Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 92 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

Chương 16

Phải mất đến ba tháng Abel mới thấy được hết các vấn đề nghiêm trọng của Richmond Continental và anh hiểu tại sao khách sạn lại mất đi lắm tiền thế. Sau mười hai tuần lễ mở to mắt ra mà nhìn nhưng đồng thời lại phải cố làm cho mọi người tưởng anh lơ mơ không thấy gì, anh đã đi đến kết luận đơn giản, đó là:

lợi nhuận của khách sạn đã bị đánh cắp. Tất cả bộ máy nhân viên Richmond đều ăn cánh với nhau để làm việc đó, với một quy mô mà Abel không thể ngờ tới. Và bộ máy đó không thèm đếm xỉa gì đến người phó quản lý mới, một con người đã từng biết ăn cắp bánh mì trong trại giam để mà sống sót được. Vấn đề đầu tiên đối với Abel bây giờ là làm thế nào đề không ai biết anh đã phát hiện ra chuyện đó. Anh còn tiếp tục quan sát vào từng bộ phận nhỏ trong khách sạn đã. Chẳng bao lâu, anh đà thấy rõ mỗi bộ phận đều hoàn thiện cách riêng của nó để ăn cắp tài sản cho trôi.

Trước hết là ở quầy tiếp tân. Ở đây nếu có mười khách thì họ chỉ ghi tên tám người, còn tiền của hai người kia bỏ túi. Cách họ làm rất đơn giản. Nếu là ở khách sạn Plaza New York thì chỉ trong vài phút người ta có thể phát hiện ra ngay và nhân viên làm việc đó bị đuổi tức thì. Anh phụ trách quầy tiếp tân thường chọn một đôi vợ chồng già nào đó từ một bang khác đến đặt phòng và chỉ ở lại một đêm. Anh ta sẽ bí mật tìm hiểu xem đôi vợ chồng ấy có việc gì liên quan đến người khác trong thành phố hay không, nẽu không thì họ chỉ việc coi như quên không ghi tên khách vào sổ. Sáng hôm sau nếu họ trả tiền mặt thì tiền đó được bỏ vào túi ngay, miễn là khách không ký vào sổ và như thế thì không có chứng cứ nào là khách đã từng ở khách sạn này. Từ lâu, Abel nghĩ rằng mọi khách sạn đều phải ghi tên từng người khách. Trước đây ở Plaza anh đã thấy họ làm thế rồi.

Trong nhà ăn, hệ thống ăn cắp rất tế nhị. Tất nhiên những khách nào không phải người trú trong khách sạn thì ăn trưa hay ăn tối đều trả tiền mặt.

tự nhiên, Abel dần dần phát hiện rằng giữa quầy tiếp tân với nhà ăn có liên lạc để báo cho nhau biết là với những khách nào không đăng ký trong sổ bên ngoài thì trong nhà ăn cũng không có hóa đơn. Ngoài ra thường luôn luôn có những chuyện bày ra để sửa chữa, thay thế những đồ hỏng vỡ mất mát, từ những đồ tiện nghi đến lương thực, khăn trải giường và thỉnh thoảng còn mất cả đệm nữa. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng từng bộ phận, Abel đi đến kết luận là quá nửa số nhân viên trong khách sạn Richmond đều có dính líu đến những vụ ăn cắp này. Không một bộ phận nào trong khách sạn có được bộ mặt hoàn toàn trong sạch.

Lúc mới đến Richmond, Abel lấy làm lạ tại sao Desmond Pacey, người quản lý, lại không thấy được những chuyện diễn ra trước mũi ông ta trong một thời gian dài như vậy. Anh đã cho rằng ông ta lười và không thích nhữag chuyện kêu ca phàn nàn, thế thôi.

Ngay bản thân Abel cũng không thấy ngay được chính người quản lý lười ấy là kẻ chủ mưu đứng sau tất cả những vụ ăn cắp này, và vì nó hoạt động rất khéo nên anh không nhận ra ngay được. Pacey đã làm việc cho công ty Richmond này hơn ba chục năm rồi. Ông ta đã lần lượt ở cương vị quản lý của tất cả những khách sạn của công ty. Hơn thế nữa, Desmond Pacey còn là bạn riêng của Davis Leroy. Như vậy, khách sạn Richimond ở Chicago mỗi năm mất đi hơn ba không.000 đô la, một tình hình mà Abel tính rằng có thể giải quyết ngay được nếu đuổi một số đông nhân viên, và bắt đầu bằng việc đuồi chính Desmond Pacey. Chuyện này sẽ thành vấn đề ngay, vì trong ba chục năm nay Davis Leroy hầu như không đuổi một nhân viên nào.

ông ta rộng lượng, và hy vọng rằng đến một lúc nào đó chẳng phải sa thải họ cũng đi. Nhưng Abel thì cho rằng những người như thế sẽ chẳng bao giờ đi, trái lại họ còn tiếp tục ăn cắp cho đến lúc khách sạn Richmond không còn gì nữa.

Abel biết rằng cách duy nhất có thể cứu vãn được khách sạn là làm một cuộc thử thách cuối cùng nữa với Davis Leroy. Để thực hiện mục đích ấy, đầu năm 1928, anh đi chuyến tàu tốc hành từ ga ilhnois đến St Louis rồi từ đó chuyển sang tàu Missouri Paciphic về Dallas:

Anh mang theo một bản báo cáo 200 trang mà anh đã bỏ sức tập hợp liền trong ba tháng ở căn phòng nhỏ trong khu phụ của khách sạn. Sau khi Davis Leroy đọc xong tất cả những chứng cớ anh thu thập được, ông ta ngồi nhìn Abel bằng con mắt ngạc nhiên và thất vọng.

ông ta gấp hồ sơ lại và nói:

Những người này đều là bạn của tôi cả. Một số trong những người đó đã làm việc với tôi ba chục năm nay rồi. Tất nhiên trong cái nghề này bao giờ cũng có chút lừa dối, nhưng tôi không ngờ họ lại cướp bóc của tôi đến mức này.

- Phải nói là một số những người đó đã ăn cắp của ông suốt từ ba chục năm nay. - Abel nói.

Bây giờ tôi biết làm thế nào đây? - Leroy nói.

- Tôi có thể chấm dứt ngay được chuyện thối nát này nếu ông loại bỏ Desmond Pacey và cho tôi toàn bộ quyền sa thải ngay tất cả những ai có dính líu đến các vụ ăn cắp.

Này anh Abel, tôi nghĩ có lẽ vấn đề không đơn giản như vậy được đâu.

- Vấn đề rất đơn giản, - Abel nói. - Nếu ông không cho tôi cái quyền đối xử với những thủ phạm ấy, thì tôi xin từ chức ngay từ phút này, vì tôi không có lợi ích gì trong việc làm một phần của cái khách sạn tham nhũng nhất ở nước Mỹ này.

- Hay ta giáng chức Desmond Pacey xuống làm phó quản lý? Như vậy tôi sẽ đưa anh lên làm quản lý và anh sẽ có thể kiểm soát được tình hình?

- Không được đâu, Abel đáp, - Pacey còn hai năm nữa mới phải đi, mà ông ta thì nắm chắc tất cả nhân viên Richmond. Đến lúc tôi chấn chỉnh được ông ta lại rồi thì ông cũng không còn hoặc bị phá sản hoặc cả hai. Tôi ngờ rằng tất cả những khách sạn khác của ông đều đang được quản lý theo cách ăn cắp như thế.

Nếu ông muốn xoay chuyển lại tình hình ở Chicago thì ông phải có một quyết định cứng rắn về Pacey ngay từ bây giờ, không thì sẽ nguy cho ông lắm. Tùy ông thôi.

- Những người Taxas chúng tôi nổi tiếng là hay nói thẳng những điều mình nghĩ, nhưng xem ra vẫn chưa bằng anh được, Abel. Thôi được, thôi được, tôi giao quyền cho anh ngay bây giờ. Chúc mừng anh. Anh là người quản lý mới của Richmond ở Chicago. Chúc mừng anh. Chờ để tôi báo cho Al Capone biết là anh về Chicago nhé. Ông ta sẽ về đây hưởng cái bình yên ở vùng Tây Nam này. - Leroy đứng dậy vỗ vai anh quản lý mới của mình và nói tiếp. - Abel này, anh đừnag tưởng tôi là người không biết ơn đâu. Anh đã làm được một công việc rất có giá trị Ở Chicago, và từ nay trở đi tôi sẽ coi anh như cánh tay phải của tôi.

Thực tình mà nói, Abel ạ, tôi làm ăn với Thị trường Chứng khoán cũng rất khá nên tôi không để ý được đến những chuyện mất mát như vậy. Cảm ơn Chúa tôi lại có được một người bạn trung thực đấy. Anh ở lại đêm và ăn với tôi một chút chứ.

- Tôi sẽ rất sung sướng được cùng ăn với ông, ông Leroy, nhưng tôi muốn ở lại đêm tại khách sạn Richmond Dallas vì có vài lý do riêng.

- Anh không để cho ai được thoát tội chứ, Abel?

- Nếu tránh được thì tôi tránh.

Tối hôm đó, Davis Leroy mời Abel ăn một bữa thịnh soạn và cho anh uống hơi nhiều rượu quhisky ông ta bảo tục lệ Ở miền Nam này đãi khách là phải như vậy. Ông ta còn nói với Abel rằng ông ta đang tính xem có ai đó quản lý cho toàn bộ hệ thống khách sạn Richmond để ông còn rảnh tay làm việc khác.

- Chắc là ông chả muốn đến cái thằng Ba Lan ngốc nghếch chứ? Abel nói, lúc này đã hơi líu lưỡi vì say.

- Abel, chính tôi mới là ngốc ngếch. Nếu như anh không khui được ra những thằng ăn cắp thì có lẽ tôi đến hỏng bét cả. Bây giờ biết được sự thật như thế rồi, chúng ta sẽ cho tất cả bọn nó một trận, rồi tôi để cho anh có cơ hội khôi phục lại cả Công ty Richmon và làm cho trở lại nổi như trước.

Abel nâng cốc lên, tay run run.

- Tôi xin uống chúc mừng cho điều đó, và chúc cho sự cộng tác của chúng ta được lâu dài, thắng lợi.

- Làm tới đi, Abel.

Abel ngủ lại đêm ở khách sạn Richmond Dallas.

Anh cho họ một cái tên giả, và bảo với quầy tiếp tân là anh chỉ có ở một đêm. Buổi sáng, anh theo dõi thấy biên lai chỉ có một bản và sau khi anh trả tiền rồi thì họ vứt luôn nó vào sọt rác, do đó những nghi ngờ của anh về các khách sạn Richmond khác càng được khẳng định Vấn đề không phải có ở Chicago. Anh quyết định sẽ thanh toán xong ở Chicago trước đã, rồi sẽ tính đến nhữag vụ ăn cắp của toàn công ty sau.

Anh gọi điện thoại cho Davis Leroy để báo cáo ông biết rằng anh đã phát hiện ra chuyện ăn cắp kia ở một khách sạn nữa của công ty.

Abel trở về Chicago cũng bằng con đường đã đi. Thung lũng Mississippi trải rộng ngoài tầm mắt từ cửa sổ xe lửa nhìn ra. Cảnh lụt lội từ năm ngoái vẫn còn dấu vết. Abel nghĩ bụng về đến Richmond Chicago anh sẽ cho họ một phen chẳng kém gì cảnh lụt lội này.

Đến nơi, anh không thấy có người phục vụ ban đêm ở khách sạn, tìm mãi chỉ thấy có một nhân viên trực.

Abel quyết định để cho tất cả đám họ ngủ một đêm ngon lành đã, rồi sáng mai sẽ mời họ chia tay. Một chú nhỏ sai vặt ra mở cửa trước cho anh về căn phòng ở nhà phụ.

- Ông đi mạnh khỏe chứ ạ, ông Rosnovski, - Chú bé hỏi.

- Tốt, cảm ơn chú. Ở nhà thế nào?

- Ôi rất yên ổn.

Được rồi đến mai chú sẽ còn thấy yên ổn hơn nữa, Abel nghĩ bụng, nhất là nhân viên còn lại sẽ chỉ có mình chú.

Abel bỏ đồ xuống rồi gọi bộ phận phục vụ phòng cho anh ăn nhẹ. Phải hơn một giờ sau họ mới đem lên. Uống cà phê xong, Abel cởi quần áo vào tắm nước lạnh, đầu nghĩ đến một kế hoạch cho ngày hôm sau.

Anh đã chọn đúng lúc trong năm để phục vụ "thảm sát', này. Bây giờ mới chỉ là đầu tháng hai và khách sạn chỉ có chừng 25 phần trăm khách. Abel tin rằng chỉ với một nửa số nhân viên hiện nay là đủ cho khách sạn Richmond hoạt động. Anh trèo lên giường, vứt bỏ gối xuống sàn, rồi lăn ra ngỉl say như chú bé nhân viên kia vậy.

Desmond Pacey, người mà ai ở Richmond cũng gọi ông ta là Pacey Lười, nay đã sáu mươi ba tuổi. Ông ta béo quá mức, chân ngắn và đi lại rất chậm chạp.

Desmond Pacey đã từng chứng kiến bảy người phó quản lý đến khách sạn này và ra đi. Một số thì quá tham và muốn nhận về phần mình nhiều hơn, số khác thì không hiểu được cái hệ thống ăn cắp kia làm ăn thế nào. Ông ta cho rằng anh chàng Ba Lan này cũng chẳng thông minh gì hơn những anh trước đây. Ông ta thủng thẳng đi đến văn phòng Abel để chuẩn bị họp vào mười giờ, miệng ti tỉ hát. Lúc này đã mười giờ mười bảy phút rồi.

- Xin lỗi để anh phải chờ, - Ông quản lý nói nhưng không có vẻ xin lỗi gì hết.

Abel không nói câu nào.

- Tôi đang bận chút việc ở quầy tiếp tân, chắc anh biết là việc gì rồi.

Abel biết quá đi chứ. Anh từ từ mở ngăn kéo bàn, lấy ra để trước mặt ông ta bốn chục tờ biên lai đã nhầu nát, có tờ bị xé làm bốn năm mảnh. Đó là những biên lai anh nhặt lại từ trong sọt rác hoặc những đĩa gạt tàn thuốc lá, những biên lai đã được khách trả tiền mặt nhưng không bao giờ được ghi vào sổ. Anh nhìn ông quản lý béo lùn cầm những mảnh giấy đó lên xem mà chưa biết là gì.

Desmond Pacey không thể hiểu được thật. Mà ông ta cũng không cần hiểu làm gì. Ông chẳng có chuyện gì đáng phải lo. Nếu như anh chàng ngốc Ba Lan này định chơi vào hệ thống ăn cắp của ông ta thì hoặc là ông cho anh hưởng một chút nào đó, hoặc là anh cuốn xéo đi chỗ khác, vậy thôi. Pacey nghĩ bụng không biết mình có thể cho anh ta được bao nhiêu phần trăm.

Có lẽ lúc này cho anh ta được ở trong một căn phòng tử tế thì bịt miệng được đấy.

- Ông bị đuổi, thưa ông Pacey, và tôi yêu cầu ông đi khỏi nơi này trong vòng một giờ.

Desmond Pacey hầu như không nghe anh nói những lời ấy vì ông ta không thể nào tin như vậy được - Anh vừa nói gì thế? Tôi không nghe rõ.

- Ông nghe rõ rồi, - Abel nói. - Ông bị đuổi.

- Anh không thể đuổi tôi được. Tôi là người quản lý và tôi đã làm việc với công ty Richmond trên ba mươi năm nay rồi. Nếu có chuyện phải đuổi ai thì tôi là người làm cái việc đó. Lạy Chúa, anh tưởng anh là ai thế?

- Tôi là người quản lý mới.

- Sao?

- Người quản lý mới. - Abel nhắc lại. - Ông Leroy vừa chỉ định tôi hôm qua, và bây giờ tôi đuổi ông đó, ông Pacey.

- Về tội gì?

- Về tội ăn cắp có quy mô. - Abel giơ những tờ biên lai đó lên để ông ta nhìn rõ hơn bằng cặp kính của mình. - Mỗi một người khách này đều trả tiền cả, nhưng không có một xu nào của họ rơi vào quỹ của Richmond. Và hóa đơn nào cũng có chữ ký của ông trong đó.

- Đến một trăm năm nữa anh cũng chả chứng minh được gì hết.

- Phải, tôi biết, - Abel nói. - Ông tổ chức một bộ máy giỏi lắm. Nhưng ông có thể đem bộ máy ấy đi hoạt động ở chỗ khác, còn ở đây thì vận của ông đã hết rồi. Ông Pacey ạ, người Ba Lan có câu phương ngôn cổ như thế này:

Bình có quai thì mới xách được nước. Bây giờ quai đã gẫy rồi, và ông thì bị đuổi.

- Anh không có quyền đuổi tôi. - Pacey nói. Mồ hôi toát ra ướt hết cả trán ông ta. - Davis Leroy là bạn thân của tôi. Chỉ ông ta mới có quyền đuồi tôi thôi.

Anh là người từ New York mới lên đây được ba tháng. Dù anh có nói với ông ta thì ông ta cũng chẳng nghe. Tôi chỉ cần gọi điện thoại một cái là có thề vứt anh ra khỏi khách sạn này.

ông gọi đi. - Abel nói. Anh nhắc điện thoại lên và bảo tổng đài cho nói chuyện với Davis Leroy ở Dallas.

Hai người nhìn nhau và chờ. Bây giờ mồ hôi đã nhỏ giọt xuống đến đầu mũi Pacey. Abel chợt nghĩ trong bụng không biết ông chủ mình có còn kiên quyết nữa không.

- Xin chào ông Leroy. Đây là Abel Rosnovski gọi từ Chicago. Tôi vửa đuổi Desmond Pacey và ông ta muốn nói chuyện với ông một câu.

Pacey run rẩy cầm lấy điện thoại. Ông ta chỉ nghe một lát.

- Nhưng, Davis, tôị... tôi biết ìàm thế nào? Tôi thề với ông là không phải như vậỵ... Hẳn có sự nhầm lẫn gì đây Abel nghe thấy tiếng điện thoại ngắt.

- Một giờ nữa, ông Pacoy, - Abel nói. - Nếu không tôi sẽ đưa những tờ biên lai này sang Cảnh sát Chicago.

- Khoan đã, - Pacey nói. - Anh đừng vội thế. - Giọng nói và cử chỉ của ông ta đã thay đổi hẳn. - Chúng tôi có thể đưa anh nhập vào hệ thống hoạt động này. Nẽu chúng ta cùng quản lý khách sạn thì anh sẽ có thu nhập rất khá. Sẽ có nhiều tiền hơn lúc anh làm phó quản lý cơ. Mà chúng ta đều biết Davis sẽ có thể chấp nhận được những mất mát....

- Tôi không còn là phó quản lý nữa, ông Pacey. Tôi là quản lý rồi. Vậy mời ông đi cho, đừng để tôi phải tống đi.

- Thằng Ba Lan khốn nạn, - Ông ta nói, biết rằng mình đã chơi đến con bài cuối cùng rồi nhưng không được - Anh liệu mà mở to đôi mắt của anh ra nhé, anh Ba Lan ạ, rồi tôi sẽ cho anh biết tay.

ông ta nói rồi bỏ ra. Đến giờ ăn trưa thì một loạt những người khác cũng theo gót ông ta ra ngoài đường từ trưởng nhà bàn, nhà bếp, nhà phòng, đến trưởng quầy tiếp tân, trực cửa cùng với mười bẩy nhân viên khác của Richmond mà Abel cho rằng không thể nào tha thứ được. Đến chiều, anh triệu tập tất cả những người làm việc còn lại, giải thích cho họ nghe chỉ tiết những việc anh đã làm và tại sao phải làm để đảm bảo cho mọi người biết rằng công việc của họ không có gì đáng lo ngại nữa.

Nhưng Abel cũng nói:

- Nếu tôi còn tìm thấy một đô la nào, chỉ một đô la thôi, không được để vào đúng chỗ của nó thì người liên quan sẽ bị đuổi ngay tức thì, mà không cần phải lý giải gì nữa. Các anh nghe rõ cả rồi chứ?

Không ai nói gì.

Trong mấy tuần lễ sau đó, nhiều nhân viên khác của Richmond cũng bỏ đi sau khi họ thấy rằng Abel không có ý định làm như Desmond Pacey trước đây và cũng không kiếm lợi gì vào đó cho riêng mình. Nhưng họ bỏ đi thì có người khác vào thay ngay.

Vào cuối tháng ba, Abel mời bốn người của khách sạn Plaza về làm việc ở Richmond. Những người này có ba điều giống nhau:

trẻ, nhiều tham vọng và lương thiện. Trong sáu tháng liền, chỉ có 37 người so với 110 người trước kia còn làm việc trong khách sạn Richmond. Vào cuối năm đầu, Abel mở một chai sâm banh thật to để cùng với Davis Leroy chúc mừng Richmond Chicago đã làm ăn có lãi. Lợi nhuận được 3.468 đô la. Số tiền lãi tuy nhỏ, nhưng là khoản lãi đầu tiên của khách sạn kể từ khi nó ra đời đến nay ba chục năm. Abel dự kiến sang năm 1929 sẽ thu lợi nhuận trên 25.000 đô la.

Davis Leroy rất vui mừng. Mỗi tháng ông ta lên thăm Chicago một lần, và bắt đầu tin tưởng ở các ý kiến của Abel. Ông ta còn thừa nhận rằng cái gì đã đúng với Richmond Chicago cũng sẽ đúng với tất cả những khách sạn khác của công ty. Abel thì muốn để xem khách sạn ở Chicago hoạt động trôi chảy như một xí nghiệp làm ăn đứng đắn và có lãi đã rồi mới xét đến những nơi khác. Leroy đồng ý và hứa sẽ dành cho Abel cương vị cộng tác ở các nơi khác thuộc công ty như dã làm ở Chicago.

Mỗi lần Davis đến Chicago, họ cùng chơi dã cầu và đua ngựa với nhau. Một lần, Davis thua mất 700 đô la mà không giành được tí gì trong cả sáu cuộc đua ngựa, ông ta giơ hai tay lên trời than vãn:

- Ôi, tôi cần gì phải bận tâm đến chuyện ngựa nữa, Abel nhỉ? Cứ đua với anh là đủ rồi.

Cô Melanie Leroy mỗi lần cũng đi theo bố về đây.

Cô xinh đẹp nhưng lạnh lùng, người nhỏ nhắn có đôi chân hấp dẫn và thu hút sự chú ý của mọi người trong khách sạn. Đối với Abel, cô có vẻ cao ngạo khiến anh muốn nói chuyện làm thân gì với cô cũng khó. Cô ta cũng không để cho anh được gọi bằng cái tên thân mật "Melanie" mà phải gọi bằng "Cô Leroy" hẳn hoi.

Mãi về sau cô ta mới biết rằng anh tốt nghiệp bằng kinh tế ở Đại học Columbia và còn hiểu biết về tiền nong hơn cô rất nhiều. Từ đó, cô ta nói năng có vẻ dịu dàng hơn và thỉnh thoảng còn đến ăn một mình trong khách sạn với Abel và nhờ anh giúp cho trước khi cô thi lấy bằng Nghệ thuật Tự do ở trường Đại học Chicago. Mỗi lúc một mạnh bạo hơn, thỉnh thoảng Abel cùng cô đi nghe hoà nhạc, xem hát, và đôi khi cũng cảm thấy hơi ghen mỗi khi cô đưa bạn trai đến ăn ở khách sạn mặc dầu mỗi lần đến cô đi với một bạn khác.

Dưới bàn tay quản lý vững chắc của Abel, nhà bếp trong khách sạn đã cải tiến được rất nhiều món ăn ngon, đến nỗi có những người đã ở Chicago ba chục năm nay nhưng chưa hề biết là có khách sạn này, bây giờ cũng gọi đến giữ chỗ ở nhà ăn vào mỗi tối thứ bảy.

Abel cho trang trí lại toàn bộ khách sạn - Đã hai chục năm nay bây giờ mới được trang trí - Và cho các nhân viên ăn mặc đồng phục bằng các màu xanh và vàng.

Có một người khác mỗi năm thường về ở Richmond, một tuần và cứ đều như thế một chục năm nay, vừa bước vào cửa khách sạn đã lại quay ra, tưởng mình vào nhằm khách sạn khác. Khi Al Capone đặc tiệc cho mười sáu người trong một phòng riêng của khách sạn để mừng ngày sinh nhật, lần thứ ba mươi của ông ta, Abel biết rằng như thế là anh đã đạt tới đỉnh cao của con đường sự nghiệp.

Trong khi thị trường chứng khoán phát triển thì tài sản riêng của Abel cũng tăng thêm. Mười tám tháng trước kia anh rời khách sạn Plaza thì vốn liếng chỉ có 8.000 đô la, bây giờ tài khoản anh đã lên đến ba không.000 đô la. Anh tin rằng giá thị trường sẽ còn tăng lên nữa, vì vậy bao giờ anh cũng lấy tiền lợi nhuận ra tái đầu tư nữa. Những yêu cầu cá nhân của anh vẫn còn rất khiêm tốn. Anh đã sắm được hai bộ quần áo mới và một đôi giầy nâu mới. ăn ở do khách sạn cung cấp, và anh cũng không có gì phải chi tiêu ngoài.

Tương lai của anh xem ra là sáng sủa. Công ty Richmond vẫn có tài khoản trong ngân hàng Continental từ hơn ba chục năm nay, vì vậy khi mới đến Chicago anh đã cho chuyển tiền của mình về ngân hàng này. Hằng ngày ra ngân hàng gửi số tiền khách sạn thu được ngày hôm trước. Vào một buổi sáng thứ sáu, anh ngạc nhiên thấy có người nhắn là giám đốc ngân hàng muốn gặp anh nói chuyện. Anh biết rằng không thể có chuyện tài khoản riêng của mình bị rút ra quá mức bao giờ, vì vậy anh đoán chắc là cuộc gặp này có cái gì đó liên quan đến Richmond.

Chắc cũng không thể có chuyện tài khoản của khách sạn không đủ để trả nợ cho ngân hàng, nếu có thì ba chục năm nay bây giờ mới là lần đầu. Một nhân viên trẻ của ngân hàng dẫn Abel đi qua dãy hành lang đến trước một khung cửa gỗ rất lịch sự. Một tiếng gõ khẽ, rồi người ta đưa anh vào gặp giám đốc.

- Tên tôi là Ctưtis Phenton, - Người đứng sau bàn giấy tự giới thiệu và đưa tay ra bắt tay Abel, mời anh ngồi xuống chiếc ghế da màu xanh lá cây. Trông người ông ta tròn trĩnh, gọn gàng đeo đôi mắt kính bán nguyệt, cổ sơ mi trắng bong với chiếc cavát đen đi với bộ đồ ba mảnh của ông chủ ngân hàng.

Cảm ơn ông, - Abel bứt rứt nói. Không khí lúc này khiến anh nhớ lại cuộc gặp gỡ trước đây nỗi lo ngại là không biết rồi cái gì sẽ xảy ra.

Lẽ ra tôi mời ông cùng ăn trưa để nói chuyện thì tốt hơn , thưa ông Rosnovskị.. , nhưng...

Abel sững người. Anh quá biết rằng những ông chủ ngân hàng này chẳng dễ gì mời ai ăn không mất tiền nếu như họ không có những điều phiền toái muốn nói cho anh nghe.

- Nhưng có một vấn đề vừa xảy ra cần phải được giải quyết nên tôi muốn được cùng bàn với ông ngay.

Tôi xin đi thẳng vào vấn đề, thưa ông Rosnovski. Một trong những vị khách hàng đáng kính nhất của chúng tôi một bà có tuổi, bà Amy Leroỵ... Abel nghe nói đến tên đó ngồi thẳng ngay dậy,.... bà ta nắm trong tay hai mươi lăm phần trăm cổ phiếu của Công ty Richmond. Trước đây bà ta đã nhiều lần muốn chuyển những cổ phiếu đó sang tay ông em là Davis Leroy, nhưng ông ấy hoàn toàn không quan tâm gì đến việc mua lại nhữag cổ phiếu của bà Amy hết. Tôi có thể hiểu được những lý lẽ của ông Leroy. Ông ấy vốn đã có bảy mươi lăm phần trăm cổ phiếu của công ty rồi, chả cần phải bận tâm gì đến chỗ hai mươi lăm phần trăm còn lại kia nữa. Tài sản này là do các cụ để lại cho hai người. Nhưng bà Amy thì cứ muốn ìà đem bán những cổ phiếu ấy đi vì cứ để như thế nó sẽ chẳng bao giờ sinh lãi được.

Abel nghe chuyện đó không lấy làm ngạc nhiên chút nào.

ông Leroy cho biết là ông không phản đối việc bà Amy muốn đem bán những cổ phiếu ấy. Bà ta thì nghĩ rằng ở cái tuổi già nua hiện nay, thà có ít tiền để chi trước mắt còn hơn là cứ ngồi đó chờ cho đến khi công ty làm ăn có lãi thì không biết bao giờ. Do đó, thưa ông Rosnovski, tôi sẽ rất hoan nghênh nếu như ông biết có người nào quan tâm đến việc mua bán khách sạn và từ đó quan tâm đến việc mua những cổ phiếu này chăng?

- Bà Leroy định bán những cổ phiếu ấy với giá bao nhiêu? - Abel hỏi.

- Ồ tôi nghĩ bà ấy chỉ cần bán lấy sáu mươi lăm ngàn đô la thôi.

- Sáu mươi lăm ngàn thì hơi cao đối với loại chứng khoán không đem lại chút lời lãi nào, - Abel nói. Anh nói thêm, - Và trong những năm tời nó cũng chẳng có hy vọng gì hơn.

A, nhưng ông nên nhớ rằng người ta còn tính đến giá trị của cả mười một khách sạn kia nữa. - Crutis Phenton nói.

- Nhưng việc kiểm soát công ty vẫn là ở trong tay ông Leroy, như vậy thì hai mươi lăm phần trăm cổ phiếu của bà Leroy kia chẳng qua chỉ là những mẩu giấy thôi, không có nghĩa gì.

- Thôi thôi ông Rosnovski ơi, hai mươi lăm phần trăm của mười một khách sạn là cổ phần rất có giá trị, vậy mà chỉ có sáu mươi lăm ngàn đô la thôi đấy.

- Không có giá trị gì chừng nào ông Davis ieroy vẫn nắm quyền kiểm soát toàn bộ. Ông nói với bà Leroy là chỉ nên bán lấy bốn chục nghìn đô la thôi, ông Phenton ạ, như thế thì may ra tôi kiếm được người nào đó quan tâm đến chuyện này cho ông.

- Ông không thể nghĩ là người đó có khả năng trả được cao hơn một chút sao? - Ông Phenton nhướng đôi lông mày khi ông nói đến chữ cao hơn.

- Hơn một xu nữa cũng chả có đâu, ông Phenton.

ông chủ ngân hàng chụm đầu ngón tay vào nhau, tỏ vẻ đánh giá Abel không phải vừa.

- Vậy để tôi hỏi lại bà Amy xem ý kiến bà ấy thế nào. Tôi sẽ liên hệ và báo cho ông biết ngay nhé.

Rời văn phòng Curtis Phenton bước ra, tim Abel cũng đập rộn lên như lúc anh bước vào vậy. Anh vội quay về khách sạn kiểm tra vốn liếng của mình. Tài khoản của anh hiện nay đang là 33.112 đô la với tiền riêng ở ngoài là 3.008 đô la. Kiểm lại xong, Abel định tiếp tục làm việc như mọi ngày thường, nhưng đầu óc anh khó tập trung, không biết rằng cái bà Amy Leroy kia sẽ phản ứng với cái giá anh trả ra sao, anh nghĩ bụng không biết nếu mình nắm trong tay 25 phần trăm lãi suất của công ty Richmond thì tình hình sẽ ra thế nào.

Anh ngập ngừng mãi rồi mới báo cho Davis Leroy biết chuyện này. vì anh sợ rằng ông bạn Texas rất khôn ngoan kia có lẽ cho những tham vọng của anh là một thứ đe dọa gì chăng. Sau vài ngày suy nghĩ kỹ, anh cho rằng cứ nên đàng hoàng gọi cho Davis và báo cho ông ta biết những ý muốn của anh.

- Tôi muốn nói để ông biết tại sao tôi làm điều này, Davis. Tôi tin rằng công ty Richmond sẽ có một tương lai sáng sủa, và ông có thể tin chắc rằng do có tiền của tôi nằm trong đó thì tôi sẽ càng làm việc cật lực hơn. - Anh ngừng lại, rồi nói tiếp:

- Nhưng nếu ông muốn nhận cả hai mươi lăm phần trăm đó về cho ông thì tôi cũng thông cảm.

Anh lấy làm ngạc nhiên thấy ông ta không hám. - Thế này nhé, Abel. Nếu anh tin tưởng ở công ty thì anh cứ việc mua chỗ cổ phiếu đó của Amy đi. Tôi sẽ lấy làm tự hào có anh làm người cùng chung vốn.

Thế là được rồi đấy. Nhân đây, tôi cũng báo cho anh biết là tuần sau tôi sẽ mua thêm nhà chơi của Hội Sư tử Đỏ Thế nhé.

Abel vui mừng hết sức.

- Xin cảm ơn ông, Davis. Ông sẽ không bao giờ phải ân hận về quyết định này của ông.

- Tôi cũng tin như vậy, anh bạn chung vốn ạ. Một tuần sau, Abel trở lại ngân hàng. Lần này, chính anh là người xin gặp ông giám đốc. Lại một lần nữa, anh ngồi xuống chiếc ghế da màu xanh lá cây và chờ ông Phenton nói.

- Tôi rất ngạc nhiên thấy rằng - Curtis Phenton bắt đầu nói nhưng không có vẻ gì ngạc nhiên. - Bà Leroy chấp nhận số tiền bốn chục ngàn đô la để bán hai mươi lăm phần trăm cồ phiếu của bà ta trong công ty Richmond. - Ông ta ngừng một lát rồi nhìn lên Abel.

Bây giờ đã được bà ta đồng ý như vậy rồi, tôi? xin hỏi ông có thể cho tôi biết ai là người mua những cổ phiếu ấy được không?

Vâng, Abel đáp một cách tin tưởng. - Tôi sẽ là người mua chính. - - À vâng, thưa ông, Rosnovski, - Giọng ông ta vẫn không tỏ ra ngạc nhiên.

Tôi xin phép hỏi ông làm thế nào có được bốn chục nghìn đô la?

- Tôi sẽ thanh toán những cổ phiếu của tôi và rút tiền trong tài khoản riêng, tất cả cộng lại chỉ còn thiếu chừng bốn ngàn đô la nữa. Tôi hy vọng ông sẽ có thể cho tôi tạm vay số tiền đó vì ông cũng rất tin rằng những cổ phiếu của Công ty Richmond chưa được đánh giá hết mức của nó. Vả lại, số tiền bốn ngàn đô la ấy cũng chẳng qua chỉ bằng tiền hoa hồng của ngân hàng mà thôi.

Curtis Phenton chớp mắt và nhăn mặt. Những người lịch sự có nói trắng trợn như vậy trong ngân hàng của ông bao giờ đâu. Điều làm cho ông bực hơn nữa là Abel lại chỉ có đúng bấy nhiêu tiền thôi.

- Xin ông cho tôi chút thời gian để suy nghĩ về đề nghị của ông nhé, ông Rosnovski. Rồi tôi sẽ báo lại để ông biết?

Nếu để chờ lâu nữa thì tôi sẽ không cần phải vay tiền, - Abel nói. - Với tình hình thị trường xoay chuyển như bây giờ thì các khoản đầu tư khách của tôi cũng sẽ đạt tới đủ bốn chục nghìn.

Abel phải chờ thêm một tuần nữa thì được ngân hàng Continental báo cho anh biết họ sẵn sàng ủng hộ anh. Anh lập tức thanh toán các tài khoản và vay thêm gần 4.000 đô la nữa để bù vào cho đủ bốn chục ngàn.

Trong sáu tháng, Abel đã trả được món nợ 4.000 đô la bằng cách mua vào bán ra cổ phiếu từ tháng ba đến tháng tám năm 1929, đó là những ngày làm ăn tốt nhất của thị trường chứng khoán.

Đến tháng chín, các tài khoản chung và riêng của anh đều có nhích lên hơn. Anh có thêm khá tiền để mua cho mình chiếc xe Buick mới và lúc này coi như anh đã làm chủ 25 phần trăm hệ thống khách sạn của Công ty Richmond. Abel lấy làm sung sướng đã bám được rất chắc vào giang sơn của Davis Leroy. Bây giờ thì anh càng tin tưởng có thể theo đuổi cô con gái của ông ta và theo đuổi cả 75 phần trăm tài sản còn lại kia nữa.

Đầu tháng Mười, anh mời Melanie đi nghe chương trình nhạc Mozart biểu diễn tại nhà giao hưởng Chicago. Diện bộ quần áo đẹp nhất vào người để tỏ ra anh đã béo tốt hơn trước, đeo chiếc cavát lụa đầu tiên và ngắm nhìn trong gương, anh tin rằng buổi tối nay anh sẽ thành công với người đẹp. Nghe hoà nhạc xong, Abel tránh không về Richmond mặc dầu thức ăn ở đó nay đã rất ngon, anh đưa Melanie đến ăn nhà hàng Loop. Anh cẩn thận, chỉ nói đến những chuyện kinh tế, chính trị, hai chủ đề mà cô ta biết là anh thông thạo. Cuối cùng, anh mời cô về phòng mình uống rượu. Cũng là lần đầu tiên cô ta được thấy những phòng trang trí rất đẹp như thế.

Abel rót Coca- Cola theo yêu cầu của cô, bỏ vào cốc vài viên đá nhỏ, đưa cốc cho cô và trong lòng càng tin tưởng thấy cô nhìn anh mỉm cười. Anh không khỏi liếc mắt nhìn vào đôi chân thon của cô bắt tréo lại với nhau. Anh tự rót cho mình một cốc buốc- bông.

Cảm ơn anh, Abel, về buổi tối rất thú vị.

Anh ngồi xuống bên cạnh cô, xoay xoay cốc rượu trong tay nghĩ ngợi.

- Trong rất nhiều năm tôi không được nghe âm nhạc Đến lúc nghe thì thấy nhạc của Mozart đi sâu vào tâm hồn mình hơn bất cứ nhà soạn nhạc nào khác Đôi khi trông anh rất là Trung - âu, Abel ạ. - Cô kéo tà áo lụa bị Abel ngồi phải. - Ai mà ngờ được rằng ông quản lý khách sạn lại thèm chú ý đến Mozart như vậy chứ Một trong những ông cha tôi, vị Nam tước Rosnovski đầu tiên, - Abel nói, đã có một lần được gặp nhà thiên tài đó và ông ta trở thành bạn thân của gia đình, do đó tôi vẫn thường nghĩ rằng Mozart là một phần của đời tôi.

Nụ cười của Melanie rất khó khăn, không biết cô thật sự nghĩ gì. Abel nghiêng đầu hôn vào má cô ở trên tai một chút, nơi có mấy sợi tóc vàng lòa xòa xuống mặt. Cô ta vẫn tiếp tục nói chuyện như không để ý gì đến hành động này của anh.

- Phrederick Stock biểu diễn chương ba hết sức sinh động, anh có thấy thế không?

Abel lại định hôn nữa. Lần này cô xoay mặt về phía anh để cho anh được hôn lên môi. Rồi cô lùi lại.

- Có lẽ tôi phải về trường đây.

- Nhưng cô vừa mới đến mà, - Abel vội vã nói. Vâng, tôi biết thế, nhưng sáng mai tôi phải dậy sớm. Chương trình ngày mai nặng lắm.

Abel lại hôn cô nữa. Cô ngả người ra ghế và Abel dần dần đưa tay lên ngực cô. Cô bỗng vùng đẩy anh ra.

- Tôi phải đi đây, Abel, - Cô nói.

- Thôi đừng, cô đừng đi vội, - Anh nói rồi lại định hôn cô nữa.

Lần này cô chặn đứng anh lại và kiên quyết đẩy anh ra.

- Abel, anh làm gì thế? Anh tưởng mời tôi đi dự hoà nhạc và cho tôi ăn một bữa là có quyền mó vào người tôi đấy sao?

- Nhưng chúng ta đã đi với nhau như thế hàng tháng nay rồi, - Abel nói. - Tôi nghĩ là cô không lấy thế làm phiền chứ.

- Có phải chúng ta đi với nhau hàng tháng đâu, Abel. Chỉ thỉnh thoảng tôi ăn với anh trong phòng ăn của cha tôi, anh tưởng như vậy có nghĩa là chúng ta đã đi với nhau hàng tháng sao?

- Tôi xin lỗi, - Abel nói. - Tôi không hề có ý muốn làm gì cô, chỉ là muốn sờ vào nglrời cô thế thôi.

- Tôi không bao giờ cho phép người đàn ông nào sờ vào người tôi, cô nói. - Trừ phi tôi sẽ lấy người đó.

Nhưng tôi muốn lấy cô, - Abel chậm rãi nói.

Melanie phá lên cười.

- Có gì lạ đâu mà cười? - Abel đỏ mặt lên hỏi.

- Anh đừng ngớ ngẩn, Abel, tôi không bao giờ có thể lấy anh được.

- Tại sao không? - Abel hỏi, rất lạ với cái giọng kiên quyết đó của cô ta.

- Sẽ chẳng bao giờ có thể có chuyện một người đàn bà dòng dõi ở miền Nam mà đi lấy một người Ba Lan mới nhập cư đâu, - Cô ta đáp và ngồi thẳng dậy vuốt lại tà áo - Nhưng tôi là một Nam tước, - Abel nói với giọng kiêu hãnh.

Melanie lại phá lên cười.

- Chắc anh không nghĩ là có người tin điều đó chứ, Abel? Anh không thấy là mỗi khi anh nhắc đến cái danh tước ấy thì cả đám nhân viên khách sạn đều cười vào lưng anh đó sao?

Anh chững người, cảm thấy quái lạ, mặt lúc đỏ lúc tái - Họ cười sau lưng tôi à?, - Anh dằn giọng hỏi.

- Phải, - Cô đáp. - Hẳn anh biết rằng trong khách sạn người ta đã đặt cho anh cái tên là Nam tước Chicago chứ Abel lặng người không nói được.

- Thôi anh đừng có ngốc nghếch và bận tâm về chuyện đó làm gì nữa. Tôi nghĩ anh đã làm được một việc rất tốt cho bố tôi và bố tôi rất khâm phục anh đấy, nhưng tôi thì chả bao giờ có thể lấy anh được.

Abel ngồi yên lặng, lẩm bẩm nhắc lại câu cô ta vừa nói.

- Tất nhiên thế rồi. Bố tôi rất quý anh, nhưng ông sẽ chẳng bao giờ đồng ý cho anh làm con rể ông ấy được đâu - Tôi xin lỗi đã xúc phạm đến cô, - Abel nói.

- Không đâu, Abel. Trái lại tôi cho như thế là mình được quý chuộng. Thôi, chúng ta hãy quên đi đừag nói đến chuyện ấy nữa. Có lẽ anh vẫn đồng ý đưa tôi về nhà chứ?

Cô đứng dậy đi ra cửa trong khi Abel vẫn còn ngồi sững người. Anh chậm chạp đứng dậy và khoác áo ngoài vào cho Melanie. Đi trong hành lang, anh chợt nhớ ra mình hơi bị thọt chân. Họ cùng vào thang máy, rồi anh gọi xe đưa cô về. Trong khi xe tắc xi đợi ở ngoài, anh tiễn cô vào đến tận cổng ký túc xá của nhà trường. Anh hôn tay cô.

- Tôi mong rằng điều này không có nghĩa là chúng ta không còn là bạn của nhau nữa, - Melame nói.

- Tất nhiên rồi, - Anh cố đáp.

Cảm ơn anh mời tôi dự buổi hòa nhạc, Abel. Tôi tin chắc anh muốn tìm một cô gái Ba Lan đẹp để lấy cô ta sẽ chẳng khó khăn gì đâu. Chúc anh ngủ ngon nhé.

- Chào cô, - Abel nói.

Abel nghĩ là sẽ không có khó khăn gì lắm với thị trường chứng khoán New York, nhưng một hôm có người khách hỏi anh xem có thể thanh toán tiền khách sạn bằng cổ phiếu được không, anh mới ngớ ra.

Bản thân Abel chỉ giữ một số ít cổ phiếu vì bây giờ hầu hết tiền nong của anh đã gắn với Công ty Richmond rồi. Tuy nhiên anh cũng nghe lời khuyên của đại lý và bán hết những cổ phiếu còn lại của anh dù chịu thiệt một ít nhưng tài sản còn lại vững vàng hơn. Giá như vốn liếng của anh vẫn còn ngoài thị trường thì có lẽ anh đã không để ý đến những hoạt động lên xuống hàng ngày của chỉ số Doqu Jones.

Wãng nửa năm đầu, khách sạn làm ăn khá. Abel tính với đà này anh sẽ thực hiện được lợi nhuận như dự kiến là 25.000 đô la cho năm 1929, và anh thường xuyên báo cho Davis Leroy về nhữnb tiến bộ đã đạt được Nhưng đến tháng mười thì diễn ra vụ suy thoái và khách sạn chỉ còn nửa số khách đến thuê. Vào ngày Thứ ba Đen tối, Abel gọi điện xuống cho Davis Leroy.

ông chủ người Texas thường vẫn rất vui tính này bây giờ có vẻ chán chường, lo nghĩ, và không muốn dính đến những chuyện sa thải người làm việc của khách sạn nữa, điều mà Abel thấy đang rất cấp bách.

- Cứ chờ đấy đã, Abel, - Ông chủ nói. - Tuần sau tôi sẽ lên rồi ta cùng giải quyết, hoặc là tìm cách giải quyết Abel nghe ông ta nói câu sau mà chột dạ.

Có vấn đề gì đấy Davis? Có gì ông cần đến tôi không?

- Lúc này thì chưa.

Abel phân vân không hiểu.

- Tại sao ông không giao quyền cho tôi giải quyết ngay bây giờ rồi tuần sau ông lên đây tôi sẽ báo cáo lại có được không?

- Không dễ dàng thế đâu, Abel. Tôi không muốn bàn nhữag vấn đề này trên điện thoại, nhưng ngân hàng họ đang gây rắc rối với tôi về chuyện thua thiệt, trên thị trường chứng khoán, họ dọa nếu tôi không thu đủ tiền trả nợ thì sẽ buộc tôi phải bán hết khách sạn đi.

Abel lạnh người.

- Nhưng anh không có gì phải lo đâu, - Davis nói tiếp một cách yếu ớt. - Tuần sau lên Chicago tôi sẽ nói chi tiết cho anh biết. Từ nay đến đó, tôi tin rằng sẽ thu xếp được ổn thỏa thôi.

Điện thoại ngắt. Anh toát mồ hôi đầy người. Điều đầu tiên anh nghĩ là phải làm thế nào để giúp được cho Davis. Anh gọi sang cho Curtis Phenton để hỏi tên người chủ ngân hàng kiểm soát Công ty Richmond là ai. Anh cảm thấy nếu mình gặp được người đó thì có thể đỡ được cho Davis lắm.

Mấy ngày sau đó Abel liên tục gọi cho Davis nhiều lần để nói với ông ta rằng tình hình đang mỗi lúc một tồi tệ hơn, vì vậy phải có quyết định gấp. Nhưng Davis lại càng tỏ ra lúng túng chưa biết phải quyết định như thế nào. Đến lúc tình hình không còn kiểm soát được nữa, Abel tự mình quyết định. Anh bảo cô thư ký gọi điện thoại đề anh nói chuyện với chủ ngân hàng nắm Công ty Richmond trong tay.

- Thưa ông gọi ai, ông Rosnovski? - Tiếng một người đàn bà trịnh trọng hỏi.

Abel nhìn xuống tên viết trên mảnh giấy để trước mặt và cũng trả lời lại bằng một giọng trịnh trọng.

- Tôi xin chuyển cho ông.

Kính chào, - Một giọng oai vệ Ở đầu dây đằng kia nói. - Tôi giúp gì được ông đây?

- Tôi hy vọng như vậy, thưa ông. Tên tôi là Abel Rosnovski, - Abel hồi hộp nói. - Tôi là người quản lý khách sạn Richmond Chicago, và tôi muốn được gặp ông để bàn về tương lai của Công ty Richmond.

- Tôi không có quyền bàn bạc với ai trừ ông Davis Leroy, - Giọng dứt khoát trên dây đáp.

Nhưng tôi là chủ của 25 phần trăm tài sản Công ty Richmond kia mà, - Abel nói.

- Như vậy cần có người giải thích cho ông biết rằng trừ phi ông làm chủ 51 phần trăm tài sản, không thì ông không có cương vị gì bàn bạc với ngân hàng được, hoặc trừ phi ông được ông Davis Leroy ủy quyền.

- Nhưng ông ấy là bạn thân của tôị...

- Hẳn là như thế rồi, thưa ông Rosnovski.

- Và tôi muốn giúp - ông Leroy có giao cho ông quyền đại diện không?

Không, nhưng....

- Vậy thì rất tiếc. Về mặt nghề nghiệp, tôi sẽ không thể tiếp tục câu chuyện này với ông được.

Sao ông nhẫn tâm vậy? - Abel nói nhưng liền đó lấy làm ân hận ngay.

- Đó là ông nghĩ vậy thôi, ông Rosnovski. Xin chào ông.

ôi đồ chết tiệt, Abel nghĩ bụng và dập máy xuống. Anh lo rằng mình làm như vậy còn có hại hơn là giúp ích cho Davis. Bây giờ anh không còn biết làm gì nữa.

Nhưng anh không phải chờ lâu.

Tối hôm sau Abel thoáng thấy Melanie ở nhà ăn trong khách sạn. Cô ta không còn có vẻ tươi tỉnh và tự tin như mọi khi, mà có dáng mệt mỏi, lo âu.

Anh đã định đến hỏi cô ta xem có chuyện gì không, nhưng rồi lại thôi. Anh trở về phòng làm việc và chợt thấy Davis Leroy đang đứng một mình trước nhà sảnh. Ông ta mặc chiếc áo kẻ sọc đúng như ngày đầu ông đã gặp nói chuyện với Abel ở khách sạn Plaza.

- Có Melame trong phòng ăn không - Có cô ấy đang ở đó, - Abel nói. - Tôi không biết hôm nay ông lên đây. Để tôi báo thu xếp phòng đặc biệt cho ông ngay.

- Chỉ một đêm thôi, Abel, rồi chốc nữa tôi gặp riêng anh một tí.

Vâng được.

Abel không thích nghe nói đến "gặp riêng". Hay là Melanie đã mách bố về chuyện hôm trước? Có phải vì thế mà mấy hôm vừa rồi anh không sao yêu cầu Davis quyết định được gì hết?

Davis Leroy đi vội vào phòng ăn trong khi Abel ra quầy tiếp tân kiểm tra lại xem phòng đặc biệt trên tầng mười bảy có khách nào ở không. Đến nửa số phòng khách sạn không có khách, vì vậy phòng đặc biệt không có ai ở cũng là tự nhiên. Abel ghi tên cho ông chủ vào phòng đó rồi anh đứng ở quầy tiếp tân chờ đến hơn một tiếng đồng hồ. Anh trông thấy Melanie bỏ ra, mặt mũi sưng sỉa như cô ta vừa mới khóc vậy. Vài phút sau, bố cô theo ra.

- Anh kiếm lấy chai buốc- bông, Abel- chắc là khách sạn phải có - Rồi lên phòng tôi nhé.

Abel lấy hai chai buốc- bông ở tủ riêng của anh rồi lên tầng mười bẩy và đến phòng ông, trong bụng vẫn lo nghĩ không biết Melanie có nói gì với bố không.

- Anh mở chai, và tự rót cho anh một cốc lớn đi, Abel, - Davis Leroy nói.

Một lần nữa, Abel cảm thấy sợ chưa biết là sẽ có chuyện gì. Lòng bàn tay anh bắt đầu toát mồ hôi. Chả có lý vì anh muốn lấy con gái ông chủ mà bị đuổi?

Leroy với anh đã là bạn gần gũi với nhau từ hơn một năm nay rồi. Chuyện gì rồi anh cũng sẽ biết ngay đây thôi.

Uống cạn cốc rượu của anh đi.

Abel nốc một hơi hết cốc rượu. Davis Leroy cũng vậy - Abel, tôi hoàn toàn sập tiệm rồi. - Leroy ngừng lại một chút và lại rót rượu cho cả hai người. - Một nửa nước Mỹ cũng sập tiệm rồi, anh thử nghĩ coi.

Abel không nói gì, phần vì anh không nghĩ ra điều gì để nói. Hai người ngồi nhìn nhau rồi lại uống tiếp một cốc nữa. Abel cố thốt lên:

- Nhưng ông vẫn còn làm chủ mười một khách sạn.

- Đó là trước đây - Davis Leroy nói. - Phải nói đó là quá khứ Abel ạ. Tôi không còn làm chủ một khách sạn nào nữa. Ngân hàng đã thu về cho họ từ thứ năm trước rồi.

- Nhưng nó thuộc về ông kia mà. Nó thuộc về gia đình ông từ hai đời nay rồi kia mà, - Abel nói.

- Trước kia thì thế, bây giờ thôi rồi. Bây giờ nó thuộc về ngân hàng. Không có lý gì anh không biết tất cả sự thật đó, Abel. Hầu như mọi người ở Mỹ lúc này đều gặp tình trạng ấy, anh to anh bé cũng vậy.

Khoảng mười năm trước đây, tôi vay hai triệu đô la và lấy những kháeh sạn đó ra ký quỹ. Tôi đem tiền đó ra kinh doanh cổ phiếu, gửi nó vào những công ty rất vững chắc. Tôi đã xây dựng vốn lên đến gần năm tnệu, và cũng vì thế tôi không quan tâm gì đến những khách sạn nữa, vả lại nó vẫn luôn luôn được giảm thuế tính vào lợi nhuận tôi kiếm được trên thị trường.

Đến bây giờ thì những cổ phiếu khách sạn ấy không còn giá trị gì nữa, chỉ có đem làm giấy vệ sinh mà thôi. Trong ba tuần qua tôi cố sức bán đi nhưng không có ai mua.

Thế là thứ năm vừa rồi ngân hàng đã khóa sổ đối với tôi rồi. - Abel nhớ là anh nói chuyện này với chủ ngân hàng đúng vào hôm thứ năm. - Hầu hết những người nào là nạn nhân của cuộc phá sản lần này chỉ còn có mấy mẩu giấy để đảm bảo cho nhữag khoản vay của họ, nhưng với trường hợp của tôi thì ngân hàng họ đã có giấy tờ đem ký quỹ khách sạn từ trước rồi nên chả làm thế nào được. Vì thế đến khi tôi sập tiệm thì họ đã lập tức chiếm hữu các khách sạn. Bọn họ có cho tôi biết là sẽ bán công ty này đi, càng nhanh càng tốt.

- Thế là điên rồ. Họ sẽ chả thu về được gì vào lúc này, còn nếu họ ủng hộ chúng ta qua được cơn khó khăn này,. chúng ta sẽ cho họ thấy đầu tư có lãi cho mà coi.

Tôi biết anh làm được, Abel. Nhưng họ đã có kinh nghiệm với tôi trong quá khứ rồi nên không chịu. Tôi đã đến gặp họ giới thiệu về anh, và còn bảo họ tôi sẽ tập trung sức vào công ty này nếu được họ ủng hộ.

Nhưng họ không thèm quan tâm nữa. Họ chỉ còn coi tôi như một lìoại ngớ ngẩn mới vào nghề chẳng biết làm ăn gì nữa và cũng không còn vốn liếng gì. Trời ơi, tôi mà có cơ hội quay lại được, tôi sẽ cho cái thằng chủ ngân hàng ranh con ấy một trận rồi chiếm luôn cả ngân hàng của nó nữa. Bây giờ đây, điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là uống cho say đi. Vì tôi hết rồi, không còn xu nào nữa, phá sản rồi.

Thế là tôi cũng hết, - Abel chậm rãi nói.

- Không, anh bạn ơi, anh còn cả một tương lai trước mặt. Bất cứ ai tiếp quản công ty này cũng không thể làm gì được nếu không có anh.

- Ông quên rằng tôi có 25 phần trăm tài sản công ty Davis Leroy trừng trừng nhìn anh. Rõ ràng là ông ta đã quên đi điều đó.

- Ôi Lạy Chúa! Tôi có biết đâu anh đã bỏ hết tiền vào cơ nghiệp của tôi như thế, Abel? - Giọng ông ta cảm động.

- Bỏ hết, không còn giữ xu nào, - Abel nói. - Nhưng tôi không tiếc đâu, Davis. Thà mất cho một người khôn ngoan còn hơn được với một anh ngốc - Anh lại rót rượu buốc- bông vào cốc mình.

Davis Leroy long lanh nước mắt.

Anh biết không, Abel, anh là người bạn tốt nhất người ta có thể có được trên đời này. Anh chấn chỉnh lại khách sạn này, anh lại bỏ tiền của anh vào đó. Bây giờ tôi làm cho anh sạt nghiệp mà anh không hề phàn nàn một lời nào. Rồi lại còn con gái tôi nó không chịu lấy anh nữa chứ.

- Ông không lấy làm phiền lòng việc tôi hỏi cô ấy sao? - Abel nói. Mặc dầu đã có rượu vào người rồi, anh vẫn cứ không tỉn rằng ông ta không trách anh về chuyện đó.

- Cái con bé ngul ngốc ấy nó chả biết phân biệt tốt xấu thế nào. Nó muốn lấy một anh chàng chủ ngựa nào đó ở niền Nam mà trong gia phả đã có ba đời làm tướng cơ. Còn nếu lấy một anh nào ở miền Bắc thì cụ kỵ anh ta đã từng phải là người đầu tiên đến đất này bằng chiếc thuyền MaynoWer mới được. Nếu có anh nào khoe rằng mình có bà con họ hàng đã từng đi trên chiếc thuyền ấy, thì loại thuyền như vậy cũng đã chìm đến một nghìn lần trước khi sang đến đất này rồi. Rất tiếc tôi không có đứa con gái nào khác để gả cho anh. Abel. Chưa từng có ai phục vụ tôi trung thành hơn anh được. Có anh là một thành viên trong gia đình thì tôi cũng tự hào. Anh với tôi cùng cộng tác với nhau thì thành một cánh rất mạnh đấy, tuy nhiên tôi nghĩ một mình anh cũng đủ đánh bại cả đám họ rồi. Anh còn trẻ, phía trước anh còn đủ mọi thứ.

Mới hai mươi ba tuổi mà Abel bỗng cảm thấy mình rất già.

- Cám ơn ông đã tin cậy tôi và tâm sự như thế, Davis - Anh đáp. Vả lại, ai cần quái gì đến cái thị trường chứng khoán ấy? ông biết không, ông là người bạn tốt nhất tôi chưa từng có đấy. - Rượu đã bắt đầu nói.

Abel rót cho mình một cốc buốc- bông nữa và nốc cạn. Đến gần sáng thì hai người đã làm hết cả hai chai rượu. Lúc Davis ngủ thiếp đi ở ghế thì Abel cố gượng dậy đi xuống tầng mười, cởi quần áo rồi lăn ra giường Anh đang ngủ say thì có tiếng đập cửa thình thình. Đầu anh quay cuồng nhưng tiếng đập cửa vẫn tiếp tục mỗi lúc một to hơn. Anh lật đật đứng dậy được và lê bước ra cửa. Đó là chú nhỏ sai vặt của khách sạn.

- Mau lên, ông Abel, ông xuống mau lên, - Chú bé vừa nói vừa chạy xuống hành lang.

Abel khoác vội chiếc áo ngủ lên người, xỏ chân vào đôi đép rồi lảo đảo chạy theo, chú bé đang giữ cửa thang máy cho anh bước vào.

Mau lên, ông Abel,- Chú bé lại nói.

- Đi đâu vội thế- Abel hỏi. Đầu óc anh vẫn còn quay cuồng. Thang máy từ từ xuống nhà. Anh chợt nhớ ra cuộc nói chuyện hồi đêm. Có lẽ bây giờ ngân hàng đến tịch thu khách sạn đây.

- Có một người nhảy ra ngoài cửa sổ.

- Khách à? Abel tỉnh ngay người.

- Vâng, có lẽ thế, - Chú bé nói. - Nhưng tôi không chắc lắm.

Thang máy xuống đến tầng cuối. Abel vội đẩy cửa sắt và chạy ra đường. Cảnh sát đang có mặt ở đây.

Giá không trông thấy chiếc áo kẻ sọc sặc sỡ kia thì anh không nhận ra người đó là ai. Một viên cảnh sát đang lấy những chi tiết cua vụ tai nạn. Một người mặc thường phục bước đến chỗ Abel.

ông là quản lý?

- Vâng, chính tôi.

ông có thể biết được người này là ai không?

- Tôi biết, - Abel đáp, lưỡi hơi líu.- Tên ông ta là Davis Leroy.

ông có biết ông ta ở đâu đến và chúng tôi làm thế nào liên lạc với người thân của ông ta được?

Abel ngoảnh đi không dám nhìn vào thân thể ông ta đã bị dập nát hết. Anh ta trả lời như chiếc máy.

ông ta ở Dallas, có cô Melanie Leroy là con gái ông ta. Cô ấy là sinh viên đang sống trong khu học xá của Đại học Chicago.

- Được Chúng tôi sẽ cho người đến gặp cô ta ngay.

- Không, ông đứng làm thế. Để tôi đích thân đi gặp cô ấy Abel nói.

- Cảm ơn ông. Không phải do người lạ báo tin thì như vậy tốt hơn.

- Thật là một điều khủng khiếp, mà không cần thiết phải làm thế này,- Abel nói và liếc nhìn lại thân thể người bạn.

- Ngày hôm nay, đây là vụ thứ bảy ở Chicago đấy,- Viên sĩ quan nói và gập cuốn sổ nhỏ lại. - Chúng tôi sẽ còn cần phải kiểm tra lại phòng ông ta nữa. Ông đừng cho ai thuê căn phòng ấy nếu chúng tôi chưa có lệnh nhé.

Vâng, tùy ông.

Viên cảnh sát bước ra chiếc xe cứu thương.

Abel nhìn mấy người khiêng cáng nhặt cái xác của Davis Leroy ở vỉa hè lên. Anh thấy lạnh run người, khuỵu đầu gối xuống và trong bụng đau dội lên. Lại một lần nữa anh mất đi một người bạn gần gũi nhất.

Có lẽ, nếu mình uống ít đi và suy nghĩ thêm một chút thì đã cứu sống được ông ấy rồi. Anh gượng đứng dậy trở về phòng, tắm nước lạnh thật lâu rồi lóng ngóng mặc quần áo vào. Anh gọi mang đến cốc cà phê đen.

Uống xong, anh miễn cưỡng bước lên phòng đặc biệt rồi mở cửa. Ngoài hai chai rượu buốc- bông đã uống cạn, trong phòng không có một tí đấu hiệu gì nói lên cái thảm cảnh đã diễn ra trước đây ít phút. Rồi anh thấy trên chỉếc bàn ở đầu giường có mấy bức thư.

Giường vẫn còn để nguyên, chưa ai nằm. Một bức thư gửi cho Melame. Bức thư thứ hai gửi cho một luật sư ở Dallas. Và một bức thứ ba gửi Abel. Anh xé thư ra xem, nhưng hầu như không dám đọc những lời nói cuối cùng của Davis Leroy. Thư viết:

,,Abel thân mến, Sau khi ngân hàng quyết định như vậy, tôi chỉ còn một cách này thôi. Tôi không còn gì để sống. Làm lại từ đầu thì tôi đã già quá rồi. Tôi muốn anh biết là tôi tin rằng anh là người duy nhất có thể làm được điều gì đó thoát khỏi tình trạng rắc rối ghế gớm này.

Tôi đã viết lại một chúc thư trong đó để lại cho anh cả 75 phần trăm chứng khoán của công ty Richmond.

Tôi biết cái đó bây giờ vô dụng, nhưng nó sẽ đảm bảo cho anh với cương vị là người chủ hợp pháp của công ty. Anh đã có can đảm mua 25 phần trăm cổ phần bằng tiền của anh, thì anh có quyền xem xét sẽ mặc cả với ngân hàng như thế nào. Tôi để tất cả những gì còn lại cho Melanie, kể cả ngôi nhà. Chỉ có anh là người báo tin cho nó biết thôi. Đừng để cảnh sát nói.

Tôi sẽ rất tự hào nếu có anh là con rể đấy Bạn anh, Davis" Abel đọc đi đọc lại bức thư rồi gấp lại cẩn thận cất vào ví.

Vào cuối buổi sáng hôm đó anh đến học xá và tìm cách báo tin một cách nhẹ nhàng cho Melame biết.

Anh ngồi trên ghế mà lúng túng mãi không biết nói gì thêm sau khi báo tin ấy. Nhưng cô nghe tin ấy với vẻ rất bình tĩnh, dường như cô đã biết trước chuyện sẽ xảy ra mặc dầu cô không che giấu được nỗi xúc động. Cô không khóc trước mặt Abel, có lẽ để anh về rồi cô sẽ khóc.

Lần đầu tiên trong đời, anh cảm thấy thương xót cho cô.

Abel trở về khách sạn. Anh quyết định không ăn bữa trưa và bảo người phục vụ chỉ đem lên cho anh một cốc nước cà chua trong khi anh mở xem các thư từ gửi đến. Có một lá thư của Curtis Phenton thuộc ngân hàng Continental. Anh chắc ngày hôm nay sẽ có nhiều thư lắm. Phenton có nhận được lời khuyên của một ngân hàng Boston tên là Kane và Cabot, và họ sẵn sàng nhận trách nhiệm về tài chính đối với Công ty Richmond. Lúc này, công việc kinh doanh vẫn cứ nên tiếp tục như thường, chờ đến khi nào có thể họp với ông Davis Leroy để bàn về số nhận các khách sạn trong công ty đã. Abel ngồi nhìn những chữ trong lá thư ấy, rồi sau khi uống hết cốc nước cà chua nữa, anh thảo một bức thư cho chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot, một ông Alan Lloyd nào đó. Năm ngày sau, anh nhận được thư trả lời yêu cầu anh đến dự một cuộc họp ở Boston vào ngày bốn tháng giêng để thảo luận việc thanh toán công ty với một ông giám đốc chuyên lo về những vụ phá sản. Trong khi chờ đợi, ngân hàng sẽ có thể tìm hiểu thêm được về cái chết bất ngờ và bi thảm của ông Leroy.

Cái chết bất ngờ và bi thảm ư? Vậy ai gây ra cái chết ấy? Abel bỗng thốt lên rất to. Anh nhớ lại câu nói của Davis Leroy lúc trước:

"Tôi mà có cơ hội quay lại được tôi sẽ cho cái thằng chủ ngân hàng ranh con ấy một trận rồi chiếm luôn cả ngân hàng của nó cho mà coi - Ông đừng lo Davis. Tôi sẽ làm việc đó cho ông, - Abel nói.

Trong những tuần cuối năm đó, Abel điều khiển các hoạt động của khách sạn công ty Richmond Continental một cách rất chặt chẽ, từ nhân viên đến giá cả và cố làm sao cho không bị chìm thêm nữa.

Anh không thể không nghĩ đến mười khách sạn kia trong công ty bây giờ tình hình ra sao. Nhưng dù nghĩ đến anh cũng không có thì giờ tìm hiểu. Vả lại cũng không phải là trách nhiệm của anh nữa.

° ° °

Ngày bốn tháng Giêng năm 1939, Abel Rosnovski đến Boston,anh đi từ ga xe lửa đến ngân hàng Kane và Cahot bằng xe tắc xi và đến trước giờ hẹn ít phút. Anh ngồi ở phòng tiếp khách, phòng này rộng hơn và trang hoàng đẹp hơn bất cứ phòng ngủ nào ở khách sạn Richrllol Chicago. Anh ngồi đọc tờ Nhật báo phố Wall. Tờ báo toàn nói cái điệu như năm một ngàn chín trăm ba mươi sẽ là năm làm ăn khấm khá hơn. Anh không tin. Một người đàn bà cỡ trung niên có vẻ nghiêm nghị bước vào phòng.

- Ông Kane sẽ gặp ông bây giờ, thưa ông Rosnovski.

Abel đứng dậy theo bà qua dẫy hành lang dài vào một căn phòng nhỏ lát gỗ sồi có chiếc bàn lớn bọc da.

Ngồi đằng sau bà là một người đàn ông to lớn, đẹp trai mà Abel đoán cũng chạc tuổi mình. Mắt anh ta cũng ánh như mắt Abel. Trên tường phía sau anh ta là một bức tranh chân dung của một người lớn tuổi hơn, nét mặt giống với người trẻ tuổi ngồi dưới. Đó hẳn là bố anh ta, Abel nghĩ bụng. Nhìn anh ta, Abel đã nghĩ ngay là với vụ suy thoái này, anh ta vẫn sẽ sống sót được. Ngân hàng thì muốn thế nào họ cũng vẫn có lợi.

- Tên tôi ìà Wilham Kane, - Người trẻ tuổi ngồi sau bàn đứng dậy chìa tay ra. - Xin mời ông ngồi, ông Rosnovski.

Cảm ơn ông, - Abel đáp.

Wilìiam nhìn kỹ con người nhỏ bé trong bộ quần áo không vừa với anh ta lắm nhưng có đôi mắt rất cương nghị.

- Có lẽ ông cho phép tôi nói ngay đến tình hình gần đây nhất theo chỗ chúng tôi hiểu - Nhà ngân hàng mắt xanh nói.

- Vâng, tất nhiên.

- Cái chết bi thảm và quá sớm của ông Leroỵ...- William nói với một vẻ không tự nhiên lắm.

Phải, do sự bất nhã của các ông đấy, Abel nghĩ bụng.

- Hình như đã đặt ông vào tình thế phải quản công ty Richmond này cho đến khi nào ngân hàng chúng tôi tìm được người mua những khách sạn ấy.

Mặc dầu bây giờ cả trăm phần trăm cổ phần của công ty đều đã mang tên ông nhưng toàn bộ tài sản đó, dưới dạng mười một khách sạn, đều đã được ông Leroy trước đây thế chấp để vay của ngân hàng hai triệu đô la, do đó về mặt pháp lý đã là tài sản của chúng tôi. Như vậy ông không còn trách nhiệm gì với những khách sạn ấy nữa. Nếu như bây giờ ông muốn hoàn toàn tách mình ra khỏi những hoạt động này, thì tất nhiên chúng tôi cũng rất thông cảm.

Một kiểu gợi ý rất xúc phạm đây, Wilham nghĩ bụng, nhưng đằng nào thì cũng phải nói ra.

Còn Abel thì nghĩ:

đây là kiểu mà bất cứ anh chủ ngân hàng hàng nào cũng làm, hễ có vấn đề khó khăn là rũ tuột ngay.

William Kane nói tiếp.

Trong khi chờ đợi thanh toán số tiền hai triệu đô la nợ ngân hàng, tôi e rằng chúng tôi phải xét đến những tài sản khác của ông Leroy coi như không đủ để trả nợ. Chúng tôi ở ngân hàng này rất hoan nghênh việc dính líu của riêng ông đến công ty, và chúng tôi chưa làm gì đụng đến các khách sạn ấy trước khi có dịp nói chuyện trực tiếp với ông. Chúng tôi nghĩ có lẽ ông có thể biết đến người nào đó có ý mua lại những tài sản này, như nhà cửa, đất đai, và bản thân công việc kinh doanh kia cũng là một tài sản có giá trị.

- Nhưng không đủ giá trị để ông ủng hộ tôi chứ gì,- Abel nói.- Anh đưa tay lên vuốt mớ tóc đen rậm của mình. - Ông sẽ cho tôi một thời gian bao nhiêu lâu để tìm người mua?

William ngập ngừng một lúc vì anh trông thấy chiếc vòng bạc ở cổ tay Abel Rosnovski. Anh đã có trông thấy chiếc vòng bạc đó một lần rồi, nhưng không thể nhớ ra là đã thấy ở đâu.

- Ba mươi ngày. Ông nên nhớ rằng hiện nay hàng ngày ngân hàng vẫn phải chịu đựng những mất mát của mười trong số mười một khách sạn ấy. Chỉ có Chicago Richmond là có lãi chút ít thôi.

- Nếu ông cho tôi thêm thời gian và ủng hộ tôi, ông Kane, tôi sẽ làm cho tất cả eác khách sạn đó kinh doanh có lãi. Tôi biết là tôi làm được, - Abel nói. - Chỉ cần ông cho tôi một cơ hội để tôi chứng minh điều đó.- Abel thấy mình như nghẹn họng, không nói được hết lời - Mùa thu năm ngoái khi ông Leroy đến gặp chúng tôi cũng đã đảm bảo với ngân hàng như vậỵ. - Wiìham nói.- Nhưng thời buổi bây giờ khó khăn lắm.

Không thể nói trước là kinh doanh khách sạn sẽ phất lên được, mà chúng tôi thì không phải những người chuyên việc khách sạn, thưa ông Rosnovski. Chúng tôi chỉ là những nhà ngân hàng.

Albel đã bắt đầu thấy bực mình với cái "thằng ranh con" ăn mãc lịch sự này. Davis nói đúng thật. - Cũng là khó khăn với các nhân viên khách sạn của tôi nữa đấy - Anh nói.- Ông tưởng tượng bây giờ bán những khách ấy đi thì họ còn sống nhờ vào đâu được?

- Tôi e rằng đó không phải trách nhiệm của chúng tôi ông Rosnovski ạ. Tôi phải hành động cho lợi ích tốt nhất của ngân hàng vậy thôi.

Lợi ích tốt nhất của chính ông chứ, ông Kanẻ- Abel nói lại, giọng gay gắt.

Anh chàng kia đỏ mặt.

Đó là một ý kiến không công bằng, ông Rosnovski ạ nếu như không thông cảm với những khó khăn của ông thì tôi sẽ rất lấy làm giận đấy.

- Rất tiếc là ông không kịp thời thông cảm với ông Davis Leroy, - Abel nói. - Nếu được thông cảm thì đã không có chuyện. Ông Kane, chính ông đã giết chết ông ấy. chính ông đã đẩy ông ấy đến chỗ phải nhẩy ra ngoài cửa sổ, ông và những đồng nghiệp của ông chỉ việc ngồi yên phận ở đây trong khi chúng tôi phải lăn lưng ra mà làm để đảm bảo cho các ông có thể khi thuận tiện thì kiếm bở còn khi không thuận tiện thì đè đầu đè cổ người ta chứ gì?

William cũng đã nổi nóng. Tuy nhiên, anh không biểu lộ ra ngoài mặt như Abel Rosnovski.

- Kiểu bàn bạc như thế này thì chẳng đưa chúng ta đến đâu được, ông Rosnovski. Tôi cần báo trước để ông biết nếu trong vòng ba mươi ngày ông không kiếm ra được người mua, thì buộc chúng tôi sẽ phải đưa các khách sạn ra công khai bán đấu giá.

Rồi sau đó ông sẽ khuyên tôi tìm vay tiền ở một ngân hàng khác chứ gì, - Abel mỉa mai. - Ông biết tôi là thế nào rồi mà ông vẫn không ủng hộ, vậy ông bảo tôi còn đi đâu nữa - Tôi e rằng tôi cũng không biết, - Wilham đáp. - Điều đó là hoàn toàn tùy ông. Lệnh của ban giám đốc chúng tôi là giải quyết tài sản này càng nhanh càng tốt và tôi cũng chỉ biết làm như vậy. Có lẽ xin ông tiếp xúc với tôi không chậm hơn ngày bốn tháng hai và cho tôi biết ông đã tìm được người mua chưa. Xin chào ông, ông Rosnovski.

William đứng dậy và lại chìa bàn tay. Lần này, Abel không thèm bắt tay nữa và anh đi thẳng ra cửa.

Willam đứng đó nhăn mặt nhìn theo Abel đã đóng cửa lại. Anh vẫn còn băn khoăn về chiếc vòng bạc kia. Không biết anh đã nhìn thấy nó ở đâu một lần rồi.

Cô thư ký trở lại. Cô ta nói.

- Con người nhỏ bé mà ghê gớm quá.

- Không đâu, không hẳn như thế đâu, - William nói.- Ông ta nghĩ rằng chính chúng ta đã giết người bạn đồng sự của ông ta, và bây giờ thì cllúng ta đang giải tán công ty của ông ta mà không đếm xỉa gì đến những người làm ăn ở đó, chưa kể đến bản thân ông ta là một người tỏ ra rất có năng lực. Phải nói là ông Rosnovski đã rất có lễ độ mặc dầu ở trong hoàn cảnh như vậy, còn tôi thì phải thú thật là tôi rất lấy làm tiếc thấy ban giám đốc ngân hàng này đã không chịu ủng hộ Ông ta. - Anh nhìn lên cô thư ký.

- Cho tôi nói chuyện điện thoại với ông Cohen.

° ° °

Albel trở về Chicago vào sáng hôm sau, trong lòng vẫn còn bực bội về chuyện Wilham Kane đã đối xử với mình như vậy. Anh không nghe rõ chú bé bán báo rao những gì ở góc đường vì anh đang gọi chiếc xe tắc xi và trèo lên ngồi ở phía sau.

- Cho tôi về khách sạn Richmond.

ông có phải nhà báo không?- Người lái xe đánh lên phía phố State và hỏi anh.

- Không. Sao ông hỏi thế?- Abel nói.

- Không, vì ông hỏi về Richmond mà. Hôm nay các nhà báo đều đến đó cả.

Abel không thể nhớ ra khách sạn Richmond của mình có định làm gì để thu hút các nhà báo như vậy đâu nhỉ.

Người lái xe nói tiếp:

- Nếu ông không phải nhà báo thì có lẽ tôi đưa ông đến một khách sạn khác chứ?

- Tại sao thế? Abel hỏi lại, ngơ ngác.

Nếu ông về khách sạn đó thì chả ngủ ngon được đâu vì Richmond đă bị cháy trụi rồi còn đâu.

Chiếc xe vừa quay rẽ ở góc đường thì Abel đã thấy mình đối diện với cảnh khách sạn Chicago Richmond bị cháy trụi. Xe cảnh sát, xe cứu hỏa, gỗ ván bị cháy đen với nước tràn trề cả ngoài đường phố. Anh bước ra ngoài xe nhìn những gì còn lại của căn nhà đầu đàn của công ty Davis Leroy.

Người Ba Lan thường khôn ngoan tỉnh táo sau khi tai vạ đã xảy ra rồi, Abel nghĩ bụng và nắm chặt tay đấm mạnh vào bên chân thọt của anh. Anh không thấy đau, vì chẳng còn lại gì để mà thấy đau nữa.

- Bọn khốn nạn?- Anh thét to lên. - Tao đã chịu đựng còn hơn thế này nữa cơ. Nhưng rồi tao sẽ diệt từng đứa chúng mày cho mà coi. Từng thằng Đức, thằng Nga, thằng Thổ Nhĩ Kỳ, thằng vô lại Kane, và bây giờ đến cả cái này nữa. Tao sẽ diệt hết. Không ai giết được Abel Rosnovski đâu.

Người phó quản lý trông thấy Abel đang hoa chân múa tay bên chiếc xe tắc xi vội chạy đến. Abel cố tỏ ra bình tĩnh.

Mọi người chạy ra được an toàn chứ? - Anh hỏi.

- Vâng, lạy Chúa. Khách sạn gần như không có khách, vì vậy chạy thoát ra được không có vấn đề gì lắm. Chỉ một vài người hơi bị xây xát và bị bỏng, đã được đưa đến bệnh viện. Nhưng ông không có gì đáng phải lo đâu.

- Tốt. ít ra cũng yên tâm được về chuyện đó. Tạ Ơn Chúa, khách sạn đã được bảo hiểm cẩn thận, tôi nhớ hình như trên một triệu đô la. Chúng ta rất có thể biến cái tai vạ này thành ra có lợi được đấy.

- Nếu đúng như báo chí sáng nay đã nói thì không được đâu - Anh nói vậy là sao?- Abel hỏi.

- Có lẽ tự Ông nên đọc xem trong đó nói gì thì hơn, ông chủ ạ, - Người phó quản lý đáp.

Abel bước đến quầy bán báo gần đó, bỏ ra hai xu mua số báo mới nhất của tờ Diễn đàn Chicago. Dòng chữ lớn ở trang đầu đã đủ nói lên hết cả:

KHÁCH SẠN RiCHMoND BốC CHÁY - Có THỂ Do Cố Ý ĐốT PHÁ Abel lắc đầu tỏ ra không tin. Anh đọc đi đọc lại dòng chữ đó.

- Còn có gì xảy ra hơn thế được?- Anh lẩm bẩm.

ông có chuyện gì không thế?- Chú bán báo hỏi.

- Hơi một tí thôi,- Abel đáp và quay lại người phó quản lý.

- Ai phụ trách điều tra của cảnh sát?

- Viên sĩ quan đang đứng tựa vào xe cảnh sát kia kìa, - Người phó quản lý nói và chỉ tay ra phía một người cao gầy có cái đầu hói. - Tên ông ta là Trung úy o Malley.

- Được rồi,- Abel nói.- Bây giờ ông cho tất cả nhân viên sang khu nhà phụ đi. Mười giờ sáng mai tôi sẽ đến gặp tất cả mọi người. Còn trước đó ai muốn tìm tôi thì đến nhà hàng Stenvens. Tôi sẽ ở đây cho đến khi nào điều tra ra vụ này.

- Như thế cũng được.

Abel bước ra chỗ Trung úy óMalley tự giới thiệu.

Viên cảnh sát cao gầy hơi cúi xuống bắt tay Abel. A, ông cựu quản lý biến đi đâu mất bây giờ mới về nhìn cảnh tan hoang đây.

- Ông sĩ quan, tôi không thấy đó là chuyện đáng đùa,- Abel nói.

- Xin lỗi, - Ông ta nói.- Đúng là không có gì đáng đùa. Khiếp, mất cả một đêm dài. Ta đi uống cái gì chứ.

Viên cảnh sát cầm lấy khuỷu tay Abel và đưa anh qua Đại lộ Michigan đến một hiệu ăn ở góc đường.

Trung úy óMalley gọi hai cốc sữa trứng. Abel cười khi anh thấy người ta để trước mặt cốc sữa đã đánh lên thành bọt trắng xoá. Từ bé đến giờ, đây là lần đầu tiên anh ăn sữa trứng đánh thành bọt.

- Tôi biết thế này là ngộ lắm. Mọi người trong thành phố đều phá luật và họ đều uống rượu buốc- bông với uống bia, - Viên cảnh sát nói,- Vì vậy phải có người uống cái khác chứ. Dù sao, luật cấm uống rượu cũng chẳng thể cấm mãi được. Rồi sau đây chắc tôi sẽ gặp nhiều khó khăn, vì bọn cướp sẽ phát hiện ra là tôi chỉ thích có sữa đánh trứng thôi.

Abel lại cười.

- Bây giờ nói đến những vấn đề của ông, ông Rosnovski. Trước hết tôi phải nói ngay là ông sẽ chẳng có tí hy vọng gì giành được tiền bảo hiểm cho khách sạn đó đâu. Các nhà chuyên gia chữa cháy đã đi xem xét kỹ lưỡng tất cả những chỗ còn lại của toà nhà và họ phát hiện ra đâu đâu cũng sặc mùi dầu lửa.

Mà người ta cũng không thèm giấu nó nữa cơ. chỉ cần một que diêm đủ cho cả tòa nhà cháy bùng lên rồi.

- Ông có nghĩ là ai gây ra chuyện này không? Abel hỏi.

- Xin ông để tôi hỏi. Ông có nghĩ về chuyện ai có thù hằn gì với khách sạn hoặc với cá nhân ông không?

Abel ậm ừ nói.

- Có đến năm chục người, ông ạ. Hồi mới đến đây, tôi đã thanh toán cả một bọn sâu mọt. Nếu ông cần, tôi có thể cho ông cả danh sách.

Có lẽ tôi sẽ cần đến, nhưng cứ theo như người ta nói ở quanh đó thì có thể tôi cũng không cần đến, - Viên trung úy nói.- Tuy nhiên, nếu ông có được một thông tin gì chắc chắn thì ông cứ cho tôi biết, ông Rosnovski. Ông cần cho tôi biết, vì tôi nói để ông liệu là ông có rất nhiều kẻ thù ở ngoài kia lắm đấy, ông ta vừa nói vừa chỉ tay ra ngoài phố.

- Ông nói vậy là sao?- Abel hỏi.

Có người nói chính ông làm chuyện đó vì ông đã mất hết tiền vào vụ phá sản vừa rồi, và bây giờ ông cần đến tiền bảo hiểm.

Abel đang ngồi đứag vụt dậy.

- Bình tĩnh, bình tĩnh. Tôi biết cả ngày hôm đó ông ở Boston, và điều quan trọng nữa là ở Chicago người ta biết ông xây dựng khách sạn thì có chứ đốt phá thì không. Nhưng chắc chắn là đã có người đốt khách sạn Richmond và thế nào tôi cũng tìm ra được tên đó. Bây giờ thì hãy cứ để đó đã.- Ông ta đứng dậy.- Để tôi trả tiền sữa trứng, ông Rosnovr'ki. Tương lai thế nào cũng có lúc tôi nhờ đến ông.

Hai người cùng đi ra cửa. Viên cảnh sát cười với cô gái ngồi ở quỹ thu tiền. Ông khen cô có - Đôi chân đẹp nhưng chỉ tiếc cho váy của cô theo mốt mới lại hơi quá dài. Ông ta đưa cho cô đồng năm mươi xu và nói.

Cô em glữ lấy tiền lẻ nhé.

- Cảm ơn ông lắm, - Cô gái nói.

- Chả ai khen tôi được một câu,- Vlên trung úy nói.

Abel lại cười, lần này là lần thứ ba. Trước đây một tiếng đồng hồ, anh không nghĩ là mình còn có thể cười được nữa.

Lúc ra đến cửa, viên trung úy nói tiếp:

- Nhân đây, xin nói để ông biết là công ty bảo hiểm đang cho người tìm ông. Tôi không nhớ tên hắn ta, nhưng tôi chắc thế nào hắn cũng sẽ tìm ông. Ông đừng vội thù ghét gì hắn nhé, vì nếu như hắn tưởng ông có dính líu đến vụ này thì ai mà trách hắn được?

ông cứ liên lạc với tôi nhé, ông Rosnovski, tôi sẽ còn cần nói chuyện với ông nữa đấy.

Abel nhìn viên trung úy đi lẫn vào đám đông đứng đó rồi anh. chậm chạp đi về phía khách sạn Stevells thuê phòng - ngủ lại đêm. Viên tiếp tân của khách sạn vốn đã ghi tên phần lớn những người ở Richmond chạy sang, không khỏi mỉm cười thấy cả đến quản lý của khách sạn ấy cũng phải chạy sang đây nữa.

Vào đến trong phòng, Abel ngồi xuống viết một bức thư chính thức gửi cho William Kane, kể lại tất cả những chi tiết nào đó anh có thể biết được về vụ cháy. Trong thư anh cũng nói muốn nhân lúc được. tự do một cách không ngờ này đi một tua thăm .các khách sạn khác của công ty. Abel thấy mình chả nên nán lại Chiacago làm gì với đống tro tàn Richmond này và với hy vọng có ai đến cứu cho anh thoát được cái xui xẻo ở đây Sáng hôm sau , sau một bữa ăn sáng thịnh soạn ở Stenvens, Abel bao giờ cũng thấy dễ chịu trong một khách sạn được quản lý tử tế, anh đi bộ đến ngân hàng Contineltal gặp Curtis Pheutơn đề nói lại cho ông ta nghe về thál độ của ngân hàng Kane và Cabot, nói cho đúng hơn là thái độ của William Kane. Mặc dầu Abel nghĩ yêu cầu này là vô lý nhưng anh vẫn nêu lên ý kiến là sẽ tìm người mua lại công ty Richmond với giá hai triệu đô la.

- Vụ cháy đó chả giúp gì được cho chúng ta, nhưng tôi sẽ xem có thể làm gì được không, Phenton nói với vẻ tích cực hơn là Abel tưởng.- Hồi ông mua 24 phần trăm cổ phần của bà Leroy, tôi đã bảo những khách sạn đó là vốn hếng có giá trị và ông làm như vậy là đúng. Mặc dầu có chuyện phá sản vừa rồi, tôi vẫn không nghĩ khác đâu, ông Rosnovski. Tôi đã theo dõi việc ông quản lý khách sạn gần hai năm nay rồi, nếu là cá nhân tôi quyết định thì tôi sẽ ủng hộ Ông, nhưng tôi e rằng ngân hàng này sẽ không đồng ý cứu cho Công ty Richmond đâu. Chúng tôi biết tình hình tài chính của Công ty này từ lâu rồi, nên không tin tưởng lắm. Bây giờ lại thêm vụ cháy đó càng khó. Tuy nhiên, tôi vẫn còn có một số quan hệ với bên ngoài nên tôi sẽ xem họ có thể giúp được gì. Trong thành phố này có lẽ ông còn có nhiều người khâm phục ông hơn là ông tưởng, ông Rosnovski.

Sau khi nghe mấy lời bình luận của Trung úy o Melley, abel nghĩ bụng không biết mình còn có bạn nào ở Chicago nữa không. Anh cảm ơn Curtis Phenton, rồi trở ra quầy rút 5.000 đô la trong tài khoản của khách sạn. Cả buổi sáng hôm đó, anh ở lại trong khu nhà phụ của Richmond. Anh trả cho mỗi nhân viên hai tuần lương và bảo họ có thể tiếp tục ở lại trong nhà này ít nhất một tháng hoặc cho đến khi nào kiếm được việc khác Rồi anh trở lại khách sạn Stenvens, gói ghém ít quần áo mới phải mua thêm vì số cũ đã bị cháy hết, và chuẩn bị đi một tua thăm các khách sạn khác của Công ty Richmond.

Anh đánh chiếc xe Buick vừa mua trước khi có vụ thị trường chứng khoán đổ sụp, đi về phía Nam và bắt đầu bằng khách sạn Richmond ở St. Louis. Chuyến đi quanh các khách sạn của công ty mất gần bốn tuần.

Mặc dầu nơi nào cũng yếu kém và làm ăn thua lỗ cả, nhưng trong cách nhìn của Abel thì không nơi nào đến nỗi tuyệt vọng. Ở đâu cũng đều có địa điềm rất tốt có nơi thậm chí khách sạn ở chỗ tốt nhất trong thành phố. Ông già Leroy ngày xưa rõ ràng là có con mắt tinh đời hơn ông con, Abel nghĩ bụng. Anh kiểm tra lại cẩn thận chính sách bảo hiểm của từng khách sạn, đều không thấy có vấn đề gì. Cuối cùng anh đến khách sạn Richmond ở Dallas và anh có thể tin chắc được một điều, đó là bất cứ ai mua được công ty này với giá hai tnệu đô la thì sẽ có lợi vô cùng. Anh ước gì mình có được cơ hội này, vì anh biết rõ cách làm thế nào cho công ty được phát đạt.

Về đến Chicago, anh lại đến khách sạn Stenvens. Ở đây có nhiều thư đang đợi anh. Trung úy óMaliey muốn được gặp anh. Cả William Kane, Curtis Phenton và cuối cùng là một ông Henry osborne nào đó.

Abel bắt đầu bằng luật pháp đã. Anh nói chuyện điện thoại với óMalley và hẹn gặp ông ta ở Đại lộ Michigan. Abel ngồi trên một chiếc ghế quay lưng vào quầy nhìn ra cái vỏ cháy đen của Khách sạn Richmond và chờ viên Trung úy. O Malley đến muộn vài phút nhưng không xin lỗi, ông ta ngồi luôn xuống ghế bên và xoay người sang nhìn Abel.

- Tại sao ta phải gặp nhau thế này nữa?- Abel hỏi. Ông còn nợ tôi đấy, - Viên Trung úy nói. Ở Chicago này, ai còn nợ ÓMalley một cốc sữa trứng thì không chạy đi đâu được.

Abel gọi hai cốc, một cốc to và một cốc thường.

- Ông tìm ra điều gì không? Abel hỏi và đưa ống hút sữa cho ông ta.

- Bọn anh em bên cứu hỏa nói đúng đấy, đây là vụ cố ý đốt Chúng tôi đã bắt giam một gã tên là Desmond Pacey, sau mới biết hắn là người quản lý cũ của Richmond. Đó là vào hồi ông, phải thế không?

Có lẽ như vậy, - Abel nói.

- Tại sao lại có lẽ?- Viên Trung úy hỏi.

- Tôi cho đuổi Pacey về tội giả mạo hóa đơn khách sạn. lão ta dọa sẽ trả thù tôi. Tôi thì tôi không quan tâm, vì đời tôi đã có quá nhiều chuyện đe dọa như vậy rồi, cho nên những loại người như Pacey có dọa mấy tôi cũng không coi vào đâu.

ấy thế mà chúng tôi phải coi chừng lão ta đấy. Cả bên cơ quan bảo hiểm nữa. Tôi được nghe là họ sẽ không trả một xu nào nếu không chứng minh được rằng giữa Pacey với ông không có sự đồng lõa gì với nhau trong vụ đốt này.

- Bây giờ tôi cũng chỉ cần có thế, - Abel nói.- Làm sao ông biết chắc rằng đó là Pacey?

Ngay trong ngày xảy ra vụ cháy, chúng tôi đã tìm ra lão ta ở khu thương tật trong bệnh viện thành phố.

Chúng tôi chỉ cần hỏi qua bệnh viện cho biết tên từng người đã vào bệnh viện hôm đó vì bị bỏng thôi. May làm sao - Trong nghề cảnh sát chúng tôi thường gặp may thế đấy vì chẳng phải tất cả chúng tôi đều là Sherlock Holmes cả đâu - Có bà vợ của một viên thượng sĩ nghe nói đến tên lão ta đã biết ngay đó là người quản lý cũ của khách sạn Richmond, vì bà ta đã từng làm ở đó rồi. Dù không biết chuyện đó thì tôi cũng vẫn có thể tìm ra được, vì nó đã rõ như hai với hai là bốn. Lão ta đã nhanh chóng khai ra ngay, hình như lão ta chẳng ngại gì chuyện bị giam cả, coi như trả thù được như thế là sướng rồi. Chỉ mới trước đây ít lúc thôi, tôi vẫn chưa xác định được ông ta trả thù như thế để làm gì, nhưng bây giờ thì tôi hiểu rồi, tuy tôi không lấy gì làm ngạc nhiên lắm. Vậy là coi như chuyện đó đến đây kết thúc, ông Rosnovski ạ.

Viên Trung úy lại ngậm vào ống hút cạn sữa trong cốc - Ông làm cốc nữa nhé, - Abel hỏi.

Thôi, tôi đủ rồi. Tôi còn nhiều việc trong ngày hôm nay lắm.- Ông ta đứng dậy.- Chúc ông may mắn, ông Rosnovski. Nếu ông có thể chứng minh với cơ quan bảo hiểm là ông không dính líu gì đến Pacey thì ông sẽ đòi được tiền đấy. Nếu vụ này đưa ra tòa thì tôi sẽ làm mọi cách để giúp ông nếu được. Ông cứ liên lạc với tôi nhé.

Abel nhìn ông ta đi khuất sau cửa. Anh cho cô phục vụ một đô la rồi bước ra ngoài hè và đứng nhìn vào khoảng không, khoảng không trước đây gần một tháng là Khách sạn Richmond. Rồi anh quay mình đi trở về khách sạn Stenvens.

Lại một bức thư nữa của Henry osbome, mà trong thư này anh vẫn chưa biết được người đó là ai. Chỉ còn một cách để tìm hiểu. Abel gọi thẳng cho osbome thì được biết ông ta là thanh tra của Công ty Bảo hiểm Great Western có liên quan đến khách sạn này.

Abel hẹn gặp osborne vào buổi trưa. Rồi sau đó anh gọi cho William Kane ở Boston thông báo lại về chuyến đi của anh thăm các khách sạn kia.

- Tôi cũng muốn nói thêm rằng tôi có thể biến những thua lỗ của các khách sạn đó thành lợi nhuận nếu tôi được ông cho thêm thời gian và ủng hộ tôi.

Những gì tôi đã làm được ở Chicago, tôi sẽ có thể làm được với tất cả khách sạn khác của công ty.

ông có thể làm được đấy, ông Rosnovski, nhưng tôi e rằng sẽ không phải bằng tiền của ngân hàng Kane và Cabot. Tôi cũng xin nhắc để ông nhớ rằng ông chỉ còn ít ngày để tìm người mua thôi đấy. Xin chào ông.

- Thật là một bọn hãnh tiến, - Abel nói nhưng đầu dây đằng kia không còn ai nghe. - Tôi không đáng dùng tiền của các anh được hả? Được rồi, một ngày kia bọn vô lại các anh....

Tiết mục sau trên chương trình nghị sự của Abel là làm việc với người của công ty bảo hiểm Henry osbome hóa ra là một người cao lớn, bảnh trai, có đôi mắt đen và bộ tóc đen đã đốm bạc. Abel thấy ông ta thoải mái và hợp với tính mình. Ngoài câu chuyện của Trung úy óMalley, osborne không có ý trả một đồng nào trong khi cảnh sát đang đòi truy tố Desmond Pacey và trong khi chưa có gì chứng thực rằng Abel không dính líu đến vụ đốt phá này. Henry osborne xem ra có vẻ rất thông cảm với toàn bộ vấn đề.

Công ty Richmond có đủ tiền xây dựng lại khách sạn không? - Osborne hỏi.

- Chẳng có xu nào, - Abel nói.- Cả công ty đã bị thế nợ, và bây giờ ngân hàng đang thúc tôi phải bán đi đây - Tại sao lại là ông? - Osborne hỏi.

Abel giải thích đầu đuôi chuyện anh đã mua cổ phần mà không thật sự làm chủ khách sạn như thế này. Henry osborne nghe có vẻ ngạc nhiên.

- Cố nhiên tự ngân hàng họ có thể thấy rõ ông đã quản lý khách sạn tốt như thế nào chứ? Mọi nhà kinh doanh ở Chicago đều biết ông là người quản lý đầu tiên đem lại lợi nhuận cho Davis Leroy. Tôi biết là ngân hàng họ cũng gặp thời buổi khó khăn, nhưng dù như thế đi nữa họ cũng phải biết phân biệt ai là người có thể làm lợi cho mình chứ.

- Không phải ngân hàng này.

- Continental ử- Osborne nói. - Tôi vẫn thấy ông Curtis Phenton tuy có hơi cứng nhắc nhưng chịu nghe điều phải trái đấy chứ?

- Không phải Continental. Khách sạn nằm trong tay một ngân hàng ở Boston có tên là Kane và Cabot.

Henry osborne bỗng tái người và ngồi bệt xuống ghế.

- Ông sao thế? - Abel hỏi.

- Không, tôi không sao.

- Có lẽ ông cũng biết Kane và Cabot chứ?

- Ông giữ kín được không'- Henry osborne hỏi- Được chứ.

Trong quá khứ, công ty chúng tôi đã có một lần làm ăn với họ rồi.- Ông ta ngập ngừng một lát. - Và cuối cùng chúng tôi phải đưa họ ra tòa.

- Tại sao thế?

- Tôi không thể tiết lộ cụ thể được. Một chuyện kinh doanh bẩn thỉu đó thôi. Phải nói là một trong những giám đốc ngân hàng ấy đã không hoàn toàn lương thiện và thẳng thắn đối với chúng tôi.

- Người nào thế?- Abel hỏi.

- Ông đã làm việc với người nào?- Osborne hỏi.

Một người có tên là Wilham Kane.

osbome lại có vẻ ngập ngừng.

- Ông phải cẩn thận đấy.- Ông ta nói.- Đó là một tên đểu giả hạng nhất. Tôi có thể cho ông biết kỹ về hắn ta nếu ông cần, nhưng điều này thì chỉ hoàn toàn có chúng ta biết với nhau thôi.

Tôi chả nhờ cậy gì ông ta đâu,- Abel nói. - Rồi tôi sẽ liên hệ với ông, ông osborne. Tôi cũng có việc phải thanh toán với ông Kane đó về chuyện ông ta đã đối xử với Davis Leroy.

- Vậy thì ông có thể trông vào sự giúp đỡ của tôi nếu như đó là chuyện liên quan đến William Kane. - Henry osbome nói. Ông ta đứng dậy nói tiếp. - Nhưng điều này chỉ có hai chúng ta biết với nhau thôi nhé. Nếu như tòa án cho thấy rõ ràng chỉ có Desmond Pacey đốt khách sạn thôi và không có ai dính dáng vào đó nữa, thì ngay trong ngày hôm đó công ty sẽ trả tiền bảo hiểm cho ông. Rồi có lẽ chúng ta có thể cùng làm ăn với nhau về những khách sạn khác nữa.

- Có thể lắm, - Abel đáp.

Anh sẽ về Stenvens, quyết định ngồi ăn trưa ở đó xem khách sạn này quản lý nhà ăn như thế nào. Có một lá thư đang chờ anh ở quầy tiếp tân. Một ông David Maxton nào đó muốn hỏi xem Abel có thể cùng ăn trưa với ông ta được không.

David Maxton, - Abel nói to lên. Nhân viên tiếp tân nhìn anh. - Tôi biết ông này là ai đâu?- Anh hỏi cô gái ở đó.

- Ông ấy là chủ khách sạn này, thưa ông Rosnovski.

À thế. Xin cô nói giùm với Maxton là tôi sẽ rất lấy làm sung sướng được cùng ăn trưa với ông.- Abel nhìn đồng hồ.- Nhờ cô nói thêm với ông ấy rằng tôi xin đến muộn vài phút nhé.

- Tất nhiên, thưa ông,- Cô gái đáp.

Abel vội lên phòng mình thay chiếc áo sơ- mi trắng mới, trong bụng nghĩ không biết David Maxton muốn gì ở mình.

Lúc Abel đến thì phòng ăn đã chật người. Người trưởng nhóm phục vụ chỉ anh đến một chiếc bàn riêng để trong hốc và đã có ông chủ khách sạn Stenvens ngồi đó rồi. Ông ta đứng dậy chào Abel.

Tôi là Abel Rosnovski, thưa ông.

- Vâng, tôi biết,-

Chương 17

William quyết định đi nghỉ một tháng ở Anh trước khi có quyết định dứt khoát gì về tương lai của mình. Anh cũng tính chuyện rút khỏi ban giám đốc ngân hàng Kanne và Cabot, nhưng Matthew thuyết phục anh đừng làm vậy vì đó không phải là hành động trước kia bố anh làm nếu ở vào trường hợp như thế. Matthew xem ra còn đau hơn trước cái thất bại của bạn mình. Trong tuần lễ liền sau đó, hai lần anh đến ngân hàng với nhau dấu hiệu rõ ràng là đã quá chén và bỏ dở nhiều việc quan trọng.

William cứ để cho những chuyện ấy qua đi, không bình luận một lời nào, mời Matthew đến nhà cùng ăn tối với anh và Katte. Matthew từ chối, bảo rằng còn rất nhiều thứ gửi đến chưa xem hết. Wiìliam không nghĩ ngợi gì thêm về chuyện Matthew từ chối, nhưng tối hôm đó Matthew lại đi ăn ở nhà hàng Ritz- carlton với một người đàn bà rất xinh đẹp, mà người này William biết chắc là vợ của một nhân viên quản lý bộ phận trong ngân hàng Kane và Cabot. Kate cũng không nói gì, chỉ bảo là Matthew có vẻ ốm yếu thế nào ấy.

William đang bận chuẩn bị đi Châu âu nên không chú ý gì lắm đến thái độ hơi khác lạ của bạn mình. Nếu là vào lúc khác thì anh đã rất quan tâm rồi. Đến phút cuối cùng, William thấy khó có thể sống được một mình ở Anh, vì vậy anh đề nghị Kate cùng đi với anh. Anh ngạc nhiên và sung sướng thấy cô đồng ý ngay.

William với Kate đáp tàu Mauretania đi sang Anh, mỗi người ở riêng một phòng. Về ở khách sạn Ritz, họ cũng mỗi người một phòng riêng, thậm chí còn ở tầng khác nhau nữa. William đến chi nhánh ngân hàng Kane và Cabot ở London, trên phố Lombard, và làm như mục đích chuyến đi sang Anh này là để kiểm tra những hoạt động của ngân hàng ở Châu âu vậy. Anh thấy tinh thần làm việc ở đây rất cao, rõ ràng là Toni Simmons đã quản lý rất giỏi, được mọi người quý mến, khiến William chỉ còn việc lẩm bẩm khen ngợi.

Anh và Kate ở London một tháng rồi sau đó đi thăm Hampshire và Lincolnshire, xem vài khoảng đất mà William đã mua được trước đây ít tháng, tất cả có tới trên mười hai nghìn mẫu. Lợi tức thu được từ đất trồng trọt không lấy gì làm cao lắm, nhưng William giải thích cho Kate rằng nếu như tình hình ở Mỹ trở nên khó khăn thì đất ở đây vẫn còn nguyên đó, không mất đi đâu cả.

ít ngày trước khi hai người sắp trở về Mỹ, Kate ngỏ ý muốn đi thăm oxford, và William đồng ý rằng sáng hôm sau đánh xe đưa cô về đó sớm. Anh thuê một chiếc Morris mới, loại xe anh chưa từng lái bao giờ. Ở thành phố của những trường đại học này, hai người đi lang thang xem các nơi như Magdalen đồ sộ bên dòng sông Christ Church, một khu nhà thờ lớn mà không có tu viện, rồi đến Merton ngồi trên bãi cỏ và mơ mộng.

- Không được ngồi trên cỏ, thưa ông, - Một người phục vụ trong trường lên tiếng.

Hai người cười và dắt tay nhau đi trông như sinh viên chưa tốt nghiệp sóng vai bên bờ sông Cherwell nhìn tám chàng trai đang mải miết chèo thuyền dưới nước, William cảm thấy cuộc đời mình dứt khoát phải luôn luôn có Kate ở bên cạnh.

Vào giữa buổi chiều, họ trở về London. Lúc về qua Henley trên bờ sông Thames, họ dừng lại uống trà ở quán Bell nhìn xuống sông. ăn vài mẩu bánh ròn phết bơ và uống trà đặc (Kate chỉ thích uống với sữa còn William lại pha thêm nước cho loãng bớt), Kate giục anh về nhanh kẻo tối trời không nhìn thấy cảnh nông thôn được. Nhưng đến lúc William ra xe thì quay đến mấy, chiếc xe cũng không nổ được nữa. Hì hục mãi không xong, anh đành chịu. Trời đã gần tối, thế là hai người quyết định phải ở lại Henley một đêm.

Anh trở vào quán Bell đề nghị thuê hai phòng. Rất tiếc, thưa ông, tôi chỉ còn lại có một phòng đôi thôi, - Nhân viên tiếp tân nói.

- Chúng tôi thuê vậy. - William ngần ngại một lúc rồi nói.

Kate ngạc nhiên nhìn anh nhưng không nói gì.

Nhân viên tiếp tân nhìn cô với vẻ nghi hoặc.

- Ông và bà... gì ạ?

- Ông và bà William Kanne, - William đáp luôn. - Lát nữa chúng tôi quay lại.

- Chúng tôi đưa hành lý lên phòng chứ, thưa ông- Nhân viên phục vụ hỏi.

- Chúng tôi không có hành lý, - William cười đáp.

- À vâng, thưa ông.

Kate ngơ ngác đi theo William lên phố trên cho đến lúc họ dừng lại trước một nhà thờ xứ.

Chúng ta làm gì thế này, Wiuiam? - Kate hỏi.

- Làm cái điều lẽ ,ra anh phải làm từ lâu rồi, em ạ.

Kate không nói gì nữa. Bước vào bên trong, William thấy có người đang đứng xếp một chồng sách thánh ca.

- Tôi xin hỏi cha xứ ở đâu ạ? - William nói.

Người gác nhà thờ đứng thẳng dậy nhìn William bằng con mắt như thương hại.

- Ở nhà xứ chứ đâu.

- Nhà xứ ở đâu ạ? - William lại hỏi - Ông là một người Mỹ, phải không thưa ông?

- Vâng, phải, - William đã bắt đầu sốt ruột.

- Nhà xứ ở cạnh nhà thờ xứ, phải thế không ạ? - Người gác nói.

- Tôi cũng nghĩ thế, - William nói. - Ông có thể ở lại đây chừng mười phút nữa được không) - Tại sao tôi lại phải làm thế, thưa ông.

William rút ra một tờ bạn năm đồng bảng.

- Cứ cho là mười lăm phút cho chắc, được không ông?

Người gác nhà thờ nhìn kỹ tờ giấy bạc và nói:

- Người Mỹ. à, vâng, được.

William để ông ta đứng đó với tờ bạc năm đồng bảng và kéo vội Kate ra bên ngoài nhà thờ. Ngoài hiên có tấm biển đề:

"Cha bề trên của Giáo xứ đây là Linh mục Simon frukesbury" và bên cạnh tấm biển đó là lời kêu gọi của nhà thờ quyên góp làm lại mái, gài một chiếc đinh.

Nhà thờ đang quyên góp từng xu đề có được 500 đồng bảng, William bước vội theo con đường nhỏ lên nhà xứ, Kate theo sau vài bước. Anh gõ cửa và một người đàn bà to béo có đôi má đỏ hồng tươi cười ra mở cửa.

Bà Tukesbury? - William hỏi.

Phải. - Bà ta lại cười. , - Tôi xin nói chuyện với chồng bà được không?

Lúc này ông ấy đang dùng trà. Có thể lát nữa ông quay lại được chăng Tôi e rằng chuyện này hơi gấp, - William nói.

Kate đã theo kịp lên với anh nhưng không nói gì.

- Vậy thì mời ông vào đi.

Nhà xứ này xây từ đầu thế kỷ mười sáu. Căn phòng lát đá ở phía ngoài có lò sưởi đang đốt lửa. Cha xứ là một người cao lớn, đang ăn bánh xốp với dưa chuột, đứng dậy chào hai người.

- Xin chào, ông....? Kane, thưa ông, William Kane.

Tôi có thể làm gì được cho ông đây, ông Kane?

- Kate với tôi, - William nói, chúng tôi muốn cưới nhau.

- Ôi vậy thì hay quá, - Bà Tukesbury nói.

- Vâng, đúng thế đấy, - Cha xứ nói. - Ông có phải là người trong giáo xứ này không? Tôi không nhớ là...

- Không, thưa ông. Tôi là người Mỹ. Tôi đi lễ nhà thờ Si. Paul ở Boston.

- Thế là ở Massachusetts, không phải ở Lincolnshire, phải không ạ? - Linh mục Tukesbury nói.

- Vâng, đúng thế, Wilham nói. Anh quên rằng ở Anh cũng có một nơi tên ỉa Boston.

Thế thì tốt, - Cha xứ nói và giơ hai tay lên trời như sắp làm lễ. - Vậy hai người định lúc nào thì kết hôn với nhau?

Ngay bây giờ, thưa ông.

Ngay bây giờ, thưa ông? - Cha xứ giật mình hỏi lại. Tôi không hiểu tục lệ Ở bên Mỹ chung quanh chuyện cưới xin long trọng và thiêng liêng như thế nào, thưa ông Kane, mặc dầu tôi cũng có được đọc và nghe nói đến những điều rất kỳ lạ với đồng bào của ông bên Califomia. Tuy nhiên, tôi coi như mình có bổn phận nói để ông biết rằng những tục lệ như thế chưa được chấp nhận ở Henley trên bờ sông Thames này. Ở Anh, thưa ông, ông phải ở trong bất cứ giáo xứ nào cả một tháng rồi mới lấy nhau được, rồi tên của hai người phải được yết thị lên ba lần nếu như có trường hợp đặc biệt hay rắc rối gì cần cho mọi người được biết. Mà trong trường hợp đó tôi cũng phải được phép của ngài giám mục và phải sau ba ngày mới làm được - Cha Tukesbury nghiêm giọng nói.

- Ông còn cần bao nhiêu tiền nữa để làm lại mái nhà thờ - Kate bây giờ mới lên tiếng.

- A cái mái. Đây là câu chuyện đáng buồn, nhưng lúc này tôi chả nhắc đến lịch sử của nó làm gì... hồi đầu thế kỷ mười một ấy mà....

- Ông cần bao nhiêu tiền? - Wilham lại nói, tay nắm chặt lấy tay Kate.

- Chúng tôi hy vọng quyên được năm trăm đồng bảng. Cho đến nay chúng tôi đã làm được khá, chỉ trong bẩy tuần qua, chúng tôi đã đạt được hai mươi bẩy đồng bốn hào bốn xu rồi.

- Không, không, ông ơi, - Bà Tukesbury nói. - Ông quên chưa tính khoản hơn một đồng nữa tôi bán hàng tuần trước ư - Đúng là tôi chưa tính vào đấy. Tôi thật dở quá, đã coi nhẹ phần đóng góp của bà. Như vậy, tất cả là - Linh mục Tukesbury tính nhẩm trong đầu và ngước mắt nhìn lên trần nhà như để tìm ra một nguồn cảm hứng nào.

William rút chiếc ví ở túi áo trong ra, viết một tờ séc năm trăm đồng bảng rồi lặng lẽ đưa cho linh mục Tukesbury.

- Tôị..., tôi hiểu là có những trường hợp đặc biệt, thưa ông Kane, - Cha xứ ngạc nhiên nói. Giọng ông đã đổi hẳn. - Đã có người nào trong hai người trước kia kết hôn bao giờ chưa?

- Có - Kate nói. - Chồng tôi bị chết trong tai nạn máy bay trước đây bốn năm.

ôi, thật là khủng khiếp, - Bà Tukesbury nói, - Tôi rất lấy làm tiếc. Tôi không dè....

- Thôi, bà ơi, - Cha xứ nói. Ông quan tâm đến cái mái nhà thờ hơn là những tình cảm của bà vợ. - Còn ông, thưa ông?

- Tôi chưa lấy vợ bao giờ, - William nói.

- Tôi sẽ phải gọi điện thoại cho ngài. giám mục đã.- Nắm chắc tờ séc của William trong tay, ông cha xứ đi vào phòng bên trong.

Bà Tukesbury mời Kate và Wiììiam ngồi đợi và mời ăn, bà vẫn cứ nói chuyện trong khi William và Kate không nghe thấy gì hết và chỉ nhìn nhau.

Cha xứ bước ra.

- Thật là rất không bình thường, rất không bình thường, nhưng ngài giám mục đã đồng ý, thưa ông Kane, với điều kiện sáng mai phải được xác định lại mọi thứ ở sứ quán Mỹ rồi sau đó xác đinh lại với ngài giám mục ở nhà thờ Si. Pauli tại Boston, Massachusetts, sau khi ông bà trở về nhà.

ông ta vẫn nắm chặt tờ Séc trong tay.

- Tất cả những gì chúng ta cần lúc này là hai người làm chứng, - Cha xứ nói. - Vợ tôi có thể là một người làm chứng. Ngoài ra, tôi cũng hy vọng người quản lý vẫn còn đó, ông ta có thể là người làm chứng thứ hai được - Ông ta vẫn còn đó, tôi đảm bảo, - Wilham nói.

Làm sao ông biết chắc được? thưa ông Kane?

- Tôi đã mất cho ông ấy một phần trăm.

Một phần trăm gì cơ? - Cha xứ ngỡ ngàng hỏi lại.

Một phần trăm của mái nhà thờ, - William đáp.

Cha xứ đưa Wilham, Kate và vợ Ông ta đi theo con đường nhỏ lên nhà thừ. Ông nháy mắt nhìn người quản lý đang đứng chờ.

- Đúng là ông Sprogget vẫn đang còn đâỵ.. Ông ấy chẳng bao giờ làm như thế cho tôi cả, rõ ràng ông giỏi thật đấy, thưa ông Kane.

ông Simon Tukesbury khoác chiếc áo làm lễ vào người, còn ông quản lý thì nhìn ông bằng con mắt kinh ngạc.

William quay sang hôn Kate và hỏi.

- Anh biết trong trường hợp này hỏi thế là dở hơi, nhưng em có đồng ý lấy anh không - Trời ơi, lạy Chúa! - Cha xứ Tukesbury thốt lên một câu mà cả đời ông chưa bao giờ nói như vậy. Nghĩa là ông chưa hề hỏi người đàn bà này điều đó ư?

Mười lăm phút sau, ông và bà William Kane rời nhà thờ xứ Henley trên sông Thames, oxfordshire. Đến phút cuối cùng, bà Tukesbury lấy một chiếc vòng dứt ở màn che cửa ra làm nhẫn, cũng may là nó rất vừa tay. Cha xứ Tukesbury có một cái mái mới cho nhà thờ, còn ông Sprogget thì có năm đồng bảng để được chi tiêu thả cửa dưới phố.

Ra đến ngoài nhà thờ, cha xứ đưa William một mảnh giấy - Hai hào sáu xu, thưa ông.

- Để làm gì ạ? William hỏi.

- Giấy chứng nhận kết hôn, thưa ông Kane.

- Ông phải làm ngân hàng mới đúng, thưa ông. - William nói và đưa cho ông ukesbury nửa đồng bảng. Anh lặng lẽ cùng vợ mới cưới đi trở về nhà trọ Bell. Họ cùng ăn một bữa tối theo kiểu thế kỷ mười lăm trong căn phòng gỗ sồi ở nhà ăn, rồi khoảng ít phút sau chín giờ thì đi ngủ. Họ đi khuất sau chiếc cầu thang cổ bằng gỗ về phòng mình. Người phụ trách tiếp tân của nhà trọ nháy mắt với người phụ việc. - Nếu họ lấy nhau thì tôi cũng sướng bằng Vua nước Anh.

William thầm hát bài "Chúa phù hộ cho nhà Vua" Sáng hôm sau hai vợ chồng Kane ăn một bữa sáng thoải mái trong khi chờ chữa xe. Một người phục vụ trẻ rót cà phê cho họ.

- Em muốn uống đen hay là anh cho sữa vào thêm?- William ngây thơ hỏi vợ.

Một đôi vợ chồng già ngồi bàn bên nghe anh nói thế mỉm cười.

- Em uống với sữa, anh ạ - Kate nói và tay đưa qua bàn sờ vào tay William.

Anh mỉm cười nhìn lại, chợt thấy cả phòng ăn ai cũng quay sang nhìn anh.

Họ trở về London trong không khí đầu xuân mát mẻ, đi qua vùng Henley, qua sông Thames, rồi qua vùng Berkshire với Miđlesex về London.

- Em có để ý cái nhìn của người gác cửa sáng nay không - William nói.

Có em nghĩ có lẽ mình đã phải đưa cho họ xem giấy chứng nhận kết hôn.

- Không, không, làm như thế thì hỏng mất cả hình ảnh tự do của người đàn bà Mỹ. Tối nay về nhà, chắc anh ta cũng không dám nói rằng chúng ta đã lấy nhau thật sự.

Họ về đến khách sạn Ritz vừa lúc ăn trưa. Người quản lý quầy tiếp tân ngạc nhiên thấy William hủy bỏ căn phòng của Kate. Sau đó, anh được nghe họ bình luận rằng "cái ông Ka ne trẻ này rất lịch sự. Trước kia bố ông không hề làm như thế bao giờ." William và Kate lại đi tàu Aquitania về New York.

Trước khi đi, hai người đến sứ quán Mỹ gặp viên lãnh sự để thông báo về tình trạng cưới xin của họ. Viên lãnh sự đưa cho họ một bản khai dài để họ điền vào, yêu cầu họ trả một đồng bảng tiền phí và bắt chờ đến hơn một tiếng đồng hồ. Hình như sứ quán Mỹ không có yêu cầu phải làm lại mái nhà, William muốn đi đến nhà hàng Cartier ở phố Bong để mua chiếc nhẫn cưới bằng vàng, nhưng Kate không nghe và không chịu bỏ chiếc vòng đồng rất quý đã dứt ở màn cửa ra.

William thấy khó có thể ở Boston và làm việc dưới quyền ông chủ tịch mới. Những quy tắc của chính sách Tân Kinh Tế đã nhanh chóng chuyển thành luật với một tốc độ không ngờ, do đó giữa William với Toni Simmons không sao nhất trí được với nhau về chuyện đầu tư là tốt hay không tơt. Ở Anh về nhà được ít lâu thì Kate báo tin chị đã có mang khiến bố mẹ và chồng hết sức vui mừng. William định đổi giờ làm việc của anh cho thích hợp với vai trò một người đã có vợ. Thường thường anh đến cơ quan làm việc suốt những đêm hè nóng nực. Kate đã bắt đầu khoác chiếc áo hoa thùng thình của đàn bà có chửa, chỉ quan tâm lo đến việc trang trí khu nhà trẻ của mình.

William cảm thấy muốn bỏ công việc bàn giấy và chỉ nhấp nhổm muốn về nhà. Nếu công việc còn dở dang, anh đem cả giấy tờ về nhà làm tiếp. Đó cũng là cách anh sẽ làm trong cả cuộc đời có vợ con của mình.

Trong khi Kate và đứa con sẽ ra đời vào khoảng thời gian lễ Giáng sinh đem lại cho Wilham rất nhiều hạnh phúc ở nhà, thì Matthew lại khiến cho anh ngày càng lo lắng hơn. Anh ta đã trở thành nghiện rượu và thường đến làm việc muộn mà không có giải thích lý do tại sao. Ngày tháng trôi qua, William cảm thấy anh không còn có thể tin ở những ý kiến của bạn mình nữa. Lúc đầu, anh không nói gì, chỉ mong đó là một vài biểu hiện bình thường thôi, nhưng lâu dần thấy nghiêm trọng hẳn lên. Vào một buổi sáng tháng mười một, Matthew đến làm việc chậm khoảng hai tiếng đồng hồ, trông rõ ràng là người bị nhức đầu mất ngủ. Anh ta đã làm một việc sai lầm không cần thiết là bán đi một khoản đầu tư khiến cho một khách hàng lẽ ra thu được khoản lợi tức khá lớn thì lại bị thua thiệt. William biết là đã đến lúc phải có một cuộc chạm trán không lấy gì làm vui vẻ nhưng cần thiết. Matthew nhận là mình sai lầm và xin lỗi.

William lấy làm mừng đã giải quyết được một chuyện vướng mắc, đang định rủ bạn cùng đi ăn trưa thì bỗng cô thư ký ở đâu chạy vào.

Vợ Ông, thưa ông. Bà ấy đã được đưa đến bệnh viện.

- Tại sao? - William ngơ ngác hỏi.

- Đứa bé, - Cô thư ký nói.

- Nhưng ít ra cũng còn sáu tuần nữa mới đẻ kia mà, - William nói với vẻ không tin.

- Vâng, thưa ông, nhưng bác sĩ Mac Kenzie có vẻ lo lắng và muốn ông đến bệnh viện càng nhanh càng tốt.

Matthew bỗng đang từ chỗ ỉu xìu nhanh nhẹn hẳn lên và đưa ngay William đến bệnh viện. Trong ký ức của cả hai người đều diễn lại cảnh mẹ William qua đời cùng với đứa bé gái không đẻ được.

- Cầu Chúa, sao cho Kate không hề gì, - Matthew nói và đánh xe vào khu bên trong bệnh viện.

William không cần có người dẫn đến khu hộ sinh mang tên Richard Kanne, nơi Kate đã chính thức làm lễ khánh thành cách đây sáu tháng. Anh thấy một cô y tá đứng bên ngoài phòng đẻ. Cô ta cho anh biết bác sĩ Mac Kenzie đang ở trong đó với vợ anh và Kate đã mất rất nhiều máu. William đi đi lại lại trong hành lang không biết làm gì, chỉ lặng yên đợi y như anh đã từng làm trước đây ít năm. Chung quanh đây, cái gì đối với anh cũng quen thuộc cả. Làm chủ tịch ngân hàng thì có quan trọng gì đâu so với việc mất Kate.

Không biết lần gần đây nhất anh nói với Kate câu ,Anh yêu em" là vào hôm nào nhỉ? Matthew ngồi đó với William, đi đi lại lại với William, đứng với William, nhưng không nói gì. Chẳng có gì để mà nói.

Mỗi cần cô y tá chạy ra chạy vào phòng đẻ, William lại nhìn đồng hồ. Mỗi giây dài bằng một phút, mỗi phút dài bằng một giờ. Cuối cùng bác sĩ Mac Kenzie bước ra, trán đẫm mồ hôi, miệng và mũi ông còn đang bịt khẩu trang. William không thấy được biểu hiện gì trên mặt bác sĩ. Ông rút khẩu trang ra và cười toe toét Chúc mừng anh, William, anh có đứa con trai rồi, và Kate cũng bình thường.

- Tạ Ơn Chúa, - William trút ra một hơi thở và ôm lấy Matthew.

Tôi cũng tạ Ơn Đáng Tối cao, - Bác sĩ Mac Kenzie nói. - Tôi đã cảm thấy là sẽ vất vả với vụ đẻ này.

Tôi vào thăm Kate được không? - Wilham cười.

- Không, bây giở thì không được. Tôi đã cho cô ấy uống thuốc an thần và cô ấy ngủ rồi. Cô ấy mất hơi nhiều máu nhưng đến sáng sẽ bình thường. Có thể hơi yếu một chút nhưng sẵn sàng gặp anh được. Tuy nhiên, anh có thể vào thăm con ngay bây giờ. Anh cũng đừng lạ thấy nó nhỏ quá, vì nó ra đời hơi sớm mà.

Bác sĩ dẫn William và Matthew theo hành lang vào một phòng trong đó họ nhìn qua tấm kính thấy một dãy sáu đứa trẻ nhỏ quấn tã thò chiếc đầu đỏ hỏn.

- Thằng nhỏ kia kia, - Bác sĩ Mac Kenzie nói và chỉ tay vào đứa nhỏ nằm ngoài cùng.

william nhìn vào khuôn mặt nhỏ bé xấu xí mà ngờ ngợ. Hình ảnh về một đứa con trai to lớn đẹp đẽ biến đâu mất.

- Tôi phải nói một điều về cái thằng qủy này nhé,- Bác sĩ Mac Kenzie vui vẻ nói. - Nó còn đẹp hơn anh nhiều lúc mới ra đời, và anh thì lúc đẻ cũng không khó khăn gì lắm mà còn thế.

William cười yên tâm.

- Anh sẽ đặt tên nó là gì?

Richard Higginson Kanne.

Bác sĩ thân mật vỗ lên vai người mới làm bố.

Tôi mong mình sẽ còn sống đủ lâu để đỡ cho đứa con đầu lòng của Richard.

William lập tức điện cho hiệu trưởng Si. Paul giữ chỗ cho con học vào năm 1943. Anh chàng mới làm bố và Matthew làm một bữa rượu say tuý luý và sáng hôm sau vào bệnh viện thăm Kate khá muộn. Wilham lại đưa Matthew đến xem thằng bé Richard một lần nữa.

- Thằng nhóc trông xấu quá nhỉ, - Matthew nói. - Nó chẳng có một tí gì cái đẹp của mẹ nó cả.

- Mình cũng nghĩ thế, - Wilham nói.

Nhưng nó rất giống cậu.

William trở về căn phòng Kate đang nằm, chung quanh chất đầy hoa.

- Anh có thích con trai không? - Kate hỏi chồng - Nó giống anh lắm nhé.

Còn ai nói nó giống anh nữa, anh sẽ đánh. - William nói. - Chưa từng thấy đứa nào xấu thế.

ồ không, - Kate không bằng lòng nói. - Nó đẹp chứ.

- Một khuôn mặt mà chỉ có người mẹ yêu được, - William nói và ôm hôn vợ.

Chị níu lấy anh, sung sướng.

Bà nội Kane nếu còn sống thì không biết sẽ nói thế nào về đứa con đầu lòng của mình ra đời chỉ sau khi chưa đến tám tháng kể từ lúc cưới. - Anh không muốn tỏ ra thiếu nhân từ, nhưng đứa trẻ nào ra đời dưới mười lăm tháng đều phải coi như đáng ngờ về phần bố mẹ, còn dưới chín tháng thì dứt khoát là không chấp nhận được. - William bắt chước giọng bà nội nói câu đó. - A nhân đây, Kate, anh quên không nói một điều trước khi họ vội vã đưa em vào bệnh viện.

Điều gì thế - Nói là anh yêu em.

Kate và thằng bé Richard phải ở lại trong bệnh viện gần ba tuần. Phải đến sau lễ Giáng sinh thì Kate mới hoàn toàn khôi phục được sức khỏe. Ngược lại, Richard lớn nhanh như thổi, không cần biết mình có thuộc dòng họ Kane hay không, William là người đàn ông đầu tiên thay tã cho thằng bé và đẩy xe nôi đưa nó đi chơi. Kate rất lấy làm tự hào và ngạc nhiên về chồng mình. William khuyên Matthew là đã đến lúc anh phải kiếm lấy một người đàn bà ngoan ngoãn và thành lập gia đình đi thôi.

Matthew cười gượng nói :

- Cậu có vẻ một người trung niên rồi đấy. Khuyên tớ câu nữa là cậu sẽ có tóc bạc.

Nhưng trong cuộc chiến tranh để giành lấy quyền làm chủ tịch ngân hàng, anh đã có vài ba sợi tóc bạc rồi. Matthew không để ý đến chuyện đó.

William không nhớ rõ là quan hệ giữa anh và Tony Simmons bắt đầu sút kém đi từ bao giờ. Tony liên tục phủ quyết những ý kiến của anh về chính sách ngân hàng, và thái độ tiêu cực của ông ta khiến William thực sự muốn từ chức. Matthew thì chẳng giúp gì được vào đây mà còn trở lại với chuyện nghiện rượu.

Thời kỳ sửa chữa chỉ kéo dài được vài tháng, bây giờ anh lại nghiện nặng hơn, sáng nào cũng đến làm việc chậm mấy phút, Wilìiam không biết mình nên giải quyết tình hình này thế nào, chỉ biết cứ phải làm thêm những việc của Matthew. Vào cuối mỗi ngày, william cứ phải kiểm tra lại thư từ gửi đến cho Matthew và trả lời điện thoại cho anh ta.

Sang mùa xuân 1936, những nhà đầu tư tin ở ngân hàng hơn và những người gửi tiền cũng trở lại, William cho rằng đã đến lúc quay về với thị trường chứng khoán. Nhưng Tony phủ quyết ý kiến đó trong một công văn nội bộ gửi thẳng cho ủy ban Tài chính, William xông thẳng vào phòng làm việc của Tony đề nghị cho anh được từ chức.

- Tất nhiên anh không từ chức được, William. Tôi chỉ muốn anh thừa nhận cho một điều là chính sách của tôi cai quản ngân hàng này bao giờ cũng là bảo thủ, và tôi không muốn lại húc đầu vào thị trường bằng tiền của các nhà đầu tư.

- Nhưng chúng ta mất đi lợi ích kinh doanh do các ngân hàng khác, và cứ ngồi đó mà nhìn họ thu lợi trong tình hình hiện nay sao được. Ngay cả những ngân hàng mười năm trước đây không được coi là đối thủ của ta bây giờ cũng sắp vượt ta rồi.

Vượt ta về cái gì, William? Hẳn là không thể vượt ta về tiếng tăm rồi. Vượt về kiếm lợi nhuận nhanh chóng đấy, nhưng tiếng tăm thì không đâu.

- Nhưng tôi quan tâm đến lợi nhuận, - William đáp - Tôi coi bổn phận của ngân hàng là phải đem lại nhiều lợi tức cho những người đầu tư, chứ không phải ngồi ỳ ra đó mà giữ vẻ lịch sự.

- Tôi thà ngồi yên đó còn hơn là để mất tiếng tăm đã được ông anh và bố anh xây dựng nên trong hơn nửa thế kỷ.

- Phải, nhưng cả hai người đó đều tìm kiếm những cơ hội đề mở rộng hoạt động của ngân hàng.

Trong những lúc thuận lợi, - Tony nói.

Và cả trong những lúc khó khăn nữa, - William nói.

- Tại sao anh phải thất vọng thế, William? Anh vẫn còn có quyền tự do trong việc quản lý bộ phận của anh kia mà.

- Tôi làm quái gì có tự do ấy. Ông đã chặn đứng tất cả những gì người ta đề nghị cho kinh doanh rồi.

- Ta nên nói thẳng với nhau đi, William. Một trong những lý do tôi cần phải rất thận trọng trong thời gian gần đây, đó là những ý kiến của Matthew không còn có thể tin cậy được nữa.

- Ông hãy bỏ Matthew sang một bên đi. Chính là ông chặn tôi, tôi là người trưởng bộ phận kia mà.

- Tôi không thể bỏ Matthew sang một bên được. Tôi muốn bỏ lắm chứ. Trách nhiệm cuối cùng trước ban giám đốc về hành động của bất cứ ai là tôi phải chịu, và anh ta lại là người đứng hàng thứ hai trong một bộ phận quan trọng nhất của ngân hàng.

- Phải, rồi đến trách nhiệm của tôi, vì tôi là người đứng đầu bộ phận ấy.

Không, William, nó không thể là trách nhiệm của riêng anh nếu Matthew đến làm việc mười một giờ sáng mà lại đang say rượu. Dù cho hai người các anh là bạn với nhau bao lâu và thân thiết đến thế nào thì cũng vậy thôi.

- Ông đừng nói quá.

Tôi không nói quá đâu, William. Đã hơn một năm nay ngân hàng phải chịu đựng với Matthew Lester, và điều duy nhất khiến tôi không nhắc đến chỉ vì anh có quan hệ chặt chẽ với anh ta. Tôi sẽ không lấy làm tiếc nếu anh ta nộp đơn từ chức. Nếu là một người khác thì đã làm như thế từ lâu và bạn anh ta cũng đã bảo anh ta từ lâu rồi.

- Không bao giờ, - William nói, - Nếu anh ta đi, tôi cũng đi.

- Tùy anh thôi, William, - Tony nói. - Trách nhiệm đầu tiên của tôi là đối với những nhà đầu tư, chứ không phải với những bạn học cũ của anh.

ông sẽ ân hận về lời tuyên bố đó, Tony, - William nói. Anh ta xăm xăm bước ra ngoài và trở về phòng mình trong cơn điên giận.

- Ông Lester đâu? - William hỏi khi bước qua chỗ cô thư ký.

- Ông' ấy chưa đến, thưa ông.

William nhìn đồng hồ tay, bực bội. - Ông ấy đến bảo vào gặp tôi ngay.

- Thưa vâng.

Wilham đi đi lại lại trong phòng làm việc, chửi thầm. Mọi thứ Tony Simmons nói về Matthew đều đúng cả, quả nhiên là chỉ mỗi lúc một tồi tệ thêm.

Anh bắt đầu nghĩ lại xem tất cả những chuyện đó có từ bao giờ, tìm cách tự giải thích cho mình. Anh đang nghĩ ngợi thì cô thư ký vào báo.

- Ông Lester vừa đến, thưa ông.

Matthew bước vào với vẻ rón rén, trên mặt có đủ biểu hiện của một người nhức đầu mất ngủ vì uống rượu. Trong năm qua anh ta đã già đi nhanh chóng, da dẻ không còn cái bóng bẩy của một anh lực sĩ trước đây nữa. William hầu như không thể nhận ra đây là con người đã từng là bạn thân của anh gần hai mươi năm nay.

- Matthew, cậu đi đâu thế - Mình ngủ quá giấc, - Matthew đáp, đưa tay lên gãi mặt. - Có lẽ đêm qua thức khuya quá.

- Cậu muốn nói là uống nhiều quá chứ gì.

- Không, mình có uống nhiều rượu đâu. Đó là một cô bạn gái mới cứ bắt mình thức suốt đêm. Cô ta không bao giờ thỏa mãn cả.

- Matthew, bao giờ cậu mới chấm dứt chuyện đó? Cậu đã ngủ với hầu hết các cô gái chưa chồng ở Boston rồi.

- Cậu đừng nói quá thế, William. Chắc là còn một vài cô mình chưa ngủ chứ. Rồi cậu còn quên không nói đến hàng ngàn cô đã có chồng nữa.

- Không phải chuyện đùa đâu, Matthew.

- Thôi đi cậu, Wilham. Để cho mình yên đi.

- Để cho cậu yên à? Vì cậu mà mình vừa bị Tony Simmons sạc cho đấy. Hơn nữa, ông ta nói đúng. Cậu ngủ với tất cả những ai mặc váy, và tệ hơn nữa, cậu còn say rượu bí tỉ. Những ý kiến của cậu không còn được ai nghe nữa. Tại sao thế, Matthew? Tại sao, cậu nói cho mình biết đi. Hẳn phải có lý do gì chứ? Trước đây một năm cậu còn là người đáng tin cậy nhất trên đời này. Thế là thế nào, Matthew? Mình phải nói với Tony Simmons thế nào đây?

- Cậu nói với Simmons bảo ông ta im đi cho người ta nhờ, và đừng có dính vào việc của người khác.

- Matthew, cậu phải công bằng chứ, đây là việc của ông ấy. Chúng ta đang quản lý một ngân hàng, chứ không phải một cái nhà chứa, còn cậu đến đây làm giám đốc là do cá nhân mình đề nghị, - Wiìliam nói, không kìm được giận dữ trong giọng của anh.

Và bây giờ thì mình không đáp ứng được yêu cầu của cậu nữa chứ gì, phải cậu đinh nói thế không?

Không, không phải mình muốn nói như vậy.

- Vậy cậu muốn nói cái gì chứ - Cậu hãy làm việc tử tế trong ít tuần đi. Rồi mọi người sẽ quên đi những chuyện đó.

- Cậu chỉ muốn có thế thôi?

- Phải, - William nói.

- Tôi sẽ làm như ông yêu cầu, thưa ông chủ. - Matthew nói, rập gót giầy một cái rồi bước ra cửa.

- Thật là khổ - William nói.

Chiều hôm đó, William muốn cùng với Matthew xét về một hồ sơ của khách hàng, nhưng không ai biết được anh ta ở đâu mà tìm. Sau bữa ăn trưa, người ta không thấy anh ta trở về cơ quan, và suốt ngày hôm đó cũng không thấy nữa.

Buổi tối, cho thằng bé Richard đi ngủ mà William vẫn cứ lo lo về Matthew, Richard đã có thể nói bập bõm được một vài tiếng nhưng không phát âm được đúng con số "ba".

- Nếu con không phát âm được đúng con số như vậy thì sau này khó mà làm được ngân hàng, Richard ạ - William đang nói với con thì Kate bước vào.

- Có lẽ nó sẽ làm cái gì đó có lợi hơn, - Kate nói.

Còn có gì lợi hơn ngân hàng được? - Willỉam hỏi.

Biết đâu đấy, nó có thể là một nhạc sĩ, hoặc một cầu thủ dã cầu, hoặc có thể là Tổng thống Hoa Kỳ cũng chưa biết chừng.

- Trong ba thứ đó, anh muốn nó là cầu thủ thì hơn, vì chỉ có một thứ này có đồng lương tử tế thôi, - William vừa nói vừa bế Richard vào giường. Thằng bé cố nói lại con số nhưng vẫn không phát âm được đúng.

William đành thôi không dạy con nữa.

- Trông anh mệt mỏi tắm đấy. Anh chưa quên là sau đây chúng ta còn phải đến nhà Andrew Mac Kenzie uống rượu nữa chứ.

- Trời ơi, anh quên khuấy đi mất. Mấy giờ chúng mình phải đến đó?

- Một giờ nữa.

Thế thì anh phải đi tắm nước nóng một cái đã.

- Anh phải nhường cho phụ nữ tắm trước chứ? - Kate nói.

- Tối nay anh cần thoải mái một chút. Cả ngày hôm nay bị điên đầu rồi.

- Lại Tony làm phiền anh chứ gì.

Phải, nhưng có lẽ lần này ông ta đúng. Ông ta phàn nàn về chuyện Matthew say rượu. Cũng may mà ông ta không nhắc gì đến chuyện cậu ta lăng nhăng với đàn bà. Bày giờ khó mà đưa Matthew đến dự một cuộc chiêu đãi nào nếu như ở đó chủ nhà không đem con gái lớn của mình, thậm chí cả vợ mình, nhốt kỹ vào một chỗ nào đó. Em mở nước tắm cho anh được không?

William ngồi ngâm trong bồn tắm đến nửa giờ. Kate phải vào kéo anh ra không thì anh sẽ ngủ quên trong đó mất. Mặc dầu cô đã giục cuống, hai vợ chồng vẫn đến chỗ Mackenzie muộn tới hai mươi lăm phút.

Vậy mà đến đó đã thấy Matthew sắp say rượu và đang tán tỉnh bà vợ của một nghị sĩ quốc hội. William định bước đến can thiệp, nhưng Kate ngăn lại.

- Anh đừng nói gì hết, - Kate bảo anh.

Anh không thể đứng đây nhìn cậu ta xuống dốc như thế được, - William nói. "Cậu ta là bạn thân nhất của anh, anh phải làm gì chứ".

Nói thế nhưng anh vẫn nghe Kate khuyên, và cả buổi tối nhìn Matthew mỗi lúc một say hơn. Ở đầu phòng bên kia, Tony Simmons vẫn liếc nhìn William, nhưng anh yên tâm thấy Matthew bỏ về sớm, dù là cùng về với một người đàn bà không có ai kèm theo.

Matthew đi rồi, anh mới cảm thấy nhẹ người đôi chút.

- Chú bé Richard thế nào? - Andrew Mac Kenzie hỏi.

- Nó không nói được con số "ba", - William nói - Thế thì tốt, - Bác sĩ Mackenzie nói. Có thể sau này nó làm một cái gì đó hay hơn. Chưa biết chừng nó làm được cái gì văn minh hơn cơ đấy, - Ông nói thêm.

- Tôi cũng bảo thế, - Kate nói. - A mà William này, hay nhất là nó có thể trở thành bác sĩ.

- Thế là an toàn đấy, - Andrew nói. - Tôi biết có nhiều bác sĩ không thể đếm được đến quá hai.

- Trừ phi họ gửi hóa đơn đòi tiền thì không kể, - William nói.

- Cô uống gì nữa chứ, Kate? - Andrew cười Thôi, xin cảm ơn, Andrew. Bây giờ đến lúc về rồi.

Nếu chúng tôi ở đây lâu thì chỉ còn lại có Tony Simmons với William, mà cả hai người đều biết đếm đến quá hai thì chúng ta lại mất cả đêm ở đây mà nói chuyện về ngân hàng thôi.

Đồng ý, - William nói. - Cảm ơn ông về cuộc chiêu đãi thú vị, Andrew. Nhân đây, tôi xin lỗi về cử chỉ của Matthew.

- Tại sao? - Bác sĩ Mackenzie hỏi.

- Thôi đi ông biết rồi đấy, Andrew. Không những cậu ta say rượu, mà trong phòng này không có người đàn bà nào yên được với cậu ta.

- Nếu ở vào tình trạng như cậu ta thì đến tôi cũng làm như vậy, - Andrew Mackenzie nói.

- Sao ông nói vậy? - Wilham không hiểu. - Không thể vì cậu ta độc thân mà cho phép làm thế được.

- Không, không phải thế, nhưng tôi đã cố tìm hiểu và thấy rằng nếu mình cũng gặp những vấn đề tương tự thì rất có thể sẽ vô trách nhiệm như thế thôi.

- Ông nói vậy nghĩa là sao? - Kate hỏi.

- Trời đất ơi? - Bác sĩ Mackenzie thốt lên. - Cậu ta là bạn thân nhất mà không nói cho anh biết sao?

- Nói gì cơ ạ? - Hai người cùng hỏi lại.

Bác sĩ Mackenzie nhìn hai người một lúc, vẻ như không tin.

- Vậy thì vào thư viện của tôi.

William và Kate theo bác sĩ vào một căn phòng nhỏ chung quanh tường toàn những sách về y học chỉ còn để chừa vài chỗ nhỏ treo ảnh không có khung chụp hồi ông còn học ở Corneìl.

- Xin mời ngồi, - Ông nói. - William, tôi không cần phải xin lỗi về điều tôi sắp nói đây, nhưng tôi vẫn cứ cho rằng anh biết là Matthew ốm nặng, thực ra là đang chết mòn về bệnh hoại huyết. Cậu ta đã biết về tình hình đó hơn một năm nay rồi.

William ngã người ra ghế, im lặng một lúc không nói được.

- Hoại huyết ư?

Phải, đó là một dạng các tế bào bị viêm và ăn vào máu, - Bác sĩ giải thích.

- Sao cậu ấy không nói gì với tôi? - William lắc đầu không tin.

- Các anh biết nhau từ hồi còn ở trường. Tôi đoán là cậu ta tự trọng không muốn phiền đến ai. Cậu ta nghĩ thà cứ thế mà chết còn hơn để cho ai biết mình có bệnh ấy. Từ sáu tháng nay tôi đã bảo cậu ta nên nói cho ông bố biết. Bây giờ tôi nói cho anh biết tức là tôi đã hủy cả lời hứa nghề nghiệp với cậu ta rồi đó, nhưng tôi không thể để cho anh trách cứ cậu ta mãi về điều mà chính anh ta không làm chủ được.

- Cảm ơn ông, Andrew, - William nói. - Sao tôi có thể mù quáng và ngu ngốc thế được nhỉ.

- Anh cũng đừng tự trách mình, - Bác sĩ Mac Kenzie nói. - Vì anh cũng chẳng làm sao mà biết được.

- Thực sự là không hy vọng gì nữa sao? - William hỏi. - Không có bệnh viện hay chuyên gia nào chữa được ư? Tiền thì không thành vấn đề....

- Tiền không thể mua được mọi thứ đâu, William. Tôi đã hỏi ba người giỏi nhất nước Mỹ với một người ở Thụy Sĩ. Tôi e rằng họ cũng đều nhất trí với chẩn đoán của tôi. Y học chưa tìm ra được phương thuốc chữa bệnh hoại huyết này.

- Anh ấy còn sống được bao lâu nữa, - Kate khẽ hỏi.

- Chậm là sáu tháng, nhanh là ba tháng.

- Thế mà tôi cứ trách oan cậu ấy. - William nói. Anh nắm chặt lấy tay Kate như người bị nạn vớ được cái phao. - Thôi, chúng tôi đi đây, Andrew. Cảm ơn ông đã cho chúng tôi biết.

- Anh có thể làm gì cho cậu ta được thi làm, - Bác sĩ nói. - Nhưng lạy Chúa, anh nên thông cảm. Cứ để cậu ta muốn làm gì thì làm. Đây là những tháng cuối cùng của Matthew, không phải của anh. Đừng cho cậu ta biết là tôi nói nhé.

William và Kate yên lặng ngồi xe về nhà. Về đến nơi, Wilham gọi ngay cho cô gái mà Matthew lúc trước cùng đi về.

- Tôi có thể nói chuyện với Matthew Lester được không?

Anh ấy không có ở đây, - Một giọng hơi gắt gỏng đáp lại - Anh ấy kéo tôi đến Câu lạc bộ Revue, nhưng đến đó thì anh ấy đã say rồi và tôi từ chối không vào đó với anh ấy nữa. - Rồi cô ta bỏ máy.

Câu lạc bộ Revue. William nhớ mang máng là đã trông thấy cái biển đó ở đâu rồi nhưng không biết địa điểm cụ thể. Anh tìm trong cuốn danh bạ điện thoại, lên xe đi về phía Bắc Thành phố và sau khi hỏi một người đi đường, anh đã tìm ra chỗ đó. William gõ cửa.

Một lỗ cửa con được kéo xuống.

- Ông có phải hội viên không?

- Không, - William đáp và tuồn một tờ mười đô la qua cửa.

Lỗ cửa đóng xuống và cửa to mở ra. William đi giữa sàn nhảy, hơi ngượng với bộ quần áo chỉnh tề của mình. Những người nhảy đang quấn lấy nhau, không ai để ý đến anh. William liếc nhìn vào một phòng mù khói, nhưng Matthew không có đó. Cuối cùng, anh nhận ra một cô gái hình như đã có đi với Matthew một lần nào đó mà anh bắt gặp. Cô ta đang ngồi bắt tréo chân ở góc nhà với một thủy thủ.

William bước đến chỗ cô ta.

- Xin lỗi cô, - Anh nói.

Cô ta nhìn lên nhưng rõ ràng là không nhận ra William.

- Cô này đi với tôi, mời anh đi cho, - Anh thủy thủ nói.

Cô có trông thấy Mathew Lester không?

- Matthew? - Cô gái hỏi lại. - Matthew nào?

- Tôi bảo anh cút đi, - Tay thủy thủ đứng dậy nói.

Anh nói một câu nữa là tôi đập vỡ đầu anh ra bây giờ - William nói.

Tay thủy thủ đã từng trông thấy con mắt dữ tợn như thế một lần trong đời rồi, và anh ta đã suýt bị mất một con mắt về chuyện đó. Anh ta sợ hãi ngồi xuống.

Matthew ở đâu?

- Tôi có biết Matthew nào đâu hở anh. - Cô gái cũng tỏ vẽ sợ hãi.

- Người cao dong dỏng, tóc vàng, mặc quần áo như tôi và có lẽ say rượu.

ồ anh muốn nói Martin ư Anh ta có tên là Martin ở đây, không phải là Matthew đâu. - Cô ta nhẹ người. - Để xem nào, tối nay anh ta đi với ai nhỉ? - Cô ta quay ra phía quầy rượu và hét to lên hỏi. - Này, Ten, Martin đi với ai nhỉ?

- Jeuny.

Người trông quầy rượu nhấc đầu mẩu thuốc lá ở mép ra đáp, rồi lại để thuốc lá về chỗ cũ.

- à, đúng rồi, Jenny, - Cô gái nói. - Khoan .để tôi xem đã nhé. Nó tiếp khách rất ngắn, chẳng bao giờ đi với ai quá nửa tiếng cả, rồi nó quay lại đây bây giờ:

Cảm ơn cô, - William nói.

Anh chờ đến hơn một giờ ở quầy rượu, uống Whisky với rất nhiều nước, cảm thấy rất lạc lõng ở chỗ này.

Cuối cùng, người trông quầy rượu, điếu thuốc lá chưa châm vẫn ngậm ở mép, đưa tay chỉ một cô gái vừa bước vào.

- Đó là Jenny, - Anh ta nói. Không thấy có Matthew cùng đi với cô ta.

Người trông quầy rượu gọi Jenny đến. Cô ta gầy nhỏ, tóc đen, trông cũng hấp dẫn. Cô ta nháy William và ưỡn ẹo đi tới.

- Tìm em hả, anh yêu? Em sẵn sàng đây, nhưng em lấy mười đô la nửa giờ nhé.

- Không, tôi không cần cô, William nói.

- Dễ thương chưa, - Jenny nói.

Tôi tìm người vừa đi với cô, Matthew.... tôi muốn nói là Martin ấỵ...

- Martin ư, anh ta quá say đến mức có đem cần cẩu đến cũng không dựng được dậy, nhưng anh ta trả mười đô la rồi. Bao giờ anh ta cũng trả thế đấy, rất lịch sự.

Anh ta đang ở đâu? - William sốt ruột hỏi.

- Tôi không biết. Anh ta bỏ không làm gì cả, rồi cứ thế đi bộ về nhà.

William chạy ra ngoài phố. Không khí lạnh ngoài trời làm anh tỉnh dần. Anh từ từ cho xe chạy từ câu lạc bộ theo con đường về nhà Matthew, nhìn kỹ từng người đi trên đường. Có người bắt gặp con mắt của anh thì sợ, vội bước đi. Có người thấy thế muốn hỏi chuyện. Lúc dừng lại trước đèn đỏ ở một nhà hàng ăn bán suốt đêm, anh nhìn qua cửa sổ mờ mờ thấy có bóng Matthew trong đó, tay cầm cốc đang đi qua dãy bàn. William đỗ xe, vào trong nhà hàng đến chỗ bên cạnh anh ta. Matthew đã gục xuống bàn. Cốc cà phê chưa uống bắn tung tóe. Anh ta say quá nên không nhận ra được William nữa.

- Matthew, tớ đây mà, - William lên tiếng và nhìn anh chàng đang rũ xuống bàn. Nước mắt chảy trên má William.

Matthew ngửng lên, làm đổ thêm cà phê ra bàn.

- Cậu khóc đấy ư? Mất người yêu rồi sao?

Không, mất người bạn thân nhất, - Wilham nói.

- A thế thì khó đấy.

- Mình biết, William nói.

- Tớ có một người bạn rất tốt, - Matthew nói, lưỡi líu lại. - Cậu ta xưa nay vẫn ủng hộ tớ, thế mà hôm nay lần đầu tiên chúng tớ cãi nhau. Cũng là lỗi ở tớ thôi. Cậu thấy không, tớ đã làm cậu ta thất vọng.

- Không đâu, - Wìlliam nói.

- Cậu làm sao biết được, Matthew gắt. - Cậu không biết cậu ta là ai kia mà.

- Chúng mình đi về nhà đi, Matthew.

Tên tớ là Martin, - Matthew nói.

- Xin lỗi cậu, Martin, chúng ta đi về nhà đi.

- Không, tớ muốn ở đây. Có một cô gái chốc nữa sẽ đến. Bây giờ tớ sẵn sàng đi với cô ta rồi.

- Ở nhà mình có rượu Whisky ngon cho cậu, - William nói. - Vậy sao cậu không về nhà mình?

- Ở chỗ cậu có đàn bà không?

Có, nhiều lắm.

- Thế thì được, tớ sẽ về.

William đỡ Matthew đứng dậy, quàng tay vào dưới vai rồi từ từ dìu anh ra cửa. Lần đầu tiên anh mới thấy được rằng Matthew rất nặng cân. Ra đến ngoài, anh nghe thấy hai người cảnh sát ngồi ở góc quầy nói với nhau:

- Nốc cho lắm vào Anh đưa Matthew ra đến xe rồi về nhà. Kate đang còn đợi.

- Sao em không đi ngủ trước đi.

Em không ngủ được, - Cô nói.

- Có lẽ cậu ta vẫn còn đang hồ đồ lắm.

- Có phải đây là cô gái cậu hứa với tớ không - Matthew nói.

- Phải, cô ta sẽ săn sóc cậu, - William nói, rồi cùng Kate cùng dìu anh ta lên phòng khách, đặt nằm vào giường. Kate bắt đầu cởi bỏ áo ra cho anh ta.

- Em cũng phải cởi áo em ra nữa cơ, - Anh ta nói.- Anh đã trả mười đô la rồi.

Cứ nằm xuống đã, - Kate khẽ nói.

- Tại sao trông em buồn thế, người đẹp của anh? - Matthew nói.

- Vì em yêu anh, Kate nói và rưng rưng nước mắt.

- Đừng khóc, - Mathew nói. - Không có gì đáng khóc. Rồi lần này anh sẽ cố làm được cho em xem.

Cởi áo cho Matthew rồi, William lấy chăn đắp lên người cho anh ta. Kate tắt đèn.

- Em hứa sẽ lên giường với anh mà, - Matthew nói trong lúc mê sảng.

Kate khẽ đóng cửa lại.

William ngủ ngay trên chiếc ghế ở ngoài phòng Matthew vì sợ nửa đêm anh ta có thể thức dậy bỏ đi.

Đến sáng Kate đánh thức anh dậy rồi đem thức ăn sáng vào cho Matthew.

- Tôi làm gì ở đây thế này, Kate? - Matthew vừa mở mắt đã hỏi ngay.

- Đêm qua sau cuộc chiêu đãi où chỗ Mackenzie anh cùng về với chúng tôi mà, - Kate lúng túng trả lời Không, làm gì có chuyện ấy. Tôi đến Câu lạc bộ Revue với cô gái tên là Patricia hay gì đó mà cô ta không chịu cùng vào với tôi kia mà:

Lạy Chúa, sao tôi thấy người như ốm thế này nhỉ. Cho tôi cốc nước cà chua được không Tôi không muốn tỏ ra vô lễ, nhưng tôi chả muốn ăn sáng tí nào.

Được thôi, Matthew.

william ở ngoài vào, Matthew ngước nhìn lên. Hai người im lặng nhìn nhau.

- Cậu biết cả rồi hả? - Cuối cùng Matthew nói.

- Biết, - William nói. - Mình thật là ngu, và mình mong cậu tha lỗi.

- Cậu đừng khóc, William, từ hồi cậu mười hai tuổi bị thằng Covington đánh cho và tớ phải kéo nó ra, thì từ đó đến nay tớ chưa hề thấy cậu khóc bao giờ. Cậu có nhớ không? Không biết thằng Covgington bây giờ thế nào rồi. Có lẽ nó đang làm chủ nhà chứa ở Tijuana, mà nó cũng chỉ làm được đến thế thôi. Cậu nên nhớ, nếu Covington là chủ cái nhà chứa đó thì rất tốt cậu nên đưa tớ đến đó. Đừng khóc, Wilham. Người lớn ai lại khóc. Chả làm thế nào được đâu. Tớ đã đi khám ở các chuyên gia, từ New York đến Los Angeles đến Zurich, và chẳng ai làm thế nào được.

Sáng nay mình không đến làm việc được không? Mình thấy trong người còn mệt ghê gớnl. Nếu mình nằm đây lâu quá thì gọi mình dậy, hoặc nếu mình làm phiền gì thì cứ bảo, và mình sẽ biết tìm đường về nhà.

- Đây là nhà của cậu, - William nói.

Vẻ mặt Matthew bỗng thay đổi.

Cậu có nói cho bố mình biết không William?

Mình không thể giáp mặt bố được. Cậu cũng là con một, nên cậu hiểu.

Mình sẽ nói, - William đáp. - Mai mình sẽ đi New York và nói cho bố cậu biết, nhưng cậu phải hứa ở lại đây với Kate và mình. Nếu cậu muốn uống rượu thì mình sẽ không ngăn, hoặc nếu cậu muốn đi với bao nhiêu đàn bà cũng được, nhưng cậu phải ở đây.

- Bao nhiêu tuần nay, bây giờ mình mới được quan tâm đấy, William. Thôi bây giờ mình ngủ lại đã nhé. Mình mệt quá đi.

William nhìn Matthew ngủ lại và ngủ rất say. Anh nhấc cốc nước đã uống được một nửa trong tay Matthew ra. Nước cà chua loang ra một vệt trên chăn.

- Cậu đừng chết, - Anh nói khẽ với mình. - Matthew ơi cậu đừng chết. Cậu đừng quên rằng cậu với mình sắp sửa làm chủ một ngân hàng lớn nhất ở Mỹ đấy nhé?

Sáng hôm sau Wilham đi New York để gặp Charles Lester. Ông cụ nghe cái tin Wiìliam nói lại mà bỗng như già đi trông thấy và người ông cũng như nhỏ bé lại trong chiếc ghế.

- Cảm ơn cháu đã đến nói riêng với bác, William. Lâu nay hàng tháng không thấy Matthew về thăm nhà, bác đã cảm thấy như có chuyện gì không hay rồi.

Cứ cuối tuần bác sẽ lên đó vậy. Nó sẽ ở lại đó với cháu và Kate, và bác cũng sẽ tỏ ra không lấy gì làm buồn lắm khi được tin đó. Có Chúa mới biết được nó đã phạm tội gì để đến nỗi như vậy. Từ hồi mẹ Matthew mất đi, bác đã làm đủ thứ dành cho nó, thế mà bây giờ thì không còn ai để bác giành lại cho nữa.

- Bác đến Boston bất cứ lúc nào cũng được, thưa bác. Chúng cháu rất mong chờ bác.

- Cảm ơn cháu, Wilham, cảm ơn tất cả những gì cháu đã làm cho con bác. - Ông cụ nhìn anh. - Bác ước gì bố cháu còn sống để thấy con trai mình đã xứng đáng với cái tên Kanne thế nào. Giá như bác có thể đổi cho Matthew, để cho nó sống... ' - Cháu phải vội về với cậu ấy đây, bác ạ.

- Ừ cháu về đi. bảo với hò là bác yêu nó lắm, và bảo là bác đã dũng cảm nghe cái tin ấy nhé. Đừng nói gì khác với nó nhé.

- Vâng, thưa bác.

William trở về Boston thấy tối hôm ấy Matthew ở nhà với Kate và đang ngồi ngoài hiên bắt đầu đọc cuốn tiểu thuyết đang được bán rất chạy ở Mỹ, đó là cuốn Cuốn theo chiều gió. Anh ta ngước nhìn lên thấy William bước vào bằng cửa bên..

- Ông cụ nghe tin bảo sao?

- Ông cụ khóc, - William nói - Ông chủ ngân hàng Lester mà khóc ư? - Matthew nói. - Cậu chớ cho các cổ đông biết chuyện đó nhé.

Matthew không uống rượu nữa và cố gắng làm việc cho đến tận những ngày cuối. Wilham phải lấy làm kinh ngạc về quyết tâm của anh ta và cứ khuyên anh ta hãy từ từ đã. Nhưng anh ta không những làm hết các việc của mình mà còn trêu chọc Wilham bằng cách đọc lấn sang những thư từ gửi đến cho William nữa.

Tối tối trước khi đi xem hát hoặc dự tiệc, Matthew còn đánh quần vợt với Wiìliam hoặc chèo thuyền và vượt William trên sông Charles. Anh ta nói nhạo:

Khi nào mình thua cậu thì mình biết là lúc đó chết rồi.

Matthew không hề vào bệnh viện bao giờ. Anh thích ở lại nhà vợ chồng William. Với William thì anh thấy các tuần lễ trôi qua vừa quá chậm lại vừa quá nhanh, cứ mỗi buổi sáng ngủ dậy không biết Matthew còn sống hay không.

Matthew chết vào ngày thứ năm, hãy còn bỏ dở bốn chục trang của Cuốn theo chiều gió chưa đọc hết.

Tang lễ được tiến hành ở New York. William và Kate ở lại với Charles Lester. Chỉ trong có sáu tháng mà ông cụ đã già hẳn đi. Ông đứng bên mộ vợ và mộ đứa con trai độc nhất của mình, bảo William rằng ông không còn thấy có mục đích gì để sống trên đời này nữa. William không nói gì. Chẳng có lời nói nào khiến cho ông cụ đỡ đau buồn được. Ngày hôm sau, William và Kate trở về Boston không có Matthew vắng hẳn đi một cách kỳ lạ. Mấy tháng qua vừa là những tháng sung sướng nhất vừa là những tháng đau khổ nhất trong đời William. Cái chết đã khiến anh gần lại với Matthew và với Kate. Nếu là cuộc sống bình thường thì anh không thể gần với bạn và vợ như vậy được.

Sau cái chết của Matthew, Willam trở lại ngân hàng làm việc nhưng anh thấy rất khó có thể làm bình thường như cũ. Nếu là trước đây thì anh đã đứng dậy, sang phòng làm việc của Matthew hoặc trao đổi hoặc cười nói với nhau, hoặc ít nhất thì cũng còn thấy Matthew ngồi đó. Nhưng nay Matthew không còn đó nữa. Phải mất đến mấy tuần William mới thôi không nghĩ đến không khí làm việc cũ nữa.

Tony Simmons tỏ ra rất thông cảm, nhưng điều đó chẳng giúp được gì, Wilham mất hết cả hứng thú làm ngân hàng. Ngay trong chính ngân hàng Kanne và Cabot, anh cũng rầu rĩ hết tháng này sang tháng khác về cái chết của Matthew. Xưa nay anh vẫn đinh ninh rằng anh và Matthew sẽ cùng lớn lên, cùng già và cùng chia sẻ chung một số phận. Không ai có ý kiến gì khi thấy công việc của Wilham không còn có chất lượng như trước nữa. Ngay cả đến Kate cũng lo buồn thấy William ngồi không một mình hàng giờ.

Một buổi sáng, cô tỉnh dậy thấy anh ngồi bên mép giường và nhìn mình. Cô chớp mắt hỏi anh:

- Có chuyện gì không hay thế anh - Không, anh chỉ nhìn vào cái tài sản lớn nhất của mình, và tự hỏi xem có phải của mình thật không?

° ° °

Vào cuối nam 1932, trong lúc cả nước Mỹ đang bị kẹt trong gọng kìm của nạn kinh tế đình đốn, Abel đã hơi lo sợ về tương lai của Công ty Nam tước. Hai năm qua đã có đến hai nghìn ngân hàng phải đóng cửa, và hiện nay hàng tuần vẫn có thêm nhiều ngân hàng khác tiếp tục đóng. Chín triệu người vẫn thất nghiệp. Các khách sạn của Abel phải cố gắng lắm mới duy trì được một số nhân viên có tay nghề cao. Mặc dầu vậy, năm 1932 công ty Nam Tước cũng bị lỗ 72.000 đô la, mà đây là năm anh dự kiến sẽ cân bằng được thu chi. Anh bắt đầu lấy làm ngại, không biết người ủng hộ anh còn đủ tiền và còn đủ kiên nhẫn để giúp anh xoay chuyển lại tình thế được không đây.

Trước đó, Abel đã bắt đầu tham gia tích cực vào hoạt động chính trị trong quá trình An ton Cermak vận động và trở thành thị trưởng Chicago. Cermak đã thuyết phục Abel gia nhập đảng Dân chủ lúc đó đang tiến hành một chiến dịch dữ đội đòi bỏ lệnh cấm rượu.

Abel ra sức ủng hộ Cermak vì lệnh cấm rượu rất tai hại đối với việc làm ăn của các khách sạn. Cermak vốn là một người Tiệp Khắc nhập cư nên giữa Abel với Cermak đã lập tức có ngay được mối quan hệ chặt chẽ. Abel cũng lấy làm sung sướng được cử ra làm đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc đảng Dân chủ họp ở Chicago năm 1932. Ở đây, Cermak đã được cử tọa đứng dậy nhiệt hệt hoan hô với nhau lời anh ta nói:

- Tôi không đến đây cùng với chuyến tàu Maynower nhưng tôi đã cố gắng đến được càng sớm càng tốt.

ở Đại hội, Cermak đã giới thiệu Abel với Fr. D. Roosevelt và cuộc gặp gỡ ấy làm Abel xúc động nhớ mãi. FDR cứ thế thắng cử Tổng thống một cách dễ dàng và các ứng cử viên Dân chủ theo nhau giành thắng lợi ở khắp nước. Một trong những người mới được bầu vào Hội đồng thành phố Chicago là Henry osborne. Rồi sau khi An ton Cermak bi giết vào đầu năm 1933 où Miami do một viên đạn nhằm ám sát FDR nhưng lại trúng vào anh, Abel quyết định đóng góp một phần lớn thời gian và tiền của vào sự nghiệp cua những ngươi Dân chủ gốc Ba Lan ở Chicago.

Trong năm 1933, công ty chỉ mất có 23.000 đô la nhưng một trong số những khách sạn, tức khách sạn Nam tước ở Si. Louis, lại làm ăn có lãi. Rồi khi Tổng thống Roosevelt phát biểu bài diễn văn đầu tiên của ông vào ngày 12 tháng ba kêu gọi mọi người "hãy một lần nữa tin ở nước MỸ thì Abel lại phấn khởi và anh quyết định cho mở lại hai khách sạn trước đây đã đóng cửa.

Zaphia ngày càng kêu ca phàn nàn về việc Abel ở quá lâu tại những nơi Charleston với Mobile để phục hồi lại khách sạn. Zaphia chỉ muốn Abel nhiều lắm là làm phó quản lý ở khách sạn Stevens thôi, vì như vậy khoảng cách giữa hai người không xa ìắm. Nhưng với tình hình này thì mỗi lúc Abel càng đi xa hơn mà Zaphia thì không biết thế nào mà đuổi theo những tham vọng của Abel được. Cô sợ anh ta bắt đầu không quan tâng đến cô nữa.

Cô cũng cảm thấy lo lắng về chuyện mình không có con. Cô đi thăm bác sĩ thì họ đảm bảo với cô rằng chẳng có gì khiến cô không có chửa được. Một bác sĩ đề nghị phải khám cả Abel nữa, nhưng Zaphia phản đối, vì cô biết rằng nếu nêu chuyện ấy ra sẽ chẳng khác nào như bảo Abel là vô sinh. Cuối cùng, sau khi vấn đề đã trở nên nặng nề khó có thể đem ra bàn được thì may sao Zaphia lại tắt kinh.

Cô hy vọng chờ đợi thêm một tháng nữa mới nói cho Abel biết hoặc lại đi thăm bác sĩ nữa. Bác sĩ khẳng định rằng cuối cùng cô đã có mang. Vào đúng ngày đầu năm 1934, Zaphia đẻ cho Abel một đứa con gái. Abel rất vui mừng. Họ đặt tên nó là Florentyna, tức là tên của chị Abel trước đây. Trông thấy con bé là Abel đã quấn lấy nó ngay, khiến Zaphia nghĩ bụng từ nay trở đi cô không còn là người đầu tiên được hưởng tình yêu của Abel nữa. George và những bà chị họ của Zaphia đỡ đầu cho đứa bé. Abel tổ chức một bữa tiệc Ba lan mười món vào tối hôm làm lễ rửa tội cho đứa bé. Người ta gửi đến rất nhiều tặng phẩm trong đó có cả một cái nhẫn cổ rất đẹp của một người ủng hộ Abel nhưng giấu tên. Anh cũng có quà biếu tặng lại.

Công ty Nam Tước thu được món lãi 63.000 đô la vào cuối năm. Cả công ty, chỉ còn có khách sạn Nam Tước ở Mobile là thua lỗ.

Mấy tháng sau khi Florentyna ra đời, Abel nghĩ phần lớn thời gian của anh là ở Chicago nên quyết định đã đến lúc xây dựng một khách sạn Nam Tước mới ở đây. Trong thành phố, các khách sạn mọc lên như nấm do kết quả của Hội Chợ Thế Giới tổ chức ở đây Abel có ý định làm cho khách sạn của anh thành lá cờ đầu của công ty để tưởng nhớ đến Davis Leroy.

Công ty vẫn còn làm chủ miếng đất cũ của khách sạn Richmond trên đường Michigan. Đã có nhiều người muốn mua miếng đất ấy nhưng anh vẫn cố giữ, hy vọng một ngày kia có đủ tiền sẽ xây lại khách sạn ở đây Công trình đòi hỏi phải có vốn lớn, Abel quyết định dùng số tiền 750.000 đô la lấy về được của công ty bảo hiềm Great Westem tiến hành việc xây dựng này. Nghĩ xong đâu đấy, anh trình bày với Curtis Fenton ý kiến của mình, tuy nhiên anh vẫn còn đề phòng trường hợp là nếu David Maxton không muốn như vậy vì sợ sẽ có sự cạnh tranh với khách sạn Stevens, thì Abel sẽ sẵn sàng từ bỏ kế hoạch ấy. Dù sao anh vẫn cảm thấy mình có nợ với ông Matxton.

Mấy ngày sau, Curtis Fenton báo lại cho anh biết là người ủng hộ rất vui lòng thấy nói anh định xây lại khách sạn Nam Tước Chicago.

Abel mất mười hai tháng để xây khách sạn Nam Tước mới, với bàn tay giúp đỡ của ủy viên Hội đồng thành phố Henry osborne vì ông ta thu xếp để có các loại giấy phép của Tòa Thị chính một cách nhanh chóng. Tòa nhà được khánh thành năm 1936, do Thị trưởng thành phố là Edward J. Kelly đến khai mạc, và ông này sau cái chết của An ton Cermark đã trở thành người cầm đầu bộ máy của đảng Dân chủ ở đây Để tưởng nhớ lại Davis Leroy, khách sạn không có tầng thứ mười bảy, và đây cũng là một truyền thống Abel thực hiện trong việc xây dựng bất cứ một khách sạn mới nào của Công ty Nam Tước.

Cả hai thượng nghị sĩ của bang Illinois cũng có mặt và phát biểu với hai ngàn khách đến dự hôm đó.

Khách sạn Nam tước Chicago đẹp cá về thiết kế và xây dựng. Abel đã phải chi đến hơn một triệu đô la cho khách sạn này, và có vẻ như mỗi đồng xu bỏ ra đều đã được tận dụng. Những phòng công cộng đều to rộng thoáng mát với trần nhà được trang trí lộng lẫy và thảm dưới chân đều rất dầy. Màu xanh lá cây có chữ nổi mang tên tắt của khách sạn được trang trí rất kín đáo tưởng như không thấy mà đâu cũng có, từ bộ quần áo của chú nhỏ chạy vặt trong khách sạn cho đến ngọn cờ bay phấp phới trên đỉnh ngôi nhà bốn mươi hai tầng.

Khách sạn này tự nó đã mang dấu hiệu của thành công rồi, - Ông Thượng nghị sĩ lâu năm của nijloi là J. Hamilton Lewis phát biểu, - Vì thưa các bạn, chính là do con người, chứ không phải khách sạn, đã được biết là "Nam Tước Chicago".

Abel sung sướng ra mặt thấy cả hai ngàn khách mời đều oà lên tán thưởng. Anh phát biểu cảm ơn và mọi người đứng dậy vỗ tay. Anh bắt đầu cảm thấy mình đã quen thuộc với giới đại kinh doanh và những nhà chính trị đàn anh. Zaphia lởn vởn đi lại ở phía sau trong suốt buổi lễ, đối với cô sự việc này là quá long trọng. Cô không hiểu mà cũng chẳng nghĩ đến thành công của Abel ở mức độ như thế, mà dù có hiểu được và bây giờ cô có thừa tiền mua sắm những quần áo sang nhất, cô vẫn thấy mình cổ lỗ và lạc lõng thế nào ấy. Cô biết rằng sự xuất hiện của mình chỉ làm cho Abel thêm khó chịu. Trong khi Abel nói chuyện với Henry osborne, thì cô đứng cách đó một quãng.

- Đây là cao điểm trong cuộc đời của anh đấy nhé,- Henry vỗ vào lưng Abel nói.

- Cao điểm.... tôi cũng vừa đúng ba mươi tuổi, - Abel nói. Anh quàng tay qua vai Henry và máy ảnh chụp nhoáng một cái. Abel rạng rỡ, lần đầu tiên trong đời anh sung sướng được coi như một nhân vật được nhiều người biết đến. "Tôi sẽ xây khách sạn Nam Tước ở khắp các nước trên thế giới! - Anh nói đủ to cho nhà báo đứng gần đó nghe thấy. "Tôi muốn làm ở Mỹ như Cesar Ritz đã làm ở Châu âu. Ông cứ đi với tôi Henry, rồi ông sẽ hưởng hết niềm vui của chuyến đi này".

° ° °

Hôm sau, vào lúc ăn sáng, Kate chỉ cho William xem một mẩu tin đăng trên trang 17 của tờ báo Globe nói về chuyện khai mạc khách sạn Nam Tước ở Chicago.

William vừa xem bài báo vừa cười. Ngân hàng Kane và Cabot thật là dại dột đã không chịu nghe lời khuyên của anh ủng hộ cho công ty Richmond. Anh lấy làm hài lòng thấy nhận xét trước đây của mình về Rosnovski là đúng, mặc dầu ngân hàng đã bỏ qua một cơ hội như thế. Đọc đến chỗ Abel được mệnh danh là "Nam tước Chicago" anh càng buồn cười. Nhưng đột nhiên anh cảm thấy khó chịu ngay. Anh xem kỹ tấm ảnh đăng kèm trong báo. Rõ ràng những dòng chữ chú thích dưới ảnh không còn có gì đáng ngờ nữa:

Abel Rossnovski, Chủ tịch Công ty Nam Tước, đang nói chuyện với Mieczyslaw Szymczak, Thống đốc Quỹ Dự trữ Liên bang, và ủy viên Hội đồng thành phố Henry osborne.

William để tờ báo xuống bàn và suy nghĩ một lúc. Vừa đến cơ quan làm việc, anh đã gọi điện ngày cho Thomas Cohen ở Công ty Luật gia Cohen và Yablons.

- Đã lâu rồi đấy nhỉ, ông Kane, - Thomas Cohen nghe điện đã nói ngay. - Tôi rất tiếc nghe tin về cái chết của bạn ông, Matthew Lester. Còn vợ con ông, Richard, có phải tên cháu là thế không, vẫn khỏe chứ?

William vẫn luôn khâm phục Thomas Cohen về trí nhớ của ông ta đối với tên người và các mối quan hệ.

- Vâng, cảm ơn ông Cohen, vợ và con tôi vẫn khỏe.

Lần này tôi làm gì được cho ông đây, ông Kanẻ- Thomas Cohen cũng vẫn nhớ rằng với Wiìliam thì chỉ hỏi thăm một câu thôi, rồi vào việc ngay.

- Tôi muốn nhờ ông cử người điều tra cho một việc.

Tôi không muốn người đi điều tra đó biết tôi là ai. Nhưng tôi cần có những thông tin mới nhất về Henry osbome. Tất cả những gì ông ta làm từ khi rời Boston ra đi, nhất là xem giữa ông ta với Abel Rosnovski của Công ty Nam tước có quan hệ gì không.

Đầu dây đằng kia, nhà luật gia im lặng một lát rồi đáp:

- Vâng.

- Ông có thể cho tôi biết trong vòng một tuần không?

- Xin ông cho hai tuần, ông Kane, - Ông Cohen nói.

- Báo cáo đầy đủ gửi đến cho tôi trong vòng hai tuần nữa nhé, ông Cohen?

- Vâng, hai tuần, thưa ông Kane.

Thomas Cohen vẫn là một người đáng tin cậy như từ trước đến nay. Một báo cáo đầy đủ đã được gửi đến tận chỗ làm việc của William vào sáng ngày mười lăm. William giở hồ sơ ra đọc rất kỹ. Không có quan hệ làm ăn gì giữa Abel Rosnovski với Henry osbome.

Hình như Rosnovski chỉ thấy ở oborne là một người có ích cho những quan hệ chính trị của mình, thế thôi.

Từ khi rời Boston, osborne đã chạy từ việc này sang việc khác rồi cuối cùng về làm ở Công ty bảo hiểm Great Western. Theo nhận xét của họ, chính vì thế mà osborne đã tiếp xúc với Abel Rosnovski, vì trước đây Công ty Richmond vẫn do cơ quan này bảo hiểm. Lúc khách sạn bị đốt cháy, công ty bảo hiểm này từ chối không chịu trả tiền bồi thường. Một người quản lý, có tên là Desmond Pacey, bị tù mười năm sau khi nhận tội là chính mình đã đốt, và trong vụ này người ta hơi có chút nghi ngờ là Abel Rosnovski có nhúng tay vào đó. Tuy nhiên, không có chứng cớ gì cụ thể, vì vậy công ty bảo hiểm đành chịu trả 750.000 đô la. Báo cáo cũng nói thêm hiện nay osborne là ủy viên Hội đồng thành phố và là một nhà hoạt động chính trì chuyên môn ở Tòa thị chính, mọi người đều biết ông ta hy vọng trở thành nghị sĩ quốc hội đại diện cho Chicago.

Mới đây ông ta có lấy cô Marie Axton, con gái của một nhà sản xuất thuốc khá giàu có, và hai người vẫn chưa có con.

william lại xem lại toàn bộ báo cáo để chắc chắn là mình không bỏ qua điều gì dù là không quan trọng.

Nhưng anh vẫn thấy giữa hai người không có gì thật sự gắn bó với nhau lắm. Dù sao, trong thâm tâm anh vẫn lo lắng cả hai người, Abel Rosnovski và Henry osbonle, đều là những người căm ghét anh, nếu quan hệ chặt chẽ với nhau tất thế nào cũng có điều gì nguy hiểm mà anh phải đề phòng. Anh ký một tấm séc gửi trả Thomas Cohen và yêu cầu ông ta cứ ba tháng một lần lại báo cáo thêm cho anh biết. Nhưng rồi tháng tháng trôi qua, những báo cáo ba tháng cũng không nêu được chuyện gì mới, vì vậy anh không còn lo nghĩ gì nữa, chỉ cho rằng mình đã quá quan tâm đến bức ảnh đăng trong báo mà thôi.

Mùa xuân năm 1937, Kate lại đẻ cho chồng được một đứa con gái. Họ đặt tên nó là Virginia. Wilham vẫn làm cái việc thay tã cho con. Anh quá săn sóc "cô công chúa" này đến nỗi Kate tối nào cũng phải dành về cho mình kẻo nó không được ngủ. Còn Richard bây giờ dã lên hai tuổi rưỡi, chả thích gì em bé và cả ngày chỉ chơi với bộ lính gỗ để khỏi ghen với em được săn sóc cẩn thận hơn.

Vào quãng cuối năm, bộ phận của William trong ngân hàng Kane và Cabot thu về được món lợi nhuận khá to. Anh như vừa thoát ra khỏi trạng thái lơ mơ do cái chết cua Matthew gây ra và lại nhanh chóng giành lại uy tín của mình như một trong những người rất khôn khéo đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Anh cũng không còn thấy phiền lòng gì với sự điều khiển của Tong Simmons nữa:

Tuy nhiên, William trong thâm tâm cũng không vui gì với triển vọng dù có được làm chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot thì cũng phải chờ mười bảy năm nữa cho Simmons về hưu mới đến lượt anh, vì vậy anh tính đến tìm việc lành ở ngân hàng khác.

William và Kate vẫn đi New York thăm Charles Lester mỗi tháng một lần vào ngày cuối tuần. Trong ba năm qua kể từ khi Matthew chết đến nay, ông đã già đi ghê gớm. Trong giới tài chính người ta đồn ông chẳng còn thiết gì làm ăn và thỉnh thoảng mới thấy có mặt ở ngân hàng. William bắt đầu lo không biết ông già còn sống được bao lâu nữa. Thế rồi ít tuần sau ông qua đời luôn. Hai vợ chồng Kane xuống New York dự tang lễ. Hình như mọi người ai cũng có mặt ở đám tang này, kể cả ông Phó Tổng thống Hoa Kỳ John Nance Gamer. Sau khi dự đám tang, William và Kate đi xe lửa trở về Boston, biết là từ nay trở đi đã mất hẳn mối quan hệ với gia đình Lester.

Khoảng sáu tháng sau William nhận được thông báo của Sullivan và Cromwell, một công ty Luật ở New York, yêu cầu anh đến dự nghe công bố chúc thư của Charles Lester tại văn phòng của họ Ở phố Wall.

William nhận lời về dự vì tình nghĩa với gia đình Lester hơn là muốn biết nội dung chúc thư của Charles Lester. Anh chỉ muốn nhớ lại những kỷ niệm nhỏ với Matthew và những gì còn lại mà anh đang giữ trong nhà hiện nay. Anh cũng mong có dịp được gặp lại những người khác trong gia đình Lester đã quen biết từ hồi còn nhỏ cũng như trong những năm ở đại học với Matthew.

William tự mình lái chiếc xe Daimler mới mua xuống New York từ đêm hôm trước và ngủ trọ tại Câu lạc bộ Harvard. Bản di chúc sẽ được công bố vào mười giờ sáng hôm sau, và Wiìham lấy làm lạ khi đến văn phòng công ty Sulhvan và Cromwell thấy đã có đến năm chục người tề tựu sẵn ở đó rồi. Nhiều người ngước nhìn lên khi Wilham bước vào phòng. Anh đến chào các cô dì chú bác của Matthew, thấy họ đã già đi rất nhiều và anh nghĩ bụng có lẽ họ cũng nghĩ về anh như vậy. Anh để ý tìm Susan, em gái của Matthew, nhưng không thấy cô ta đâu. Đúng mười giờ ông Arthur Cromwell vào phòng, có một trợ lý đi kèm và cầm trong tay một cặp da màu nâu. Mọi người im lặng chờ đợi. Ông luật sư giải thích cho những hưởng di chúc biết rằng theo lời dặn của Charles thì di chúc này chỉ được mở ra sáu tháng sau khi ông đã qua đời.

Lý do là vì ông không có con trai để ông để lại gia tài nên ông muốn để cho thời gian chứng minh nguyện vọng của ông vậy.

William nhìn quanh căn phòng và các khuôn mặt đang theo dõi từng lời nói của ông luật gia. Arthur Cromwell đọc bản di chúc đó mất gần một tiếng đồng hồ. Sau khi đọc những mục thông thường để lại cho những thành viên khác nhau trong gia đình, cho những cơ quan từ thiện và trường Đại học Harvard, Cromwell cho biết thêm rằng Charles Lester đã chia tài sản cá nhân của ông cho tất cả bà con họ hàng, nhiều hay ít tùy theo mức độ xa gần của họ. Cô con gái, Susan, được nhận phần lớn nhất của bất động sản, còn năm người cháu trai và ba cháu gái, mỗi người được hưởng một phần tài sản ngang nhau còn lại Tất cả tiền của và chứng khoán dành cho họ đều do ngân hàng lưu giữ cho đến khi họ ba mươi tuổi.

Nhiều bà con cô bác và họ hàng xa đều được lĩnh tiền mặt ngay tại chỗ.

William ngạc nhiên thấy ông Cromwell tuyên bố.

- Đó là tất cả những gì liên quan đến tài sản của ông Charles Lester để lại.

Mọi người bắt đầu rục rịch trở về chỗ và có tiếng rì rầm trao đổi giữa người này người kia.

- Tuy nhiên, đó chưa phải đã hết những gì ông Charles Lester dặn lại trong Di chúc, - Luật gia bình tĩnh nói tiếp, và mọi người lại dằn lòng ngồi nghe, trong lòng rất lo không biết còn điều gì bất ngờ và không hay nữa chăng.

ông Cromwell tiếp:

- Tôi xin đọc tiếp những lời của chính ông Charles Lester. "Trước nay tôi vẫn cho rằng một ngân hàng và tiếng tăm của nó rất liên quan đến người quản lý nó. Ai cũng biết rằng tôi hy vọng con trai tôi là Matthew sẽ kế nghiệp tôi làm Chủ tịch ngân hàng Lester, nhưng nó chẳng may đã chết một cách bi thảm và không đúng lúc. Cho đến nay, tôi chưa hề nói cho ai biết tôi đã chọn người nào để quản lý ngân hàng Lester. Vậy nay tôi công bố đê mọi ngươi biết là tôi đã chọn William Lowell Kane, con của một trong những người bạn thân nhất của tôi lã Richard Lowell Kane trước đây, hiện đang là phó chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot, làm chủ tịch ngân hàng Lester và toàn bộ Công ty Tín dụng, và nhận chức đó trong cuộc họp toàn thể ban giám đốc tới".

Lập tức có tiếng xôn xao. Mọi người nhìn quanh phòng xem con người bí mật William Lowell Kane ấy là ai, con người mà chỉ có vài thành viên trực tiếp trong gia đình Lester biết đến.

- Tôi chưa đọc hết, - Arthur Crnmwell nói.

lại im lặng. Cử tọa nhìn nhau kinh hãi, e rằng lại một quả bom nữa sắp nổ tung.

Nhà luật gia đọc tiếp:

'tất cả những khoản trợ cấp và phân chia chứng khoán của Công ty Lester nói trên đây đều tùy thuộc vào việc những người được hưởng sẽ bầu cho ông Kane tại cuộc họp toàn thể hàng năm và vẫn sẽ tiếp tục làm như vậy ít nhất là năm năm sau đó, trừ phi ông Kane tuyên bố là ông ta không nhận chức vụ chủ tịch".

Lại xôn xao ồn ào trong phòng. William ước gì mình ở cách xa chỗ này hàng vạn dặm, vì anh không biết mình nên sung sướng hay nên thừa nhận mình là người bị căm ghét nhất trong tất cả những ai có mặt ở đây - Đến đây là kết thúc Di chúc của ông Charles Lester, - Ông Cromwell nói. Nhưng chỉ có những người ngồi ở hàng đầu nghe rõ ông nói gì. William nhìn lên, Susan Lester đang bước về phía anh. Hình ảnh cô gái béo lùn đã biến đâu mất, chỉ còn những nét tàn nhang xinh đẹp. Anh mỉm cười, nhưng cô đi qua mặt anh, làm như anh không có đó. William nhăn nhó.

Một người cao lớn, tóc hoa râm, mặc bộ quần áo chật căng và thắt chiếc ca vát sáng, không để ý đến những tiếng ồn ào chung quanh, bước đến chỗ William.

- Ông là William Kane, có phải không ạ - Vâng, chính tôi, - William hơi bực bội đáp Tên tôi là Peter Parfitt, - Người đó nói.

- Một trong những phó chủ tịch ngân hàng, - William nói.

- Vâng, đúng, thưa ông, - Ông ta nói. - Tôi không biết ông, nhưng tôi được biết tiếng của ông, và tôi cũng là một trong những người có may mắn được quen biết người cha đáng kính của ông. Nếu như Charles Lester nghĩ rằng ông là người thích hợp để làm chủ tịch ngân hàng của ông ta, tôi cho rằng như thế là tốt rồi.

William chưa bao giờ cảm thấy nhẹ người như vậy.

- Ông đang ở đâu tại New York? - Peter Parfitt đã hỏi ngay trước khi William nói được câu gì.

- Tôi ở Câu lạc bộ Harvard..

- Tuyệt. Tôi xin hỏi ông tối nay có rảnh dùng bữa với tôi được không) Tôi định tối nay về Boston ngay, - William nói, - Nhưng bây giờ thì có lẽ tôi phải ở lại New York thêm vài ngày nữa.

- Tốt, vậy tôi mời ông đến nhà tôi ăn tối vào tám giờ được không ạ?

ông ta đưa danh thiếp cho William trong đó có địa chỉ in nổi bằng chữ vàng.

- Tôi sẽ có dịp được nói chuyện thân mật với ông trong không khí đó.

Cảm ơn ông, - William đáp và bỏ danh thiếp vào túi áo trong khi một số người khác xúm quanh đến.

Một số người nhìn anh bằng con mắt không thiện cảm, một số khác muốn chúc mừng anh.

Sau khi anh thoát được khỏi đám người này và trở về Câu lạc bộ Harvard, việc đầu tiên là anh phải gọi cho Ka te và báo tin trên cho cô biết.

Cô lặng lẽ trả lời.

- Matthew cũng lấy làm mừng cho anh đấy.

- Anh biết.- Wilham nói.

- Bao giờ anh về nhà?

- Có Trời biết. Tối nay anh đến ăn với ông Peter Parfltt, một phó chủ tịch của lester. Ông ta có vẻ rất quan tâm và thân mật, như vậy cũng dễ chịu. Đêm nay ở lại Câu lạc bộ và trong ngày mai sẽ gọi về cho em xem tình hình ở đây thế nào.

- Được thôi, anh yêu.

- Ở nhà bình thường chứ - Virginia nhổ một cái răng và nó làm nũng lắm, Richard hứa với cô bảo mẫu nên phải đi ngủ sớm. Cả nhà nhớ anh lắm.

William cười.

- Mai anh sẽ gọi về.

- Nhớ gọi nhé. Nhân đây cũng chúc mừng anh. Em rất hoan nghênh Charles Lester đã nhận xét về anh như vậy, mặc dù em sẽ rất ghét là phải ở New York.

Đây là lần đầu tiên William nghĩ đến chuyện ở New York.

Tám giờ tối hôm đó Wilham đến nhà Peter Parfitt ở Đường 64 và anh ngạc nhiên thấy chủ nhà ăn mặc rất trịnh trọng cho bữa tối. William cảm thấy hơi ngượng trong bộ quần áo làm việc bình thường hàng ngày của mình. Anh giải thích ngay cho bà chủ nhà là anh đinh tối hôm đó trở về Boston. Diana Parfitt, hóa ra là người vợ thứ hai của Peter, tiếp khách rất có duyên và tỏ ra vui mừng thấy William sẽ là chủ tịch tương lai của ngân hàng Lester. Trong suốt bữa ăn khá thịnh soạn, William tranh thủ hỏi Peter Parfltt về những người khác trong ban giám đốc ngân hàng Lester phản ứng về Di chúc của ông ta như thế nào.

Mọi người sẽ đều tán thành cả thôi, - Parfitt nói.

- Tôi đã nói chuyện với phần lớn trong số họ rồi. Sáng thứ hai tới sẽ có cuộc họp toàn ban giám đốc để khẳng định việc chỉ định ông làm chủ tịch, tuy nhiên tôi chỉ còn thấy có một điều hơi lấn cấn có thể xẩy ra thôi.

Đó là điều gì - William hỏi, cố tỏ ra không có vẻ lo lắng gì hết.

- Nói riêng để ông biết, người phó chủ tịch kia, Ted Leach, là người đã hy vọng sẽ được chỉ định lên làm chủ tịch kế nhiệm. Tôi có thể nói ông ta đã yên trí như vậy rồi. Tất cả chúng tôi được thông báo là chỉ sau khi công bố di chúc mới được biết ai là chủ tịch, tuy nhiên ý nguyện đó của Charles Lester đối với Ted quả là không thể ngờ được.

ông ta sẽ chống chứ? - William hỏi.

- Có thể như vậy, nhưng ông không có gì đáng phải lo đâu Tôi phải nói ngay rằng tôi chưa bao giờ thấy ưa ông ta được, - Diana Partikt vừa nói vừa nhìn vào đĩa bánh xèo trước mặt.

- Này thôi, em ơi, - Parfitt gạt đi, - Chúng ta không nên nói điều gì sau lưng Ted mà phải để cho ông Kane tự mình xét mới được chứ. Tôi thì tôi chắc chắn rằng trong cuộc họp ban giám đốc vào sáng thứ hai mọi người sẽ chấp thuận việc chỉ định ông Kane nhưng vẫn có khả năng Ted Leach từ chức.

- Tôi không muốn bất cứ ai cảm thấy vì có tôi mà phải từ chức, - William nói.

ông suy nghĩ như vậy là rất đáng quý, - Parfltt nói. - Nhưng ông chả nên bận tâm về chuyện nhỏ ấy.

Tôi tin chắc là toàn bộ vấn đề sẽ đâu ra đó. Ông cứ yên trí quay về Boston ngày mai đi, và tôi sẽ thông tin đều cho ông được biết.

- Có lẽ tôi nên qua ngân hàng vào sáng mai một chút. Không biết các bạn đồng nghiệp của ông có lấy làm lạ nếu tôi không có ý muốn gặp họ không?

- Không nên. Tôi nghĩ trong tình hình này ông chưa nên đến ngân hàng vội. Có lẽ tốt hơn là ông hãy đứng ngoài để chờ cho cuộc họp ban giám đốc vào sáng thứ hai xong đâu đấy đã. Như vậy họ cảm thấy mình độc lập và tự thấy có giá trị đàng hoàng hơn. Õng hãy nên nghe tôi, Bill, và trở về Boston đi. Trước mười hai giờ trưa sáng thứ hai, tôi sẽ gọi báo tin mừng cho ông.

William miễn cưỡng đồng ý với đề nghị của Peter Parfltt và ngồi lại nói chuyện cả tối với hai vợ chồng Parfltt, và nói cả chuyện anh và Ka te có thể ở New York tạm thời trong khi tìm một ngôi nhà nào đó để ở hẳn. William hơi lấy làm lạ thấy Peter Parfitt không có ý muốn bàn gì về chuyện ngân hàng, nhưng anh nghĩ có lẽ vì có mặt Diana Parfltt ở đó. Buổi tối kết thúc vui vẻ với rượu brandy uống hơi quá nhiều, và đến tận một giờ đêm William mới trở về Câu lạc bộ Harvard.

Về đến Boston, William nói lại ngay cho Tony Simmons biết về tất cả những gì đã xảy ra ở New York. Anh không muốn để ông ta biết về chuyện được chỉ định ấy qua bất cứ ai khác. Tony nghe tin đó lại vui mừng một cách không ngờ.

- Tôi rất tiếc là anh lại sẽ phải xa chúng tôi, william. Tất nhiên Lester còn lớn gấp hai ba lần Kane và Cabot, nhưng rất khó có thê kiếm được người nào thay cho anh, vì vậy tôi đề nghị anh cân nhắc rất kỹ trước khi nhận nhiệm vụ.

Wiìliam cũng ngạc nhiên và biểu lộ ra mặt.

- Thật tình, Tony, tôi vẫn cứ tưởng ông sẽ mừng mà thấy tôi không còn ở đây nữa.

- Wilìiam, đến bao giờ thì anh mới tin rằng mối quan tâm đầu tiên của tôi vẫn chỉ là ngân hàng, và trong óc tôi bao giờ cũng vẫn cho anh là một trong những người khôn ngoan nhất về lĩnh vực đầu tư của ngân hàng ở nước Mỹ hiện nay? Nếu bây giờ anh bỏ Kane và Cabot, thì sẽ có rất nhiều khách quan trọng của ngân hàng muốn bỏ đi_theo anh ngay đó.

- Tôi sẽ không bao giờ chuyển quỹ riêng của tôi sang Lester, cũng như không bao giờ mong bất cứ khách hàng nào của ngân hàng này bỏ đi với tôi cả, - William nói.

- Cố nhiên anh không kêu gọi họ bỏ theo anh, William, nhưng một số trong những khách hàng đó vẫn muốn anh tiếp tục quấn lý cho tài khoản của họ.

Cũng giống như bố anh trước đây với Charles Lester, họ hoàn toàn có lý khi tin vào ngân hàng tức là tin vào con người và cái tiếng tốt của họ.

William và Ka te qua một ngày cuối tuần căng thẳng chờ đến thứ hai và kết quả cuộc họp ban giám đốc ở New York. Cả buổi sáng thứ hai, anh ngồi ở phòng làm việc chờ một cách sốt ruột và đích thân trả lời các nơi gọi điện thoại đến nhưng không thấy gì.

Hết sáng lại đến chiều. Anh cũng không dám rời nhiệm sở đi ăn trun nữa. Mãi đến sau năm giờ chiều Peter Parfltt mới gọi về.

Có lẽ có vài điều trục trặc hơi bất ngờ một chút, Bill - Ông ta đã mở đầu thế. William lặng người.

- Nhưng ông khỏi lo, vì tôi vẫn nắm vững tình hình. Có điều ban giám đốc muốn có quyền được cử người ra cùng tranh cử với ông. Một số người còn đưa ra ý kiến hợp pháp để nói rằng điều khoản trong di chúc đó thực sự không có giá trị. Tôi phải lĩnh cái nhiệm vụ không lấy gì làm vui là hỏi xem ông có sẵn sàng ra tranh cử với một người khác trong ban giám đốc không?

- Ai là người trong ban giám đốc ra ứng cử - Wilìiam hỏi.

- Cho đến nay chưa ai nêu tên ra, nhưng tôi đoán họ sẽ chọn lựa Ted Leach. Ngoài ra chẳng có ai tỏ ý muốn ra tranh cử với ông đâu.

- Để tôi suy nghĩ thêm, - Wilham. - Cuộc họp lần sau vào ngày nào?

- Ngày này tuần sau, - Prafitt nói. - Nhưng ông không cần phải đến và bận tâm tới Ted Leach làm gì.

Tôi vẫn tin rằng ông sẽ thắng dễ đàng và trong tuần tôi vẫn sẽ báo tin cho ông biết để tiện theo dõi tình hình.

- Ông cần tôi xuống New York không, Peter Không, lúc này thì chưa. Tôi nghĩ ông xuống cũng chẳng giúp được gì vào đây.

William cảm ơn và bỏ máy xuống. Anh đóng cặp lại và rời phòng làm việc ra về, trong lòng cảm thấy hơi chán nản. Tony Simmons, tay cầm va li bỗng ở đâu ra gặp anh ở chỗ để xe.

- Tôi không biết là ông sắp đi đâu, Tony.

Đây chỉ là bữa tiệc hàng tháng của các nhà ngân hàng ở New York thôi. Chiều mai tôi về ngay rồi. Tôi nghĩ là có thể yên tâm để Kanne và Cabot hai mươi bốn giờ trong tay có tài năng của ông chủ tịch tương lai của Lester được chứ.

William mỉm cười.

- Có thể tôi đã là cựu chủ tịch rồi, - Anh nói và kể lại câu chuyện vừa qua. Một lần nữa, William lại ngạc nhiên với phản ứng của Tony Simmons.

- Đúng là Ted Leach vẫn hy vọng làm chủ tịch kế nhiệm của Lester đấy, - Ông nói. - Điều đó trong giới tài chính ai cũng biết cả. Nhưng ông ấy là một người phục vụ rất trung thành của ngân hàng, và tôi không thể nào tin rằng ông ta sẽ chống lại những nguyện vọng của Charles Lester đâu.

- Tôi không biết là ông có quen ông ta, - Wilham nói.

- Tôi cũng không quen ông ta lắm đâu, - Tony nói.- Ông ta học trước rồi một năm ở Đại học Yale, bây giờ thỉnh thoảng tôi gặp ông ta ở những bữa tiệc của các nhà ngân hàng, và khi nào anh làm chủ tịch thì anh cũng sẽ không tránh khỏi phải dự những bữa ấy đâu.

Tối nay tôi sẽ gặp ông ta ở đó. Nếu anh muốn nhắn gì tôi sẽ nói lại cho.

- Vâng, nhờ ông nói hộ, nhưng ông phải rất cẩn thận nhé, - William nói.

- Anh William thân mến ơi, đã đến cả chục năm nay anh vẫn bảo tôi là người quá cẩn thận, anh quên rồi ư?

- Tôi xin lỗi, Tony. Khi người ta quá lo về chuyện riêng của mình thì thường là đầu óc dở thế đấy. Vậy mà khi là chuyện của người khác thì mình lại cho là sáng suốt chứ. Tôi hoàn toàn tin cậy ở ông, ông bảo gì tôi sẽ làm nấy.

Được thế thì tốt. Cứ để việc đó cho tôi. Tôi sẽ hỏi Leach xem ông ta nói thế nào, và sáng mai sẽ gọi điện về cho anh.

Nhưng chỉ mấy phút sau mười hai giờ đêm Tony đã gọi từ New York về trong lúc William đang ngủ say.

Tôi đánh thức anh dậy phải không, William?

Vâng, ai đấy?

- Tony Simmons.

William bật ngọn đèn ở đầu giường và nhìn đồng hồ báo thức.

- Ông bảo đến sáng mai mới gọi về kia mà.

Tony cười.

- Có lẽ điều tôi nói với anh đây không lấy gì làm vui lắm đâu. Cái người chống anh làm chủ tịch Lester chính là Peter Parfitt.

- Sao? - William bỗng tỉnh hẳn.

- Ông ta đang tìm cách vận động ban giám đốc ủng hộ Ông ta và giấu không cho anh biết. Ted Leach, như tôi dự đoán đúng, lại là người ủng hộ anh làm chủ tịch, nhưng ban giám đốc bây giờ chia đôi làm hai phe rồi.

- Trời ơi. Trước hết cảm ơn ông đã, Tony. Và thứ hai là bây giờ ông bảo tôi nên làm thế nào?

- Nếu anh muốn làm chủ tịch tương lai của Lester, thì tốt hơn hết là anh hãy xuống đây cho nhanh, kẻo mọi người trong ban giám đốc sẽ bảo tại sao anh lại trốn lủi ở Boston.

- Trốn lủi ư - Đó chính là điều mấy ngày hôm nay Parfltt đã nói với các giám đốc khác như vậy đấy.

- Thằng cha thế thì đểu thật?

- Anh đã nói thế thì thôi, tôi không dám nhận là có quen thuộc gì với ông ta nữa đâu nhé, - Tony.

William cười.

- Anh xuống đây và đến Câu lạc bộ Yal

...

Chương 18

Albel đang chú ý xem một mẩu tin nói về ngân hàng Lester, Kane và Công ty trong trang tài chính của tờ Diễn đàn Chicago.

Phần lớn trên trang báo là những bài dự đoán về hậu quả của việc Nhật tiến công vào Trân Châu Cảng Giá như mẩu tin ngắn kia không kèm theo một bức ảnh nhỏ chụp William Kane từ xưa, tức là hồi Abel đến gặp anh ta ở Boston cách đây hơn mười năm, thì có lẽ Abel cũng bỏ qua không để ý đến. Rõ ràng trong tấm ảnh này Kane còn quá trẻ, không tương xứng với nội dung tin mô tả anh ta như một chủ tịch xuất sắc của ngân hàng Lester, Kane và Công ty mới thành lập Trong bài còn dự đoán:

Ngân hàng mới này, sáp nhập Lester ở New York với Kane và Cabot ở Boston là hai ngân hàng đã có lịch sử lâu đời, rất có thể sẽ trở thành một trong những thể chế tài chính quan trọng nhất ở Mỹ. Theo bán báo cáo được biết, chứng khoán sẽ nằm cả trong tay khoảng hai chục người có liên quan hoặc có dính dáng chặt chẽ với hai gia đình nói trên.

Abel lấy làm hài lòng với mẩu tin này. Anh tin chắc là bây giờ Kane không còn kiểm soát được toàn bộ. Anh đọc lại mẩu tin. Vậy là từ hồi hai người so kiếm với nhau đến giờ, William Kane rõ ràng đã leo cao hơn nữa rồi. Nhưng Abel đâu có kém. Và bây giờ anh biết là mình còn món nợ cũ phải thanh toán với con người mới làm chủ tịch ngân hàng Lester này đã.

Trong hơn mười năm qua, Công ty Nam tước đã làm ăn rất khám khá. Abel đã trả xong các khoản tiền vay của người ủng hộ mình trước đây, thực hiện đúng những điều đã ký kết, tức là chỉ trong mười năm trả hết nợ và hoàn toàn làm chủ các tài sản của công ty.

Vào cuối quý của năm 1939, không những Abel đã trả hết nợ mà lợi nhuận của năm 1940 xem ra còn vượt cả mức dự kiến đến hơn nửa triệu đô la. Thành tích này trùng hợp với việc mở thêm hai khách sạn Nam tước, một ở Washington và một ở San Francisco.

Mặc dầu trong thời kỳ này Abel không còn là một anh chồng tận tụy như trước, mà phần lớn là do Zaphia không thích đuổi theo những tham vọng của chồng, nhưng anh vẫn rất nâng niu cô con gái của mình. Zaphia muốn có đứa con thú hai để đỡ cám thấy quá rảnh rỗi, đã giục anh cứ thử đi khám bác sĩ xem sao. Nhưng đến khi Abel được cho biết là tinh trùng của anh quá yếu, có lẽ do ốm đau và ăn uống quá kham khổ từ hồi bị quân Đức và quân Nga chiếm đóng trước kia, anh đành coi chỉ có Florentyna là đứa con duy nhất, từ bỏ hy vọng có thêm con trai và từ nay dành hết mọi thứ cho cô con gái vậy.

Danh tiếng của Abel bây giờ đã lan ra khắp nước Mỹ. Báo chí thường chỉ nhắc đến tên anh như "Nam tước Chicago" thôi. Anh không còn bận tâm đến những lời chế giễu sau lưng. Bây giờ Wladek Koskiewicz đã thành đạt, và điều quan trọng là anh sẽ đứng vững với sự nghiệp ở đây. Lợi nhuận của mười ba khách sạn trong năm tài chính vừa qua đã suýt soát một triệu đô la, nếu cộng với vốn cũ dôi ra nữa là bây giờ anh có thể quyết định về một chính sách bành trướng được rồi.

Bất ngờ, Nhật tiến công Trân Châu Cảng.

Kể từ ngày 1 tháng 9 khủng khiếp của năm 1939 khi quân đội Quốc xã tiến đánh Ba lan rồi sau đó chạm trán với quân Nga ở Brest Litovsk và một lần nữa đất nước của anh lại bị chia cắt, Abel đã gửi rất nhiều tiền cho Hội Chữ thập đỏ Anh để cứu trợ quê hương. Anh đã tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt cả với đảng Dân chủ và với báo chí, để đẩy nước Mỹ lừng khừng phải tham gia vào cuộc chiến, dù cho sau đó họ có đứng về phía quân Nga đi nữa. Nhưng mọi cố gắng của anh cho đến lúc này đều vô hiệu. Rồi vào cái ngày chủ nhật của tháng Chạp ấy, với các trạm đài ở khắp nước đều tường thuật ầm ĩ về cuộc tiến công bất ngờ của Nhật, Abel biết chắc là đến bây giờ thì Mỹ phải nhảy vào cuộc chiến rồi. Ngày 11 tháng Chạp, anh nghe Tổng thống Roosevelt thông báo với quốc dân rằng Đức và Ý đã tuyên chiến với Mỹ. Abel rất muốn vào quân đội đi chiến đấu. Nhưng trước hết anh phải có lời tuyên bố chiến tranh riêng của mình đã, vì vậy anh gọi đến cho Curtis Fenton ở Ngân hàng Continental. Nhiều năm qua, Abel đã dần dần tin ở những điều dự đoán của Fenton, và bây giờ anh vẫn còn giữ ông ta trong ban giám đốc của Công ty Nam tước mặc dầu tự anh đã hoàn toàn kiểm soát được tình hình. Anh làm như vậy đề duy trì mối quan hệ chặt giữa Công ty Nam tước với Ngân hàng Continental mà thôi.

Curtis Fenton ra nghe máy, giọng nói vẫn rất lễ độ.

- Nhờ ông xem giùm tiền dự trữ của công ty ngoài tài khoản là bao nhiêu, - Abel nói.

Curtis Fenton lấy ra một hồ sơ ngoài bìa đề "Tài khoản số 6". Trước nay ông vẫn đề tất cả những gì liên quan đến Rosnovski vào cùng một hồ sơ. Ông liếc nhìn qua vài con số.

Khoảng dưới hai triệu đô- la, - Ông nói.

Tốt, Abel nói. - Tôi muốn ông xem giùm cái ngân hàng mới thành lập có tên là Lester, Kane và Công ty ông tìm giúp tên tuổi từng cổ đông trong đó, xem mỗi cổ đông chiếm tỷ lệ bao nhiêu và xem họ muốn bán những cổ phiếu ấy không. Nhưng ông không được để cho chủ tịch ngân hàng là William Kane được biết chuyện này, và cũng không nhắc gì đến tên tôi cả.

Curtis Fenton nín thở, không nói gì. Ông tỏ ra rất ngạc nhiên. May mà nói chuyện điện thoại nên Abel Rosnovski không thấy được vẻ mặt của ông. Tại sao Abel Rosnovski lại muốn đổ tiền vào đây, và chuyện đó liên quan gì đến William Kane? Fenton cũng đã đọc Nhật báo phố Wall có bài nói về việc sáp nhập hai ngân hàng tư nhân nổi tiếng đó rồi. Ông đang còn lo về chuyện Trân Châu Cảng và việc vợ Ông nhức đầu, giá như Ronovski không gọi điện thoại yêu cầu về chuyện này thì ông đã quên khuấy đi mất, lẽ ra phải có bức điện mừng gửi cho William Kane rồi. Ông lấy bút chỉ ghi vài chữ vào dưới hồ sơ Công ty Nam tước trong khi vẫn nghe Abel dặn.

- Sau khi ông đã có đủ các chi tiết rồi, tôi muốn được ông thông báo lại bằng miệng chứ không nên viết trên giấy.

- Vâng, thưa ông Rosnovski.

Hẳn là giữa hai người này có chuyện gì với nhau rồi, Curtis Fenton nghĩ bụng. Nhưng mình cũng chẳng cần biết làm gì.

Abel nói tiếp :

- Tôi cũng muốn được ông thêm vào báo cáo hàng quý những chi tiết về tất cả những gì ngân hàng Lester công bố, và cả những công ty liên quan đến họ nữa.

Tất nhiên rồi, ông Rosnovski.

- Xin cảm ơn ông, ông Fenton. Nhân đây tôi xin nói để ông biết bộ phận nghiên cứu thị trường của tôi có khuyên tôi nên mở thêm một khách sạn Nam tước ở Montreal.

ông không lo là có chiến tranh sao, ông Rosnovski?

- Trời ơi, việc gì phải lo. Nếu bọn Đức đến được Montreal thì ai cũng phải đóng cửa hết, kể cả ngân hàng Continental của ông. Dù sao, lần trước chúng ta đã đánh bại bọn khốn kiếp ấy rồi, lần này tất nhiên sẽ đánh bại nữa. Chỉ có điều khác là lần này thì tôi có thể tham gia hành động được. Thôi chào ông, ông Fenton.

Mình chẳng hiểu được đầu óc Abel Rosnovski đang nghĩ gì, Curtis Fenton bỏ máy xuống tự hỏi. Ông chợt nghĩ về những yêu cầu của Abel với chi tiết các chứng khoán trong ngân hàng Lester. Điều này khiến ông lo ngại. Mặc dầu William Kane không còn gì liên quan đến Rosnovski nữa, nhưng Fenton vẫn sợ rằng nếu khách hàng của mình nắm giữ được tình hình cổ phiếu của ngân hàng Lester thì không biết rồi sẽ ra sao? ông quyết định không nói cho Rosnovski biết về nỗi lo ngại đó của mình. Ông tính rồi thế nào cũng có ngày một trong hai người đó sẽ giải thích cho ông biết là họ đang tính toán chuyện gì.

Abel cũng nghĩ không biết mình có nên nói cho Curtis Fenton biết tại sao mua chứng khoán của Lester không. Nhưng rồi anh nghĩ càng ít người biết về kế hoạch của mình càng tốt.

Anh tạm gạt bỏ William Kane sang một bên, không nghĩ đến nữa. Anh bảo thư ký đi tìm George, mới đây cũng được cử làm phó chủ tịch công ty Nam tước. Anh ta đã cùng khấm khá lên với Abel và hiện nay là người được Abel tin cậy nhất. Ngồi trong phòng làm việc trên tầng thứ bốn mươi hai của khách sạn Nam tước Chicago, Abel nhìn xuống hồ Michigan, nơi được người ta mệnh danh là Bờ biển Vàng. Lúc này đầu óc anh đang nghĩ về đất nước Ba lan. Anh tự hỏi không biết mình sẽ còn sống được để thấy lại tòa lâu đài nữa không. Abel biết sẽ không bao giờ còn về sống ở Ba lan được nữa, nhưng vẫn muốn tòa lâu đài ấy được trả về cho mình. Cái ý nghĩ về quân Đức hoặc quân Nga lại một lần nữa chiếm đóng quê hương tươi đẹp của mình khiến anh muốn... Đang nghĩ thế thì George bước vào.

- Muốn tìm tôi ư, Abel?

George là người duy nhất trong công ty dám gọi Nam tước Chicago bằng tên tục.

Ừ, Liệu anh có thể quản được tất cả các khách sạn trong ít tháng nếu tôi phải đi vắng xa không - Được chứ, - George nói. - Sao, anh đi nghỉ à?

- Không, - Abel đáp. Ra trận.

- Sao? - George hỏi. - Sao?

- Sáng mai tôi đi New York đăng lính.

- Anh điên à? Có thể chết đấy - Chết sao được, - Abel đáp. - Nhưng mình sẽ phải giết mấy tên Đức. Bọn khốn kiếp ấy trước kia đã không tóm được mình thì lần này cũng chẳng tóm được đâu George vẫn phản đối. Anh ta bảo không có Abel thì nước Mỹ vẫn chiến thắng được. Zaphia cũng phản đối.

Cứ nói đến chiến tranh là chị ta ghét rồi. Florentyna, lúc này đã gần tám tuổi, không hiểu chiến tranh là thế nào, nhưng biết lần này bố đi xa và đi lâu Lên cô bé khóc váng lên.

Mặc dầu nhiều người phản đối, Abel vẫn nhảy lên chuyến máy bay đầu tiên đi New York vào ngày hôm sau. Cả nước Mỹ như đang kéo nhau đi khắp ngả.

Anh đến thành phố chỉ thấy toàn những thanh niên mặc quần áo ka- ki màu xanh nước biển đang từ biệt cha mẹ vợ con và người yêu. Ai cũng nói với nhau - Tuy trong bụng không tin - Rằng chiến tranh chỉ trong mấy tuần nữa là kết thúc.

Abel đến khách sạn Nam tước New York vừa gặp lúc ăn tối. Phòng ăn đầy chặt những thanh niên. Các cô gái bíu chặt lấy những chàng trai, hoặc là lính bộ, lính thủy, hoặc là không quân, trong khi đó vang lên tiếng hát của Frank Sinatra và kèn trống của dàn nhạc Tommy Dorsey. Abel nhìn những người trẻ tuổi trên sàn nhẩy ấy, trong bụng nghĩ không biết trong số họ sẽ còn bao nhiêu người được dịp hưởng một tối vui như thế này nữa. Anh không thể không nhớ đến lời giải thích của Sammy trước đây khi ông ta trở thành người phụ trách nhà ăn ở khách sạn Plaza như thế nào. Ba người đi trước ông ta từ mặt trận phía Tây trở về mỗi người chỉ còn một chân. Trong lớp người trẻ tuổi đang nhảy ở đây, không ai hiểu được chiến tranh thực sự là thế nào. Anh không thể nào cùng chia vui với họ được. Anh trở về phòng.

Sáng hôm sau anh mặc vào người một bộ đồ sẫm và đi xuống phòng tuyển quân ở Quảng trường Thời đại Anh đã phải xuống New York đê đăng linh vì sợ Ở Chicago sẽ có người nhận ra anh mà không cho. Ở đây còn đông người hơn cả ở sàn nhảy đêm trước, nhưng không có ai bíu lấy ai cả. Anh không thể không nhận thấy mọi người khác đều có vẻ khỏe mạnh hơn anh nhiều. Gần hết buổi sáng Abel mới được đưa cho một tờ khai. Anh nghĩ bụng việc này nếu là ở chỗ mình thì chỉ mất mấy phút. Rồi sau đó anh lại phải xếp hàng hơn hai tiếng đồng hồ nữa, chờ đến lượt một viên thượng sĩ hỏi anh làm nghề gì:

- Quản lý khách sạn, - Abel nói, rồi liền đó kể cho ông ta nghe kinh nghiệm anh đã trải qua trong cuộc chiến tranh lần trước. Viên thượng sĩ yên lặng nghe một anh chàng vừa béo vừa lùn đứng trước mặt mình nói những điều ông ta không tin được. Giá như Abel xưng mình là Nam tước Chicago thì có thể ông kia không nghi ngờ gì lắm về chuyện tù tội và bỏ trốn của anh.

Nhưng Abel lại không nói gì về điều đó, vì anh không muốn được ưu đãi gì hết.

Sáng mai anh sẽ kiểm tra sức khỏe, - Viên thượng sĩ tuyển quân chỉ nói thế sau khi Abel độc thoại một hồi. Rồi, như để nói thêm cho 'đủ phận sự, ông ta bảo:

Cảm ơn anh đã tình nguyện.

Hôm sau Abel lại phải chờ mấy tiếng đồng hồ nữa mới được khám sức khỏe. Bác sĩ nói thẳng là tình hình của Abel không ra gì. Từ nhiều năm nay, do địa vị và thành công của anh, không ai dám bình luận gì về con người của anh cả. Bây giờ bỗng bác sĩ liệt anh vào loại 4, tức là loại bị loại, khiến anh sửng sốt.

- Anh quá cân, mắt kém và lại thọt Nói thật nhé, Rosnovski, anh không thể vào quân đội được. Chúng tôi không thể lấy những người lính mà chưa trông thấy địch đã có thể bị đau tim rồi. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng- Tôi không thể dùng đến những năng lực của anh, nếu anh quan tâm thì có rất nhiều những việc liên quan đến giấy tờ để làm trong chiến tranh đấy.

Abel chỉ muốn đấm cho ông ta một cái, nhưng anh biết làm thế cũng chả được vào lính.

- Không cảm ơn ông, - Anh nói. - Tôi muốn chiến đấu chống bọn Đức chứ không phải là viết thư cho chúng.

Anh thất vọng quay trở về khách sạn, nhưng rồi đến tối anh lại nghĩ mình vẫn còn có cơ hội. Hôm sau, anh đến một trạm tuyển quân khác, nhưng kết quả vẫn như trước và lại quay về khách sạn. Ông bác sĩ khác có lễ độ hơn một chút, nhưng ông ta vẫn kiên quyết như bác sĩ trước vậy, và Abel lại bị liệt xuống loại 4. Abel thấy rõ nếu cứ trong tình trạng sức khỏe như hiện nay thì người ta chẳng cho anh đi chiến đấu chống bất cứ ai.

Sáng hôm sau, anh tìm đến một nhà thể dục ở phía Tây đường 57, thuê một huấn luyện viên làm như thế nào đó để thay đổi được tình trạng sức khỏe của anh.

Ba tháng liền, anh tập luyện đủ các môn, đánh bốc, đánh vật, chạy, nhảy, cử tạ, và cả nhịn đói nữa. Đến một lúc, huấn luyện viên bảo anh là không thể nào khỏe hơn và gầy hơn thế được nữa. Abel trở lại phòng tuyển quân làm lại bản khai dưới cái tên Wladek Koskiewicz. Lần này là một viên thượng sĩ khác có vẻ hy vọng hơn, còn bác sĩ khám thì thử đi thử lại nhiều lần, cuối cùng cho anh vào danh sách dự bị, chờ khi nào cần sẽ gọi.

- Nhưng tôi muốn ra trận ngay bây giờ, - Abel nói.- Tôi muốn diệt cái bọn khốn kiếp ấy.

- Chúng tôi sẽ liên hệ với anh, Koskiewicz, - Viên thượng sĩ nói. - Anh hãy giữ sức khỏe cho đầy đủ, sẵn sàng. Chưa thể biết lúc nào chúng tôi sẽ cần đến anh.

Abel bực mình bỏ ra ngoài. Anh nhìn nhiều người Mỹ khác trẻ hơn, gầy hơn, đang được nhận vào lính ngay. Anh đang bước qua cửa chưa biết sẽ làm gì tiếp thì đụng ngay phải một người cao lớn dữ tợn mặc quân phục và trên vai có nhiều sao.

- Tôi xin lỗi, Abel nhìn lên nói và lùi lại.

- Này anh, - Ông tướng nói.

Abel vẫn cứ đi, nghĩ bụng không phải ông ta nói với mình, vả lại chả có ai còn gọi mình như thế nữa, mặc dầu đến bây giờ anh cũng chỉ mới ba mươi lăm tuổi ông tướng kia lại gọi.

Này anh, - Ông ta nói to hơn Lần này Abel quay lại.

- Tôi à? - Anh hỏi.

- Phải, anh.

Abel bước đến chỗ ông tướng.

- Xin mời ông đến chỗ tôi, ông Rosnovski.

Chết cha, Abel nghĩ bụng. Ông ta biết mình là ai rồi, thế là bây giờ không ai cho mình ra trận nữa.

Phòng làm việc tạm thời của ông tướng đó ở ngay sau ngôi nhà. Đó chỉ là một căn phòng nhỏ có chiếc bàn với hai ghế gỗ, tường sơn xanh đã tróc đi một ít và cửa luôn luôn để mở. Đến một nhân viên xoàng nhất của khách sạn Nam tước anh cũng không để cho phải ngồi làm việc trong một căn phòng như thế này được.

- Ông Rosnovski, - Ông tướng nói bằng một giọng sang sảng, - Tôi là Mark Clark, chỉ huy quân đoàn 5 của Mỹ. Tôi ở đảo Govemon vừa về đây một ngày để kiểm tra tình hình, bỗng thế nào lại gặp ông ở đây, thật là thú vị. Từ lâu tôi vẫn khâm phục ông lắm.

Chuyện của ông làm bất cứ người Mỹ nào cũng phải lấy làm hài lòng. Xin cho biết, ông ở trạm tuyển quân này làm gì thế?

Thế ông tưởng tôi làm gì? - Abel nói. - Tôi xin lỗi, tôi thật là vô lễ, nhưng không có ai nhận cho tôi tham gia làm gì trong cuộc chiến tranh khốn kiếp này cả.

- Thế ông muốn làm gì trong cuộc chiến tranh khốn kiếp này? - Viên tướng hỏi.

- Vào quân đội và đi đánh bọn Đức.

- Làm lính bộ binh ư? - Viên tướng không tin hỏi lại - Vâng, - Abel đáp. - Ông chả cần đến từng người một đó sao?

- Tất nhiên rồi, - Viên tướng nói. - Nhưng tôi có thể dùng tài năng đặc biệt của ông vào những việc tốt hơn là lính bộ binh nhiều chứ.

- Tôi sẽ làm bất cứ gì, - Abel nói. - Bất cứ gì.

ông có làm ngay bây giờ được không? - Viên tướng nói. - Và bất cứ gì chứ Nếu như tôi yêu cầu ông nhường khách sạn ở New York cho quân đội dùng làm sở chỉ huy ở đây, thì ông nghĩ sao? Vì, nói thật với ông, ông Rosnovski ạ, như vậy còn có ích cho chúng tôi nhiều hơn là đích thân ông giết được hơn chục thằng Đức.

- Cho ông toàn quyền dùng khách sạn Nam tước, - Abel nói. - Vậy bây giờ ông có cho tôi ra trận không ?

- Thế là ông điên đấy, ông biết không? - Tướng Clark nói.

- Tôi là người Ba lan, - Abel nói, và hai người cùng cười Abel nói tiếp bằng một giọng nghiêm túc. - Ông nên biết tôi sinh ra gần Slonim, ở Ba lan. Tôi đã chứng kiến bọn Đức đến chiếm nhà tôi, bọn Nga hiếp chị tôi. Sau đó tôi trốn khỏi được trại khổ sai của Nga và may mắn mà chạy sang được đến Mỹ. Tôi có điên đâu Đây là đất nước duy nhất trên thế giới anh có thể đến mà trong tay không có gì và trở thành triệu phú nếu chịu làm việc vất vả, không kể quá khứ của anh là thế nào. Bây giờ bọn khốn kiếp ấy lại muốn một cuộc chiến tranh nữa. Tôi đâu có điên, hả ông. Tôi rất con người đấy chứ.

- Thôi được, nếu ông rất muốn vào quân đội, ông Rosnovski, thì tới có thể sử dụng ông được, nhưng không phải theo cách như ông nghĩ. Tướng Demers đang cần có người đứng phụ trách hậu cần cho quân đoàn 5 trong khi họ chiến đấu ngoài tiền tuyến. Nếu ông tin rằng điều Napoleon nói là đúng khi ông ta bảo quân đội hành quân bằng cái dạ dày của mình, thì ông có thể đóng một vai trò quyết định đấy. Công việc này cần một người ở cấp thiếu tá. Đó là một cách ông có thể giúp nước Mỹ thắng cuộc chiến tranh này được.

ông thấy sao nào?

- Tôi sẽ làm việc đó, thưa ông..

- Cảm ơn ông Rosnovski.

Viên tướng bấm một nút chuông trên bàn. Một viên trung uý trẻ bước vào đứng nghiêm chào.

- Trung uý, anh đưa Thiếu tá Rosnovski đến phòng nhân sự rồi lại đưa ông trở lại đây nhé.

- Thưa vâng. - Viên trung úy quay sang Abel. - Xin mời Thiếu tá đi lối này.

Abel bước theo anh ta và quay lại nói:

Cảm ơn Ngài.

Cuối tuần, Abel về Chicago với Zaphia và Florentyna.

Zaphia hỏi anh bây giờ chị biết làm thế nào với mười lăm bộ quần áo của anh đây.

Thì cứ để đấy, - Anh đáp và không hiểu tại sao chị lại hỏi thế. - Anh có ra trận để chết đâu.

- Chắc là anh không chết rồi, Abel, - Chị nói. - Em không lo điều đó. Chỉ có cái là tất cả những quần áo đó bây giờ đều quá rộng đối với anh rồi.

Abel cười và đem tất cả những quần áo ấy đến cho trung tâm tị nạn người Ba lan. Rồi anh quay lại New York, đến khách sạn Nam tước, hủy bỏ danh sách những khách đặt phòng, và mười hai ngày sau giao lại tòa nhà cho Quân đoàn 5. Báo chí ca tụng quyết định của Abel như một cử chỉ quên mình của một người đã từng là dân tị nạn trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Lại mất ba tháng nữa Abel mới được gọi ra làm việc thường trực. Trước đó anh giúp cho Tướng Clark điều khiển các hoạt động trong khách sạn Nam tước New York. Rồi anh đến doanh trại Benning trình diện và học một lớp huấn luyện sĩ quan. Cuối cùng khi nhận được lệnh đến với Tướng Denness của Quân đoàn 5, anh mới biết là mình phải sang Bắc Phi. Anh nghĩ bụng không biết bao giờ mới sang đến Đức.

Trước ngày lên đường ra nước ngoài, anh thảo một chúc thư dặn lại những người thừa hành nhường toàn bộ Công ty Nam tước cho David Maxton với giá rẻ nếu anh bị chết trong chiến tranh, tài sản còn lại chia cho Zaphia và Florentyna. Đây là lần đầu tiên từ gần hai mươi năm nay anh nghĩ đến cái chết, mặc dầu anh nghĩ là nếu mình cứ ở hậu cần trung đoàn thì làm sao chết được.

Trong khi con tàu chở quân rời cảng New York, Abel ngắm nhìn bức tượng Thần Tự Do. Anh rất nhớ cái cảm giác của mình lần đầu trông thấy pho tượng ấy gần hai mươi năm trước đây. Tàu đi qua tượng đài rồi, anh không quay lại nhìn nữa mà nói to lên một mình:

Sẽ gặp lại cô nàng Pháp nhé, sau khi Mỹ đã thắng cuộc chiến tranh này rồi.

Tàu qua Đại Tây Dương. Abel đem theo mình hai người bếp trưởng với năm nhân viên khác cũng đã vào quân đội lượt này. Tàu dừng lại ở Algiers ngày 1 tháng 2 năm 1943. Abel phải sống gần một năm trong nắng nóng và cát bụi cua sa mạc, đảm bảo cho mọi người trong sư đoàn được ăn uống tử tế.

- Chúng ta ăn xoàng thôi, nhưng còn hơn bất cứ ai khác, - Tướng Clark bình thản.

Abel giành một khách sạn duy nhất tốt ở Algiers và biến nó thành sở chỉ huy của tướng Clark. Mặc dầu Abel có thể thấy mình đang đóng một vai trò đáng kể trong chiến tranh, nhưng anh vẫn cứ ngứa ngáy muốn đi chiến đấu thực sự. Tuy nhiên, một thiếu tá phụ trách hậu cần thì chẳng bao giờ người ta cho ra trận, mà chỉ có nhiệm vụ nuôi quân thôi.

Anh viết thư về cho Zaphia và George. Xem ảnh, thấy con gái yêu quý Florentyna của anh đã lớn lên nhiều. Anh còn nhận được cả thư của Curtis Fenton thỉnh thoảng gửi đến báo cho biết Công ty Nam tước ngày càng kiếm được lãi to, và tất cả các khách sạn ở Mỹ đều luôn luôn đầy chặt vì quân đội và thường dân đi lại rất nhiều. Abel rất tiếc không có mặt ở nhà để khánh thành khách sạn mới ở Montreal, chỉ có George đại diện cho anh thôi. Đây cũng là lần đầu tiên anh vắng mặt ở một cuộc khánh thành khách sạn Nam tước nhưng George viết thư đảm bảo với anh là khách sạn mới này sẽ rất thành công. Abel nghĩ bụng như vậy là mình đã xây dựng được khá nhiều ở Mỹ.

Anh rất muốn trở về với vùng đất mà bây giờ anh đã coi như quê hương của mình rồi.

Chẳng mấy chốc anh đã thấy chán với cảnh sống ở châu Phi. Ngoài sa mạc phía Tây thỉnh thoảng có vài trận đánh nhau lẻ tẻ gì đó. Anh chỉ nghe ngươi ta về thuật lại chứ chưa tận mắt trông thấy đánh nhau bao giờ Đôi khi đưa lương thực ra tiền tuyến anh cũng có nghe thấy tiếng súng, nhưng điều đó chỉ càng làm anh tức giận thêm. Một hôm anh rất vui mừng được tin Quân đoàn 5 của Tướng Clark sẽ sang đóng ở miền Nam châu âu. Abel hy vọng đây là cơ hội sẽ được thấy lại Ba lan.

Vì quân đoàn 5 là của Mỹ nên đổ bộ vào vùng bờ biển nước Ý bằng xe lội nước. Không quân yểm hộ chiến thuật. Việc đổ bộ quân gặp phải sự chống cự khá mạnh, trước hết là ở Anzio rồi sau đó ở Monte Cassino. Tuy nhiên, chẳng có cuộc nào Abel được tham gia cả. Anh bắt đầu lo ngại rằng có thể chiến tranh chấm dứt mà mình không được đánh đấm gì hết. Anh cũng không làm cách nào để mình có thể trực tiếp chiến đấu được. Anh được phong trung tá và phái sang Lon don để chờ lệnh mới, thế là anh không còn cơ hội nào khác ra trận nữa.

Đến ngày N, cuộc đại tiến công vào châu âu bắt đầu Quân đồng minh tiến vào Pháp và giải phóng Paris ngày 25 tháng 8 năm 1944. Abel cùng đi diễn binh với lính Mỹ và lính Pháp tự do dọc Đại lộ Elysée ở phía sau tướng De Gau le được chào mừng như một anh hùng, anh để ý nhìn thành phố rất tráng lệ và xem đâu là chỗ anh có thể xây khách sạn Nam tước đầu tiên của mình trên đất Pháp được.

Quân đồng minh tiếp tục tiến qua miền Bắc nước Pháp, qua biên giới Đức và cuối cùng tiến quân về phía Berlin. Abel được điều lên quân đoàn Một dưới quyền chỉ huy của Tướng omar Bradley. Lương thực chủ yếu đem từ Anh sang. Nguồn tiếp tế địa phương hầu như không có, vì quân đồng minh hễ vào được thành phố hay thị trấn nào thì nơi đó đều đã bị quân Đức phá hết khi họ rút lui. Khi Abel đến một thành phố mới. Anh chỉ mất vài tiếng đồng hồ là có thể thu được toàn bộ lương thực còn lại cho quân của mình, trong khi các sĩ quan hậu cần khác còn tìm chưa ra.

Các sĩ quan Anh Mỹ rất sung sướng được cùng ăn với Sư đoàn thiết giáp số 9 và họ không hiểu Sư đoàn này kiếm đâu ra ? S Patton cùng đến ăn với tướng Bradley, Abel được dẫn ra giới thiệu với tướng Patton nổi tiếng, vì ông này bao giờ ra trận cũng vung tay trong khẩu súng có cán bằng ngà.

- Đây là bữa ăn ngon nhất của tôi trong suốt cuộc chiến tranh khốn kiếp này, - Patton nói.

Đến tháng hai năm 1945, Abel đã mặc quân phục được gần ba năm, và anh biết là chiến tranh sẽ chỉ trong mấy tháng nữa là kết thúc. Tướng Bradley vẫn gửi thư khen và cho anh những huân chương rất vô nghĩa để anh đeo lên ngực bộ áo mỗi ngày một rộng thùng thình. Nhưng anh chả yên tâm tí nào. Abel vẫn cứ xin tướng Bradley cho anh được tham gia chỉ một trận đánh thôi, nhưng ông không nghe.

Mặc dầu việc chở những xe lương thực ra tiền tuyến và kiểm tra việc phân phối cho quân lính là nhiệm vụ của sĩ quan dưới quyền, nhưng Abel thường tự mình lĩnh trách nhiệm ấy. Giống như việc quản lý các khách sạn, anh không bao giờ cho nhân viên dưới quyền mình biết trước sẽ làm gì và ở đâu.

Vào một ngày tháng ba, chính là do thấy có nhiều cáng phủ chăn ùn ùn khiêng về trại nên Abel muốn tự mình ra mặt trận xem thế nào. Đến một lúc không thể chịu được cái cảnh chỉ thấy có xác người chở về thôi, Abel bèn tập hợp người của mình và đích thân tổ chức một chuyến mười bốn xe lương thực ra trận.

Anh đem theo một trung uý, một thượng sĩ, hai hạ sĩ và hai mươi tám lính.

Sáng hôm đó, chuyến đi ra mặt trận mặc dầu chỉ có hai chục dặm thôi nhưng đi rất ì ạch. Abel cầm lái chiếc xe đầu - Anh có cảm tưởng như mình cũng hơi giống tướng Patton - Qua mưa to và đường rất lầy lội.

Nhiều lần anh phải cho xe tránh sang bên đường để xe cứu thương ở mặt trận về được nhanh.

Thương binh còn quan trọng hơn bụng đói. Những đám người được chở về ấy không chỉ là bị thương mà thôi, họ gần như không còn dấu hiệu gì là sống nữa.

Mỗi dặm đường bùn lầy đến gần mặt trận, Abel lại cảm thấy rõ hơn là đang có đánh nhau ác liệt ở Renmagen. Tim anh đập rộn lên, và biết là lần này anh được dính đến chiến tranh thật rồi.

Đến sở chỉ huy tiền phương, anh đã có thể nghe thấy tiếng súng của địch ở cách đó không xa. Anh dậm chân tức giận khi nhìn thấy những chiếc cáng lại tiếp tục khiêng những bạn chết và bị thương không biết từ đâu về. Abel đã chán với việc mình chẳng hiểu biết gì về chiến tranh thật sự, và chỉ khi nó đã kết thúc và đi vào lịch sử rồi mới biết. Anh nghĩ có lẽ bất cứ độc giả nào của Thời báo New York cũng đều có thể biết hơn anh về điều đó.

Abel đưa đoàn xe của mình đến một chỗ gọi là bếp dã chiến rồi dừng xe lại. Mưa vẫn nặng hạt. Anh trú mưa ở đây mà thấy xấu hổ vì cách đây chỉ vài dặm các bạn đồng ngũ không chỉ trú mưa mà còn trú bom đạn nữa kia. Anh cho gỡ một trăm thùng súp, một tấn thịt bò ướp muối, hai trăm con gà, nửa tấn bơ, ba tấn khoai và một trăm hộp đậu mỗi hộp mười cân, ngoài ra còn những suất đặc biệt cho những ai sắp ra trận hoặc ở mặt trận về. Bước vào lều làm nhà ăn, Abel chỉ thấy toàn những bàn ghế dài trống không. Anh để hai bếp trưởng ở lại chuẩn bị bữa ăn và đám lính ngồi gọt một ngàn củ khoai, còn anh đi tìm sĩ quan chỉ huy ở đây Abel đi thẳng đến lều của tướng John Leonard xem tình hình thế nào. Trên đường anh vẫn gặp những chiếc cáng khiêng lính chết và gần chết. Nếu là bình thường trông thấy những cảnh ấy không ai chịu nổi, nhưng đây là Remagen nên người bị thương là chuyện quá phổ biến. Abel vừa sắp bước vào trong lều tướng Leonard cùng người trợ lý của ông ta cũng ở trong đó ra. Ông ta vừa đi vừa nói với Abel.

Tôi làm gì được cho ông đây, Trung tá?

- Tôi đã bắt đầu chuẩn bị lương thực cho tiểu đoàn của ngài theo yêu cầu của lệnh đã phát trong đêm. Và bây giờ...

- Bây giờ ông không phải lo chuyện lương thực nữa, Trung tá. Sáng sớm nay Trung uý Bụrrows của Sư đoàn 9 phát hiện ra một chiếc cầu có đường sắt ở phía lắc Remagen chưa bị phá hoại, đó là cầu Ludendorff, tôi đã ra lệnh phải vượt qua chiếc cầu đó ngay và phải tìm mọi cách thiết lập được đầu cầu ở bên kia bờ sông. Cho đến nay, bọn Đức đã phá được mọi chiếc cầu qua sông Rhine trước khi chúng ta đến. Vì vậy không thể ngồi đó chờ ăn trưa để chúng. phá nốt chiếc cầu nàỵ.

- Đoàn 9 đã qua cầu được chưa ạ? - Abel hỏi.

- Qua rồi chứ, - Viên tướng đáp, - Nhưng sang đến bìa rừng bên kia thì họ gặp sức chống cự ghê gớm.

Những trung đội đầu tiên bị phục kích. Chỉ có Chúa mới biết chúng ta đã mất bao nhiêu người. Bây giờ thì ông hãy cất số lượng thực ấy đi, ông Trung tá, vì tôi chỉ quan tâm đến chuyện còn bao nhiêu người sống sót trở về thôi.

- Tôi có thể làm gì giúp vào đây được không - Abel hỏi.

Viên tư lệnh đứng lại rồi nhìn anh trung tá béo lùn một lát.

- Ông có bao nhiêu người trong tay lúc này?

- Một trung uý, một thượng sĩ, hai hạ sĩ quan, hai mươi tám lính.

Tất cả ba mươi ba người, kể cả tôi, thưa ngài.

- Tốt. Đi báo cho bệnh viện dã chiến rồi dùng người của ông mang về được bao nhiêu người bị chết với bị thương thì tuỳ.

- Tuân lệnh, - Abel nói rồi chạy một mạch về bếp dã chiến.

Phần lớn những người của anh còn đang ngồi trong góc lều hút thuốc. Không ai để ý thấy Abel bước vào trong lều.

Đứng dậy đi, đồ lười ở đâu. Chúng ta có việc khác để làm đây.

Cả ba mươi hai người vùng dậy đứng nghiêm.

Theo tôi? - Abel quát. - Mau lên?

Anh quay ngoắt người và lại chạy, lần này chạy về hướng bệnh viện dã chiến. Một bác sĩ trẻ đang nói với mười sáu người trong đội y tế. Abel và những người của anh thở hồng hộc chạy đến trước cửa lều.

- Tôi giúp gì được ông đây? - Bác sĩ hỏi.

- Không, chúng tôi hy vọng giúp ông được, - Abel đáp - Tôi có ở đây ba mươi hai người do Tướng Leonard ra lệnh đến đây giúp ông. - Đám người theo anh bây giờ mới nghe nói thế.

Bác sĩ nhìn Trung tá kinh ngạc.

- Vâng thưa ông.

- Đừng thưa ông với tôi, - Abel nói. - Chúng tôi đến đây xem có thể giúp ông được gì không.

Vâng, thưa ông, - Bác sĩ lại nói.

Bác sĩ đưa cho anh một hộp băng có dấu Chữ thập đỏ Mấy anh bếp trưởng và đám gọt khoai lúc này cầm lấy băng đeo lên tay mình trong khi tai nghe bác sĩ dặn dò. Bác sĩ cũng nói chi tiết trận chiến vừa rồi ở trong rừng bên kia cầu Ludendorff.

Đoàn 9 bị thương vong rất nặng, - Bác sĩ nói tiếp.

- Những người có chuyên môn về y tế này sẽ ở lại trong khu vực tác chiến, còn những người của ông cố gắng đưa về đây được càng nhiều người bị thương càng tốt.

Abel lấy làm mừng bây giờ được hoạt động rồi. Bác sĩ lúc này chỉ huy cả một đội bốn mươi chín người, đưa ra mười tám chiếc cáng và mỗi người được nhận một túi cứu thương. Ông ta dẫn đoàn người ô hợp đi về phía cầu Ludendorff. Abel đi theo sau ông ta chỉ cách một thước. Đi trong mưa và qua đám bùn lầy, họ lên tiếng hát, nhưng gần đến cầu họ không hát nữa.

Trước mắt họ có những chiếc cáng có người nằm trên nhưng đều là bất động. Họ lặng lẽ men theo đường tàu đi qua bên kia cầu. Bọn Đức có dùng chất nổ nhưng không phá được trụ cầu. Gần về phía rừng có tiếng súng. Abel thấy xúc động vì đã gần địch nhưng anh lại lo sợ không biết quân địch có thể làm gì đối với các bạn đồng ngũ của mình. Từ các phía vang lên những tiếng kêu đau của các bạn anh, những người bạn cho đến hôm nay vẫn còn tin là chiến tranh đã sắp kết thúc....

Anh thấy bác sĩ thỉnh thoảng dừng lại xem những người bị thương. Đôi khi, nếu thấy không còn tí hy vọng nào cứu được một người bị thương nữa, bác sĩ giúp cho họ chết được nhanh hơn. Abel đi từ người này đến người khác giúp một tay cho những người khiêng cáng đưa thương binh về phía cầu Ludendorff.

Tới lúc đến được bìa rừng thì chỉ còn có bác sĩ, một người gọt khoai lúc trước và Abel. Mọi người khác đã khiêng người chết và người bị thương về bệnh viện.

Ba người chạy vụt vào trong rừng. Họ nghe tiếng súng địch nổ rất gần. Abel trông thấy rõ một khẩu pháo dưới lùm cây chĩa nòng về phía cầu, nhưng bây giờ đã hỏng không còn dùng được nữa. Rồi anh nghe thấy một loạt đạn nổ rất to và biết quân địch ở phía trước chỉ cách mình có vài trăm thước. Abel vội quỳ một đầu gối xuống, lắng nghe kỹ. Bỗng một đám lửa bắn tóe lên trước mặt. Abel nhảy chồm lên và chạy về phía trước, bác sĩ và anh gọt khoai buột phải chạy theo sau. Họ chạy tiếp vài trăm thước nữa rồi đến một bụi cây rậm rạp trong đó nằm rải rác những xác lính Mỹ. Abel và ông bác sĩ xem từng xác một.

- Chúng nó tàn sát thế này đây, - Abel tức giận hét lên. Anh nghe tiếng súng xa dần. Bác sĩ không nói gì, ba năm trước đây ông ta đã kêu hét nhiều rồi.

Đừng lo đến người chết nữa, - Bác sĩ nói. - Xem có tìm được ai còn sống không.

- Ở đây này, Abel kêu lên rồi quỳ xuống bên cạnh một thượng sĩ nằm trong đống bùn. Hai mắt người đó trợn trừng chỉ còn lòng trắng:

Abel đặt hai miếng gạc lên tròng mắt anh ta và chờ.

- Anh ta chết rồi, Trung tá, - Bác sĩ nói và cũng không nhìn lại nữa. Abel lại đến xác sau, rồi xác sau nữa, nhưng cái nào cũng vậy. Chỉ đến lúc trông thấy một cái đầu đã bị chặt đứt khỏi thân người và đặt đúng giữa đống bùn Abel mới sững người lại. Anh cứ nhìn mãi vào đó, tưởng như cái tượng của một ông thần La Mã nào. Abel bỗng đọc lên một loạt những lời xưa kia được Nam tước dạy cho:

Máu, tàn phá và những điều khủng khiếp trở thành quen thuộc đến nỗi các bà mẹ chỉ còn biết cười mà ôm trong tay mình những đứa trẻ do chiến tranh vứt lại. Anh điên tiết, quát lên:

- Không có gì thay đổi được sao?

- Chỉ có chiến trường thôi, - Bác sĩ nói.

Khi Abel đã xem được ba chục người - Hay bốn chục, anh cũng không biết nữa - Anh quay lại chỗ bác sĩ lúc này đang tìm cách cứu sống một viên đại uý đầu quấn đầy băng thấm máu chỉ còn chừa lại một mắt nhắm nghiền và cái miệng. Abel đứng sau bác sĩ nhìn vào viên đại uý một cách tuyệt vọng, anh để ý nhìn thấy cầu vai của anh ta có quân hiệu - Đoàn thiết giáp số 9 - Và chợt nhớ lại câu nói của Tướng Leonard lúc trước:

Có Chúa mới biết được chúng ta mất bao nhiêu người.

Bọn Đức hèn mạt, - Abel thốt lên.

- Đúng đấy, - Bác sĩ nói.

- Anh ta chết chưa? - Abel hỏi.

- Rất có thể, - Bác sĩ đáp lại như cái máy. - Anh ta mất nhiều máu quá. Vấn đề chỉ còn là thời gian thôi.

- Bác sĩ ngửng lên. - Ở đây không còn gì cho ông làm nữa đâu, Trung tá. Sao ông không cố đem được người này về bệnh viện dã chiến. May ra anh ta có thể sống được Và nhờ ông nói với tư lệnh là tôi còn đi lên phía trên nữa, và tôi cần bất cứ người nào ông có thể cho được Đồng ý, - Abel đáp. Rồi anh cùng bác sĩ nhẹ tay đỡ viên đại uý nằm lên cáng. Abel với anh linh gọt khoai từ từ khiêng cáng về trại. Bác sĩ đã dặn anh trước là phải rất cẩn thận vì bất cứ một động tác bất ngờ nào đụng đến cáng sẽ chỉ làm cho người đó mất thêm máu. Trong suốt chặng đường dài hai dặm về đến bệnh viện, Abel không cho anh gọt khoai được nghỉ một tí nào. Anh muốn cho viên đại uý này có cơ hội sống được. Rồi sau đó anh sẽ trở lại khu rừng với bác sĩ.

Trong hơn một giờ họ bì bõm trong bùn và trong mưa. Abel cảm thấy viên đại uý chắc là chết rồi. Cuối cùng, về được đến bệnh viện thì hai người mệt lử và giao chiếc cáng lại cho một tổ y tế.

Lúc người ta đưa lên xe đẩy đi, viên đại uý mở một bên mắt không bị băng nhìn xoáy vào Abel. Anh ta tính giơ cánh tay lên. Abel chào, thấy anh ta mở mắt và định giơ tay mà mừng quá. Anh cầu nguyện cho người đó sống được.

Anh chạy ra ngoài bệnh viện, định trở lại rừng với tốp người của mình thì một sĩ quan trực đến giữ anh lại - Trung tá, - Anh ta nói, - Tôi đi tìm ông khắp nơi. Hiện có ba trăm người đang cần ăn. Trời ơi, ông đi đâu thế Đi làm một việc khác có ý nghĩa vậy thôi.

Abel từ từ quay trở về nơi có bếp dã chiến và suy nghĩ về viên đại uý trẻ vừa rồi.

Đối với cả hai người, chiến tranh thế là đã kết thúc.

 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top