúng là như vậy. Cô ta không nhăn nhó như đã có lần trông thấy anh trước đây. Anh từ từ vuốt ve ngực cô và thân hình cô. Chiếc thảm Ba tư xem ra còn tiện hơn cả giường nữa. Cô ta cũng vừa hôn anh vừa cởi hết những gì còn lại trên người.
 
Nghe tiếng cô ta rên rỉ, anh chợt hiểu ra đã lâu lắm mình không có được cảm giác đê mê như vậy.
 
Nhưng bây giờ cảm giác ấy trôi qua cũng rất nhanh. Cả hai người chẳng ai nói gì, họ nằm thở dốc một lúc lâu Bỗng Abel cười khẩy.
 
anh cười gì thế - Melanie hỏi.
 
- Không - Abel nói - Anh nhớ đến đoạn trong cuốn sách của bác sĩ Johnson mô tả cái tư thế quái gở của con người ta và cái sung sướng chỉ có trong chốc lát.
 
Abel nằm lại và Melanie gối đầu lên vai anh. Abel lấy làm lạ thấy mình không còn thèm muốn gì cô ta nữa. Anh đang nghĩ xem tìm cách gì để cho cô đi khỏi đây mà không tỏ ra thô bạo, thì cô bỗng nói. "Em không ở lại đây cả đêm được đâu, Abel. Em có cuộc hẹn sáng sớm mai nên phải đi ngủ một lúc. Em không muốn để người ta tưởng cả đêm em nằm trên cái thảm Ba tư này của anh".
 
- Em phải đi à? - Abel nói, ra vẻ thất vọng nhưng thực tình không thất vọng lắm.
 
- Em rất tiếc, anh ạ. - Cô đứng dậy vào buồng tắm.
 
Abel nhìn cô mặc áo và kéo giúp cho cô chiếc khóa kéo trên áo. Anh thấy cô mặc quần áo và có vẻ nhanh chóng và dễ dàng hơn lúc vội vã cởi ra. Anh hôn lên bàn tay chào cô.
 
- Anh hy vọng chúng ta sẽ lại sớm gặp nhau, - Anh nói dối.
 
- Em cũng hy vọng thế. - Cô ta nói, và cô cũng biết rằng anh ta không nói thật.
 
Anh khép cửa lại rồi bước đến điện thoại ở bên giường - Cô Melanie Leroy ở phòng nào thế - Anh hỏi.
 
ở dưới nhà chưa trả lời ngay được. Anh nghe rõ cả tiếng giở sổ đăng ký.
 
Abel sốt ruột gõ ngón tay lên bàn.
 
- Không có ai đăng ký tên đó, thưa ông, - Dưới nhà trả lời. Ở đây chỉ có bà Malanie Seaton từ Dallas, Texas đến lúc chiều và sáng mai sẽ đi luôn".
 
Đúng bà đó đấy, - Abel nói. "Hóa đơn của bà ta tính vào tôi nhé".
 
- Thưa vâng.
 
Abel bỏ máy xuống, đi tắm nước lạnh một lúc lâu trước khi đi ngủ. Anh cảm thấy thoải mái, bước đến bên lò sưởi, rồi lên giường, tắt ngọn đèn đã chứng kiến hành động gian dâm đầu tiên của anh và để ý thấy vết loang cà phê trên thảm lúc này đã khô rồi.
 
Anh vừa giơ tay tắt đèn vừa nói to, "Con đĩ ngu ngốc".
 
Sau cái đêm đó, Abel còn thấy rất nhiều vết loang cà phê trên chiếc thảm Ba tư vào những tháng tiếp theo, vết do những cô phục vụ ngoan ngoãn gây ra, vết do những người khách không mất tiền gây ra, vì anh với Zaphia mỗi lúc một xa nhau hơn. Điều Abel không tính trước được là vợ anh đã thuê thám tử điều tra về anh và sau đó kiện đòi ly dị. Ly dị là chuyện hầu như không có trong cộng đồng những bạn bè Ba lan, phần lớn chỉ là cách ly hoặc lặng lẽ bỏ nhau. Abel cố thuyết phục Zaphia đừng làm thế, vì như vậy sẽ có ảnh hương đến chỗ đứng của anh trong cộng đồng người Ba lan, không những thế sẽ còn ngăn cản những hoạt động chính trị xã hội của anh sau này.
 
Nhưng Zaphia nhất quyết ly dị, dù muốn đi đến đâu thì đi. Abel ngạc nhiên, không ngờ cái người đàn bà rất giản dị trong bước đường thắng lợi của anh mà lại hóa ra, như George nói, một con qủy trong cuộc trả thù của cô ta như vậy.
 
Lúc Abel hỏi luật gia của anh xem đối phó thế nào, mới biết trong năm qua đã có không biết bao nhiêu cô phục vụ và những khách trọ không mất tiền đến đây với anh rồi. Anh đành chịu thua kiện, và điều duy nhất anh còn đấu tranh được là giữ lấy Florentyna lúc này đã mười ba tuổi và là niềm yêu thực sự của đời anh. Zaphia, sau một hồi gay go, chấp nhận số tiền bồi thường 500.000 đô la cộng với ngôi nhà ở Chicago và quyền được gặp Florentyna vào ngày cuối tuần của mỗi tháng.
 
Abel chuyển trụ sở và nhà riêng xuống New York. George gọi anh là "Nam nước Chicago lưu vong, vì anh đi khắp nơi trên đất Mỹ xây khách sạn mới và chỉ khi nào cần gặp Curtis Fenton anh mới trở về Chicago mà thôi.
 
Chương 21
 
Bức thư để mở nằm trên bàn trong phòng khách, bên chiếc ghế William đang ngồi. Anh mặc áo ngủ và đã đọc bức thư ấy đến lần thứ ba, cố hình dung xem tại sao Abel Rosnovski lại muốn mua nhiều cổ phiếu của ngân hàng Lester như vậy, và tại sao ông ta lại cử Henry osbome làm giám đốc của công ty Nam tước. William cảm thấy có lẽ không nên cứ đoán mò nữa. Anh nhấc điện thoại lên.
 
Cái ông Chen mới này thật là giống bố. Khi anh ta đến căn nhà phía Đông đường 68 thì không cần phải tự giới thiệu nữa. Tóc anh ta bắt đầu chớm bạc ở đúng chỗ như bố anh ta trước kia, thân người tròn trặn trong một bộ quần áo cũng như của bố nữa.
 
Có lẽ cùng là bộ quần áo ấy chưa biết chừng. Wilham chăm chăm nhìn anh ta, cảm thấy anh không chỉ có giống bố mà thôi.
 
ông không nhớ tôi đâu, ông William- Nhà luật gia nói.
 
Trời ơi - William thốt lên. cuộc tranh luận lớn ở trường Harvard. Năm một ngàn chín trăm hai mươị... ?
 
- Hai mươi tám. Ông thắng cuộc tranh luận đó và hy sinh vai trò hội viên Porcell của ông.
 
William bật cười. "Có lẽ chúng ta ở cùng một tổ thì hơn vì cái nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa của ông sẽ cho phép ông hành động Như một nhà tư bản không có gì đáng phải xấu hổ".
 
Anh đứng dậy bắt tay Thađeus Cohen. Hai người tưởng như mình hãy còn đang là sinh viên chưa tốt nghiệp.
 
William mỉm cười. "Hồi ở Câu lạc bộ Porcell, ông đã không được uống gì. Bây giờ thì sao?".
 
Thađeus Cohen lắc đầu. "Tôi không uống gì", và nháy mắt một cái khiến William rất nhớ lại hồi đó.
 
Tôi e rằng bây giờ tôi cũng đã trở thành một nhà tư bản chính hiệu rồi".
 
Anh ta có cái đầu giống hệt như bố. Rõ ràng anh ta đã được thông báo đầy đủ hồ sơ về Rosnovski - Osborne và bây giờ sẵn sàng gặp William. William đã giải thích lại sự việc đúng như anh ta yêu cầu.
 
Như trước kia, họ có báo cáo trước mắt và báo cáo ba tháng một lần. Nội dung hết sức bí mật, nhưng tôi muốn ông tìm ra bất cứ gì, - Wllliam nói. tại sao Abel Rosnovski lại mua chứng khoán Lester? Liệu ông ta còn cảm thấy tôi là người chịu trách nhiệm về cái chết của Davis Leroy không? Liệu ông ta còn tiếp tục đấu tranh với Kane và Cabot mặc dầu bây giờ nó đã nhập vào với Lester không? Trong tất cả những chuyện này, vai trò của Henry osborne là gì? Liệu một cuộc gặp giữa tôi và Rosnovski có giải quyết gì không, nhất là nếu tôi nói ngân hàng, chứ không phải tôi đã từ chối không chịu ủng hộ Công ty Richmond"?. Ngòi bút của Thađeus Cohen chạy lẹt xẹt trên giấy đúng như trước kia bố anh đã làm.
 
Tất cả những câu hỏi này cần được trả lời càng nhanh càng tốt đề tôi có thể quyết định xem có phải thông báo cho ban giám đốc của tôi không.
 
Thađeus Cohen mỉm cười dè dặt, một cái cười giống như của bố anh trước kia, và đóng cặp lại. "Tôi rất tiếc là ông đang dưỡng bệnh mà phải bận tâm như thế này. Tôi sẽ tìm hiểu ngay những sự việc này rồi trở lại với ông". Ra cửa, anh ta dừng lại một chút. "Tôi rất khâm phục điều ông đã làm ở Remagen".
 
Mấy tháng sau đó, William đã nhanh chóng phục hồi sức khỏe, những vết sẹo trên mặt và trên ngực hầu như đã mất hẳn. Đêm đêm, Kate cùng thức với anh cho đến lúc nào anh buồn ngủ. Chị thầm nói, 'tạ Ơn Chúa, anh không sao cả" .dần dần anh không còn nhức đầu ghê gớm và mất ngủ nữa, cánh tay phải đã trở lại bình thường. Kate nhất đinh chưa cho anh trở lại làm việc nếu chưa đi nghỉ ít lâu ở vùng biển Tây Đại tây dương. Trên biển, William nghỉ với Kate còn nhiều hơn thời gian trước đây họ cùng ở Lon don. Kate lấy làm mừng là trên tàu không có ngân hàng cho William hoạt động, mặc dầu chị vẫn lo là nếu hai vợ chồng còn ở trên tàu thêm một tuần nữa thì chắc thế nào William cũng tìm cách mua lại con tàu này cho Lester và tổ chức lại hoàn toàn bộ máy với chương trình hoạt động của nó, biến nó thành một đường hàng hải khác. Trở về đến New York, anh đã là một con người cháy nắng và đứng ngồi không yên, do đó Kate không thể ngăn anh trở lại ngân hàng được.
 
William đã lại lao vào những vấn đề của ngân hàng Lester. Bộ máy bây giờ là một loạt những người mới, được chiến tranh rèn luyện, hoạt động nhanh nhẹn và có hiệu quả, quản lý những ngân hàng hiện đại của Mỹ. Tổng thống Truman giành thắng lợi bất ngờ một nhiệm kỳ nữa ở Nhà Trắng sau khi tờ Diễn đàn Chicago đã đưa lên những dòng tít rất lớn là Thomas E. Dewey thắng cử. William biết rất ít về vị cựu thượng sĩ nhỏ bé của bang Missouri kia, anh chỉ đọc báo và biết rằng đó là một đảng viên Cộng hòa rất trung thành, tin chắc đảng của ông sẽ tìm được người xứng đáng đưa họ lên trong cuộc vận động bầu cử năm 1952.
 
Báo cáo đầu tiên của Thađeus Cohen cho biết Abel Rosnovski vẫn còn tìm cách mua chứng khoán của Lester. Anh ta đã tìm gặp tất cả những người được hưởng di chúc của Charles Lester nhưng chỉ có một người nhận lời. Susan Lester thì từ chối không chịu gặp luật sư của William, vì vậy anh ta không làm sao biết được nguyên nhân việc cô ta bán đi sáu phần trăm cổ đông của mình. Anh chỉ đoán chắc là cô ta không có lý do tài chính nào để làm như vậy.
 
Tài liệu báo cáo của Cohen rất hoàn chỉnh.
 
Hình như Henry osborne được chỉ định làm giám đốc Công ty Nam tước tháng 5- 1946 với trách nhiệm đặc biệt về tài khoản trong ngân hàng Lester. Quan trọng hơn nữa là Abel Rosnovski đã đảm bảo cho chứng khoán của Susan Lester chỉ có về tay ông ta hoặc osbome mà thôi. Hiện nay Rosnovski làm chủ sáu phần trăm ngân hàng Lester và có vẻ sẵn sàng trả ít nhất 750.000 đô la nữa để mua số hai phần trăm của Peter Parfit. William biết rất rõ là một khi đã chiếm được 8 phần trăm rồi thì Rosnovski có thể làm gì. William còn thấy lo là tỷ lệ lãi suất của Lester không thuận lợi bằng Công ty Nam tước bây giờ đã đang cạnh tranh với những đối thủ như Hilton và Sheraton William nghĩ không biết có nên thông báo cho ban giám đốc về những đlều anh mới được biết này không, và còn nghĩ không biết có nên trực tiếp nói chuyện với Abel Rosnovski không. Mất mấy đêm không ngủ, anh quay sang hỏi ý kiến Kate.
 
- Anh đừng làm gì hết, - Kate nói. "Để xem có đúng những ý đồ của ông ta là như vậy không đã chứ. Có khi lại là cơn bão trong tách nước trà đó thôi".
 
- Với Henry osborne làm tay sai thì có thể biết chắc là cơn bão còn ra ngoài cả tách trà nữa. Anh không thể cứ ngồi đó mà chờ tìm hiểu xem âm mưu của họ đối với mình là thế nào.
 
- Ông ta có thể thay đổi chứ, William. Chuyện giao dịch cá nhân với ông ta đến nay cũng đã hơn hai chục năm rồi còn gì.
 
Kate không nói gì thêm, nhưng William đành cứ cho là như vậy. Anh không làm gì khác, chỉ chờ báo cáo hàng quý của Chen, và mong rằng linh cảm của Kate là đúng.
 
 Chương 22 
 
Công ty nam tước kiếm được rất nhiều lợi nhuận trong tình hình kinh tế bùng nổ sau chiến tranh ở Mỹ. Từ những năm hai mươi đến giờ, chưa có khi nào kiếm tiền được nhanh chóng và dễ dàng như vậy. Vào những năm đầu của thập kỷ năm mươi, người ta bắt đầu tin rằng lần này thì sẽ bền lâu hơn. Nhưng Abel không bằng lòng với những thành công của mình chỉ về mặt tài chính mà thôi. Bây giờ nhiều tuổi hơn, anh bắt đầu lo nghĩ đến số phận của Ba lan trong thế giới sau chiến tranh.
 
Anh cảm thấy thành công nói trên không cho phép mình là kẻ đứng ngoài cách xa những bốn ngàn dặm như vậy được. Anh còn nhớ Pawel Za]eski, ông lãnh sự Ba lan ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã nói với anh rằng có lẽ đến đời anh thì nước Ba lan sẽ lại đứng lên được.
 
Abel làm bất cứ gì để có thể tác động và thuyết phục Quốc hội Mỹ có thái độ cứng rắn hơn trước việc người Nga kiểm soát những vệ tinh Dông âu của họ.
 
Cứ thấy mỗi chính phủ cộng sản liên tiếp ra đời ở đây, Abel lại cho rằng mình hy sinh vô ích. Anh bắt đầu vận động các chính khách ở Washington, nói với các nhà báo và tổ chức tiệc tùng cho những người Mỹ gốc Ba lan, cho đến khi bản thân sự nghiệp của Ba lan cùng đồng nghĩa với "Nam tước Chicagó' Tiến sĩ Teodor Szymanowski, trước kia là giáo sư ở trường đại học Cracow, viết một bài xã luận trên báo Tự do về cuộc đấu tranh của Abel để được thừa nhận", Abel lập tức tìm đến ông ta ngay. Giáo sư bây giờ đã già lắm rồi. Anh không ngờ ông gầy gò ốm yếu đến như vậy, chỉ có ý kiến của ông là rất mạnh mẽ.
 
ông nhiệt tình đón tiếp Abel, róc rượu vốt- ka Danzig mời anh uống, mà không cần hỏi anh có thích hay không.
 
Nam tước Rosnovski này, - Ông nói và đưa cốc rượu cho anh. - Từ lâu tôi đã khâm phục anh và cái cách anh đang làm cho sự nghiệp của chúng ta. Mặc dầu chưa có kết quả gì lắm, nhưng xem ra tình hình thì hình như anh không mất lòng tin bao giờ.
 
- Tôi mất sao được? Xưa nay tôi vẫn tin là bất cứ gì cũng có thể có được ở Mỹ.
 
- Nhưng Nam tước này, tôi e rằng những người hiện nay anh đang tìm cách tác động lại cũng chính là những người đã để cho xảy ra chuyện đó. Họ sẽ chẳng bao giờ làm gì tích cực cho nhân dân ta được tự do đâu.
 
- Tôi không hiểu ý giáo sư muốn nói gì. Tại sao họ lại không giúp đỡ chúng ta - Abel hỏi.
 
Giáo sư ngả người ra ghế.
 
- Nam tước, chắc anh biết rằng các quân đoàn Mỹ đã được lệnh đặc biệt là tiến chậm thôi để cho người Nga có thì giờ chiếm được vùng Trung âu càng nhiều càng tốt. Lẽ ra tướng Patton đã đến Berlin trước quân Nga từ lâu kia, nhưng Eisenhower bảo ông ta hãy từ từ Chính là những người lãnh đạo của chúng ta ở Washington - Những người mà anh định thuyết phục họ đem quân linh súng ống của Mỹ trở lại Châu âu ấy đã ra lệnh cho Eisenhower như thế đấy.
 
- Nhưng lúc đó họ chưa thể biết được Liên Xô sẽ thành ra thế nào. Người Nga cũng là đồng minh của chúng ta. Tôi thừa nhận là năm 1945 chúng ta quá yếu và quá thiện chí với họ, nhưng dù sao thì cũng không phải là người Mỹ đã phản bội nhân dân Ba lan.
 
Szymanovski chưa nói tiếp. Ông ngả thêm ra sau ghế và lim dim con mắt.
 
- Nam tước Rosnovski, tôi ước gì anh được biết đến ông em của tôi. Mãi đến tuần trước tôi mới được tin là nó đã chết cách đây sáu tháng trong một trại giam xô viết có lẽ không khác gì lắm với cái trại anh đã trốn ra được.
 
Abel dướn người tới như muốn chia buồn nhưng Szymanovski giơ tay ngăn lại Không, anh đừng nói gì hết Tự anh đã biết những trại giam đó rồi. Anh phải là người đầu tiên hiểu ra rằng tình cảm bây giờ không còn quan trọng nữa. Chúng ta phải thay đổi thế giới trong khi những người khác còn đang ngủ - Szymanovski ngừng lại. - Thằng em tôi chính là đã bị người Mỹ giao cho người Nga.
 
Abel ngạc nhiên nhìn ông.
 
- Người Mỹ ư? Sao có thể thế được? Nếu như em của ông bị quân Nga bắt ở Ba lan thì....
 
Em tôi không bị bắt ở Ba lan bao giờ. Nó được thoát ra khỏi trại giam của Đức gần Frankfurt. Người Mỹ giữ nó lại một tháng trong một. trại giam của những người không có nhà cửa, rồi sau đó giao nó lại cho người Nga.
 
- Không thể thế được. Có lý gì họ lại làm thế - Người Nga muốn rằng tất cả những ai là dân Xlavơ được trả về quê quán. Trả về quê quán để họ có thể thủ tiêu hoặc bắt làm khổ sai. Cái gì Đức không làm được thì Nga làm. Tôi có thể chứng minh rằng em tôi đã sống trong khu vực Mỹ chiếm đóng hơn một tháng.
 
- Nhưng, - Abel nói, - Đó là trường hợp cá biệt hay có nhiều người khác cũng như vậy?
 
- Ồ, có chứ, nhiều người khác nữa chứ, - Szymanovski thản nhiên nói- Hàng trăm ngàn người ấy chứ. Có lẽ đến một triệu. có lẽ chả bao giờ chúng ta có được con số chính xác. Rất có thể là giới cầm quyền Mỹ giữ kín về chiến dịch Kee Chanl.
 
- Chiến dịch Kee Chanl là cái gì, sao tôi không nghe thấy ai nói bao giờ? Chắc chắn là nếu mọi người biết rằng những người Mỹ chúng ta thả những tù nhân đã được giải phóng cho họ chết ở Nga, thì họ sẽ phải khủng khiếp lắm chứ.
 
- Chẳng có tài liệu chứng cớ gì về Chiến dịch đó cả.
 
Mark Clark, Chúa phù hộ cho ông ta, đã không tuân lệnh ấy và đã báo trước cho một số tù nhân biết, rồi lính Mỹ giúp cho họ trốn được trước khi đưa vào trại bên kia. Nhưng những người này vẫn còn đang lẩn lút và chả bao giờ dám công nhận chuyện đó. Một trong những người bất hạnh ấy là thằng em tôi. - Giáo sư dừng lại một chút. - Dù sao bây giờ cũng đã quá muộn rồi.
 
- Nhưng phải nói cho dân Mỹ biết chứ. Tôi sẽ thành lập một ủy ban, đi nói chuyện. Chắc chắn là Quốc hội sẽ nghe nếu chúng ta nói lên sự thật.
 
- Nam tước Rosnovski, tôi nghĩ điều này quá lớn đối với anh.
 
Abel đứng vụt dậy.
 
- Không, không, tôi không bao giờ đánh giá anh quá thấp đâu, - Giáo sư nói. - Nhưng anh còn chưa hiểu được cái tâm địa của những nhà lãnh tụ thế giới.
 
Nước Mỹ bằng lòng giao lại nhưng người tội nghiệp ấy cho Nga chỉ vì yêu cầu thế thôi. Tôi chắc họ không bao giờ nghĩ rằng sẽ có những chuyện đem ra xử hoặc tống giam. Nhưng cho đến bây giờ, sắp bước sang thập kỷ 50 rồi, vẫn chưa có ai thừa nhận rằng mình gián tiếp chịu trách nhiệm về chuyện đó. Không, họ sẽ chẳng bao giờ thừa nhận đâu. Đến một trăm năm nữa cũng chẳng có ai thừa nhận. Rồi đến lúc đó, sẽ chẳng có ai khác ngoài các nhà sử học sẽ quên mất rằng Ba lan mất nhiều sinh mạng trong chiến tranh hơn bất cứ quốc gia nào khác trên trái đất này, kể cả nước Đức. Tôi đã tưởng kết luận duy nhất anh có được ở đây là anh phải đóng một vai trò trực tiếp hơn trong chính trị kia chứ.
 
- Tôi đã có suy nghĩ về điều đó nhưng chưa thể quyết định được là làm như thế nào, bằng cách nào.
 
- Tôi có quan điểm riêng của mình về vấn đề này, Nam tước, vậy anh cứ liên lạc với tôi nhé. - Ông già từ từ đứng dậy và ôm lấy Abel. - Trong khi chờ đợi, anh làm gì được cho sự nghiệp của chúng ta thì cứ làm, nhưng anh đừng có ngạc nhiên mỗi khi người ta không chịu đến với anh nhé.
 
Về đến khách sạn Nam tước là Abel gọi ngay điện thoại và bảo tổng đài cho anh nói chuyện với văn phòng thượng nghị sĩ paull Douglas. paull Douglas là thượng nghị sĩ phái tư do của đảng Dân chủ ở Illinois, được bầu lên do bộ máy cua chicago giúp đỡ, ông ta thường sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu cua Abel vì biết rằng cử tri của ông gồm số người đông nhất trong cộng đồng Ba lan. Người trợ lý của ông là Adam Tomaszewiczl, chuyên giao dịch với cử tri Ba lan.
 
- Chào ông, Adam, Abel Rosnovski đây. Tôi có điều này hơi rắc rối muốn bàn với ngài Thượng nghị sĩ. Ông có thể thu xếp cho tôi gặp sớm được không?
 
- Hôm nay ông ấy lại đi vắng, thưa ông Rosnovski. Tôi biết là ông ấy sẽ vui lòng nói chuyện với ông và thứ năm này ông ấy mới về. Tôi sẽ yêu cầu ông ấy gọi trực tiếp cho ông. Tôi có thể nói lại với ông ấy là về chuyện gì được không?
 
- Được chứ. Là người Ba lan, chắc ông cũng quan tâm chuyện này. Tôi nghe từ những nguồn tin đáng tin cậy là các nhà đương cục Mỹ ở Đức có giúp vào việc đưa những người công dân Ba lan lưu vong trở về vùng đất do Liên Xô chiếm đóng và rất nhiều những công dân Ba lan ấy bị đưa vào các trại lao tù của người Nga, và rồi từ đó đến nay không có tin tức gì của họ nữa.
 
Đầu dây đằng kia im lặng một lát.
 
ông thượng nghị sĩ về tôi sẽ nói ngay, thưa ông Rosnovski. Xin cảm ơn ông đã gọi đến.
 
Ngày thứ năm, ông thượng nhhl sĩ không liên lạc với Abel. Ngày thứ sáu và cuối tuần cũng không thấy gì Sáng thứ hai, Abel lại gọi đến lần nữa. Lần này, vẫn là Dam Tomaszewicz trả lời điện thoại.
 
- A thưa vâng, ông Rosnovski, - Abel tưởng như có thể nghe thấy ông ta ngượng ngập. - Ngài thượng nghị sĩ có dặn lại để nói với ông. Lúc này, ngài đang rất bận, chắc ông cũng biết là có rất nhiều dự án phải thông qua trước khi Quốc hội nghỉ. Nghị sĩ có dặn tôi nói lại với ông là khi nào rỗi được là sẽ gọi đến cho ông ngay.
 
- Ông có nói với nghị sĩ những gì tôi đã nói không?
 
- Có chứ ạ. Nghị sĩ bảo tôi nói lại để ông yên tâm vì những điều đó chỉ là một thứ tuyên truyền chống Mỹ thôi. Nghị sĩ có cho ông biết đã nghe chính một người trong Bộ tham mưu liên quân nói quân đội Mỹ được lệnh không đưa đi bất cứ người nào lưu vong đang ở trong vùng Mỹ kiểm soát.
 
Tomaszewicz nói như kiểu ông ta đọc một bản tuyên bố đã chuẩn bị sẵn, và Abel cảm thấy như mình bị bưng bít và đây là lần đầu. Trước đây, Thượng nghị sĩ Douglas chưa bao giờ né tránh như vậy.
 
Abel bỏ máy xuống và bảo cô thư ký liên lạc với một thượng nghị sĩ khác, mà ông này thì đang nổi tiếng và không sợ có ý kiến về bất cứ ai.
 
văn phòng thượng nghỉ sĩ Mccarthy hỏi ai gọi đến.
 
- Tôi sẽ cố tìm ngài thương nghị sĩ, - Một giọng nói trẻ đáp.
 
Mccarthy đang là một nhân vật rất có quyền thế và Abel biết là may mắn lắm mới gọi nói chuyện được với ông ta một lúc.
 
- Ông Rosenevski, - Mccarthy nói.
 
Abel tự hỏi không biết ông ta cố tình đọc sai tên mình đi hay đó là do liên lạc tồi.
 
- Vấn đề cấp bách ông muốn bàn với tôi là gì thế- Thượng nghị sĩ hỏi. Abel ngập ngừng. Anh hơi chột dạ vì biết là mình đang nói chuyện thẳng với ông ta.
 
- Ông có điều gì bí mật cũng không ngại - Anh nghe thượng nghị sĩ nói thế, có lẽ vì ông ta cảm thấy anh ngập ngừng.
 
- Vâng, tất nhiên, - Abel nói rồi lại ngừng để suy nghĩ. "Ngài thượng nghị sĩ đúng là một người nói lên nguyện vọng của chúng tôi muốn được thấy Đông âu giải phóng khỏi ách đô hộ....".
 
- Phải, phải. Tôi cũng mừng thấy ông hoan nghênh điều đó ông Rosenevski.
 
Lần này thì Abel yên trí là ông ta đã đọc sai tên mình rồi, nhưng anh không nhắc đến chuyện đó làm gì Còn về Đông âu, - Nghị sĩ nói tiếp, - Chắc ông biết là chỉ khi nào bọn phản bội bị đẩy ra khỏi chính phủ chúng ta thì lúc đó mới có hành động thực sự để giải phóng đất nước đang bị giam hãm của ông được.
 
- Vâng, chính đó là điều tôi muốn nói với ngài Thượng nghị sĩ. Ngài đã rất thành công trong việc tố cáo sự lừa dối trong chính phủ chúng ta. Nhưng cho đến nay, một trong những tội lớn của họ vẫn chưa bị tố giác - Ông nói đến tội lớn nào thế, ông Rosenevski? Từ khi đến Washington tôi đã thấy được rất nhiều rồi.
 
- Tôi muốn nói đến... - Abel ngồi thẳng lại trên ghế,- .... việc các nhà cầm quyền Mỹ buộc hàng ngàn công dân Ba lan phải hồi cư sau khi chiến tranh kết thúc. Họ vô tội nhưng bị trả về Ba lan rồi đưa sang Liên Xô để làm khổ sai, và đôi khi còn bị giết nữa. - Abel chờ trả lời, nhưng anh không thấy nói gì. Anh nghe thấy cạch một tiếng, không biết có ai nghe câu chuyện này không.
 
- Làm sao ông có thể ngu ngốc đến như vậy được, ông Rosenevski? - Thượng nghị sĩ nói, hoàn toàn với một giọng khác trước.
 
- Ông dám gọi điện thoại cho tôi để nói rằng những người Mỹ- Những nhân vật rất trung thành của Mỹ - Đã đưa hàng ngàn người Ba lan về Nga rồi không ai được biết tin tức gì về họ nữa? ông muốn tôi tin được điều đó sao? Ngay đến một người nông dân Ba lan cũng không thể ngu ngốc như thế được. không hiểu tại sao có hạng người có thể chấp nhận được điều đó mà không có chứng cớ gì? Vậy ông cũng muốn tôi tin rằng những người lính Mỹ đó là không trung thành hay sao? Có phải ông muốn thế không ông Rosenevski, ông cho tôi biết tại sao ông lại nghĩ như vậy? Chẳng lẽ ông ngốc đến mức tin ở tuyên truyền của địch như vậy sao? Tại sao ông làm mất thì giờ của một thượng nghị sĩ Mỹ đang bận bao nhiêu thứ việc chỉ vì một lời bịa đặt của người ta cố tình gây hoang mang trong cộng đồng những người nhập cư ở Mỹ thế Abel ngồi im không động đậy, sững người về chuyện ông thượng nghị sĩ mắng mỏ. Trước khi ông ta chấm dứt một loạt những lời lẽ như vậy, Abel đã biết là có cãi lại cũng vô ích. Anh lấy làm mừng là vì nói điện thoại nên vị thượng nghị sĩ không trông thấy vẻ mặt ngạc nhiên quái lạ của anh.
 
- Thượng nghị sĩ, tôi chắc ngài nói đúng và tôi xin lỗi đã làm mất thì giờ của ngài, - Abel bình tĩnh đáp lại - Tôi không nghĩ được như vậy.
 
- Phải, cũng để cho ông thấy rằng bọn khốn kiếp chúng lừa dối người ta ghê lắm, - Mccarthy nói, giọng đã mềm hơn, - Ông phải luôn luôn đề phòng bọn chúng. Dù sao, tôi cũng hy vọng từ nay trở đi ông thấy rõ hơn mối nguy mà nhân dân Mỹ luôn luôn gặp phải.
 
- Vâng, tôi thấy rõ, Thượng nghị sĩ. Một lần nữa cảm ơn ngài đã bỏ thì giờ nói chuyện riêng với tôi. Xin chào ngài Thượng nghị sĩ.
 
Chào ông Rosenevski.
 
Abel nghe tiếng điện thoại cạch một cái. Anh biết rằng tiếng cạch ấy chẳng khác gì đóng cửa.
 
 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top