Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 444 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

 

 
Chương 09
 
 
Wladek nghe lời bà, trong bụng thầm mong ông chồng bà sẽ cho phép anh được ở lại đây. Anh chậm chạp cởi quần áo và trèo lên giường. Người anh đã sạch sẽ lắm rồi, khăn trải giường cũng rất sạch, đệm rất mềm. Anh bỏ chiếc gối lên sàn nhà. Tất cả những tiện nghi đó đều rất mới lạ nhưng anh đã quá mệt rồi nên nằm ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết. Mấy tiếng đồng hồ sau, anh bỗng tỉnh dậy vì nghe có tiếng nói to ở trong bếp. Anh không biết là mình đã ngủ được bao lâu. Bên ngoài trời đã tối. Anh bò ra khỏi giường bước đến mở hé cửa và nghe rõ hai người đang nói chuyện trong bếp.

- Bà thật ngốc, - Wladek nghe một giọng hơi gắt. - Bà không hiểu là nếu họ bắt được thì sẽ rắc rối như thế nào ư Có thể là bà bị người ta tống vào trại giam đấy - Nhưng, Poityr, ông không biết là nó như một con thú bị săn đuổi ấy.

- Thế là bà muốn bản thân chúng ta sẽ như những con thú bị săn đuổi chứ gì, - Người đàn ông nói. - Có ai trông thấy nó không?

- Không, không có ai đâu, - Người đàn bà nói.

- Thế thì cảm ơn Chúa. Phải cho nó đi ngay trước khi có ai biết là nó ở đây. Chỉ còn cách đó thôi.

- Nhưag đi đâu, Poitr? Nó lạc lõng và không quen biết một ai, - Người đàn bà che chở cho Wladek nói. - Mà tôi thì vẫn mong có đứa con trai.

- Tôi không cần biết bà muốn gì hay là nó đi đâu. Nó không phải là trách nhiệm của chúng ta, và chúng ta phải tống nó đi cho nhanh chóng.

- Nhưng, Poitr, tôi nghĩ nó là dòng dõi quý tộc. Hình như bố nó là một Nam tước. Nó có đeo một chiếc vòng bạc ở cổ tay, trên đó có những chữ....

- Như thế lại càng rắc rối. Bà không biết là các nhà lãnh đạo mới đã ra lệnh như thế nào ư? Không Nga hoàng, không vua chúa, không đặc quyền đặc lợi gì hết. Mà chúng ta cũng chẳng cần phải đến trại giam nữa cơ, các nhà cầm quyền có thể bắn chết mình luôn chưa biết chừng.

Chúng ta vẫn mong có đứa con trai, Poitr. Chẳng lẽ chúng ta không dám mạo hiểm chuyện này được ư?

- Bà mạo hiểm được, nhưng tôi thì không. Tôi bảo nó phải đi và đi ngay.

Wadek không cần nghe họ nói gì thêm nữa. Anh nghĩ cách duy nhất để đỡ cho bà ta là người đã có ơn với anh là iến hẳn vào đêm tối. Anh vội mặc quần áo vào và nhìn lại chiếc giường, chỉ mong không phải chờ thêm bốn năm nữa mới lại được nằm một chiếc giường như thế Anh đang tìm cách.mở cứa sổ thì cửa ra vào phòng bỗng bật tung và ông trưởng ga bước vào Người ông ta nhỏ bé, không cao hơn Wladek nhưng có cái bụng to và cái đầu hói chung quanh chỉ còn ít sợi bạc chải qua loa tưởng như một bộ tóc giả.

ông ta đeo đôi mắt kính không có gọng khiến dưới mỗi con mắt có nét hằn đỏ trũng xuống. Tay ông ta cầm chiếc đèn nến. Ông ta đứng nhìn Wladek. Wladek nhìn lại như thách thức.

- Đi xuống dưới này, - Ông ta ra lệnh. Wladek miễn cưỡng theo ông ta xuống bếp. Người đàn bà đang ngồi khóc bên bàn.

- Bây giờ chú bé nghe đây nhé - Ông ta nói.

- Tên nó là Wladek, - Người đàn bà chen vào.

- Bây giờ chú bé nghe đây, - Ông ta nhắc lại. - Anh sẽ gây ra chuyện rắc rối ở đây, vì vậy tôi muốn anh phải đi khỏi chỗ này và đi càng xa càng tốt.

Tôi cho anh biết là tôi sẽ làm như thế này để giúp anh nhé.

Giúp ư? Wladek nhìn ông ta không nói.

- Tôi sẽ cho anh một cái vé tàu. Anh muốn đi đâu?

- Odessa, - Wladek nói. Anh không biết nơi đó là ở đâu và đây đến đó hết bao nhiêu tiền. Anh chỉ biết đó là thành phố thứ hai bác sĩ vẽ trên bản đồ để từ đó mà đi đến tự do.

- Odessa, hừ, nơi sản sinh ra tội ác, thật là một địa chỉ thích hơp đấy, - Ông trưởng ga cười khẩy. - Đến đó thì anh chỉ gặp toàn những người như anh và rắc rối thêm mà thôi.

- Thế thì đề nó ở lại đây, Piotr. Tôi sẽ chăm nom cho nó, tôi sẽ....

- Không, không bao giờ. Tôi thà mất tiền cho nó còn hơn.

Nhưng làm sao nó đi lọt được? - Người đàn bà van nài.

- Tôi sẽ cho nó tấm vé và một giấy thông hành đi làm việc ở odessa. - Ông ta quay sang Wladek. - Anh lên tàu đó đi rồi, nếu tôi còn trông thấy anh hay nghe nói đến anh ở Moscoqu, tôi sẽ báo cho người ta bắt và giam anh ở một nhà tù nào gần đây nhất. Rồi người ta sẽ tống anh trở lại cái trại đó ngay, nếu không thì họ cũng bắn anh luôn.

ông ta nhìn lên chiếc đồng hồ trên bếp:

đã mười một giờ năm phút. Ông ta quay sang phía vợ.

- Có chuyến tàu đi odessa vào mười hai giờ đêm. Tôi sẽ tự đưa nó ra ga. Tôi muốn biết chắc chắn là nó đã rời Moscoqu rồi. Anh có hành lý gì không?

Wladek vửa sắp trả lời không thì người đàn bà đã nói ngay:

- Có để tôi đi lấy cho nó.

Wladek với ông trưởng ga nhìn nhau hằn học. Người đàn bà đi một lúc lâu. Chuông đồng hồ đánh lên một tiếng. Hai người vẫn không ai nói gì. Mắt ông trưởng ga không rời khỏi Wlađek. Bà vợ Ông ta quay lại tay cầm một gói giấy màu nâu có buộc dây cẩn thận Wladek nhìn gói giấy, định lên tiếng từ chối nhưng thấy trong ánh mắt của bà có cái gì như sợ hãi, nên anh chỉ biết nói:

- Cảm ơn bà.

- Hãy ăn cái này đi đã, - Bà ta nói và đẩy bát súp nguội đến chỗ anh.

Anh nghe theo. Mặc dầu bụng anh lúc này vẫn còn đang rất no, nhưng anh cũng ăn bát súp thật nhanh để bà ta khỏi phiền lòng.

Súc vật - Người đàn ông nói.

Wladek ngước nhìn ông ta, mắt đầy căm giận. Anh lấy làm tội nghiệp cho người đàn bà phải sống với một ông chồng như vậy suốt đời.

- Đi thôi, chú bé, - Ông trưởng ga nói. - Mau kẻo lỡ tàu thì phiền lắm.

Wìadek theo người đàn ông ra khỏi bếp. Anh ngập ngừng một chút khi đi qua chỗ người đàn bà đứng. Anh giơ tay ra và bà ta khẽ nắm lấy tay anh. Không ai nói gì, nhưng có nói cũng không nói được gì. Ông trưởng ga với con người tị nạn ấy vừa đi vừa nấp qua mấy phố tối của Moscoqu và đến ga. Ông ta lấy một chiếc vé đi một lượt đến odessa và đưa cho Wladek.

Còn giấy thông hành của tôi đâu? - Wladek hỏi. Ông ta rút ở túi trong ra một tấm giấy, ký vội vào đó rồi kín đáo đưa cho Wladek. Ông ta để ý nhìn quanh xem có thể có gì nguy hiểm không. Trong bốn năm qua, Wladek đã từng trông thấy những đôi mắt giống như của ông trưởng ga này nhiều lần rồi. Đó là đôi mắt của một anh hèn.

- Đừng để tôi trông thấy anh hay nghe nói đến anh nữa nhé, .- Ông trưởng ga nói. Giọng nói thì ra vẻ hách dịch. Trong bốn năm qua,Wladek cũng đã được nghe những giọng nói như thế nhiều lần.

Anh nhìn lên ông ta, định nói lại, nhưng ông ta đã đi vào bóng đêm mất rồi. Wladek nhìn vào những người đi qua trước mặt anh. Cũng những đôi mắt sợ sệt như nhau cả. Trên đời này không ai được tự do cả sao? Wladek cắp cái gói giấy nâu vào nách, sửa lại mũ trên đầu rồi bước ra chỗ thang chắn. Lần này, anh cảm thấy tự tin hơn. Anh xuất trình giấy thông hành cho người gác và đi qua không có chuyện gì. Anh trèo lên toa tàu. Thế là anh chỉ được thấy Moscoqu có một lúc ngắn ngủi, Và trong đời anh sẽ chẳng còn bao giờ thấy lại thành phố này nữa. Anh sẽ nhớ mãi lòng tốt của người đàn bà vợ Ông trưởng ga ấy. Đồng chí gì nhỉ.... Anh cũng không biết đến cả tên bà ta nữa.quladek ngồi ở toa thường. Odessa gần Moscoqu hơn nhiều so với irkutsk. Trên bản đồ của bác sĩ, khoảng cách chỉ bằng ngón tay, vậy mà trên thực tế những 800 dặm. Wladek đang nhìn vào chiếc bản đồ sơ sài ấy thì ở đầu toa cũng đang diễn ra một vụ cờ bạc. Anh giấu bản đồ vào trong áo rồi bắt đầu để ý đến chỗ đánh bạc ấy. Anh thấy một người dù chơi thế nào cũng vẫn thắng, không lần nào bị thua cả. Wladek nhìn kỹ một lúc thì hiểu ra anh chàng kia là một tên bịp bợm.

Anh chuyển sang đứng phía bên kia, đối diện với tên bạc bịp để xem hắn làm ăn thế nào. Nhưng đứng chỗ này khó nhìn nên anh cố chen vào ngồi được bên trong. Anh thi hành một cái mẹo là chờ cho tên bạc bịp giả vờ thua thi anh bỏ tiền vào đó gấp đôi lên cho đến lượt hắn được. Tên bạc bịp không thấy ngay được thủ thuật ấy của anh nên không để ý. Chỉ mãi đến lúc tàu đỗ ở ga sau hắn mới hiểu ra. Wladek đánh được mười bốn rúp. Anh bỏ ra hai rúp mua quả táo và một chén súp nóng. Anh đã kiếm được đủ tiền cho cả chuyến đi xuống đến odessa. Anh thầm nghĩ nếu cứ tiếp tục chơi kiểu này thì sẽ kiếm thêm được ít tiền nữa. Nghĩ thế, anh quay trở lại sòng bạc và sẵn sàng theo đuổi cál mẹo cũ của mình. Nhưng vừa bước vào đến trong toa, anh đã bị đánh một nhát ngã dúi vào góc. Tay bị bẻ quặt ra sau lưng và đầu bi đập vào thành toa. Máu mũi anh chảy ra. Một mũi dao kề vào sau gáy.

- Mày nghe tao nói không, thằng nhóc?

- Dạ, - Wladek hoảng sợ đáp.

- Mày còn quay lại toa này nữa, tao sẽ cắt cái tai này đi, biết chưa? Tao mà cắt tai thì mày không còn nghe được nữa, biết chưa?

- Vâng ạ, - Wladek nói.

Wladek cảm thấy mũi dao ấn vào sau mang tai rồi máu bắt đầu chảy xuống cổ.

- Tao cảnh cáo cho mày biết thế.

Một cái đầu gối bỗng thúc mạnh vào bụng anh. Wladek nằm lăn ra sàn tàu. Một bàn tay sục vào mấy túi áo của anh, lấy đi mấy rúp anh vừa kiếm được.

- Tiền của tao, - Hắn nói.

Máu vẫn còn chảy ở mũi và ở cổ Wladek. Lúc anh mở mắt ra nhìn lên thì không thấy tên bạc bịp đâu nữa. Anh cố đứng dậy nhưng không đứng được, đành cứ ngồi lại trong góc toa một lúc. Đứng dậy được rồi, anh lê bước ra đầu toa đằng kia, tránh xa chỗ tên bạc bịp chừng nào hay chừng đó. Anh chui vào một toa chỉ có đàn bà trẻ con rồi ngủ thiếp đi. Đến ga sau, Wladek không dám xuống tàu. Anh mở gói giấy xem trong đó đựng gì. Hóa ra trong đó có đủ thứ táo bánh mì, lạc, một chiếc sơ mi, một chiếc quần và có cả một đôi giầy nữa. Thật là cả một kho báu. Anh bèn thay ngay những quần áo mới vào người. Ôi, người đàn bà quý hóa quá. Còn ông chồng, sao mà quá đáng thế.

Anh ăn rồi lại ngủ, lại mơ. Cuối cùng, sau năm đêm bốn ngày, đoàn tàu lừ đừ lăn bánh vào ga odessa. Ở cửa chắn vẫn kiểm soát vé và giấy tờ như cũ Giấy tờ của anh hợp lệ nên tên lính gác không để ý gì hết. Từ lúc này trở đi, anh phải tự do lấy hết.

Anh vẫn còn 150 rúp giấu trong tay áo. Anh chưa dám tiêu đi đồng nào vào lúc này.

Wladek đi lang thang cả ngày trong thành phố để làm quen với đường xá ở đây, nhưng có nhiều cảnh lạ mắt quá nên anh không nhớ được chỗ nào với chỗ nào.

Toàn những nhà to, cửa hàng lớn, rất nhiều những người đi bán rong trên đường phố, thậm chí có cả một con khỉ ngồi trên đầu gậy của người bán hàng rong nữa. Wladek cứ đi mãi đến lúc anh ra tới bến cảng và trông thấy biển. À ra đây rồi, đúng cái mà Nam tước gọi là biển đây. Wladek đứng lặng nhìn khoảng mênh mông xanh ngắt. Nơi xa kia là tự do, là trốn thoát khỏi nước Nga. Thành phố này hẳn là vừa trải qua trận chiến ghê gớm, vì còn những căn nhà cháy trụi và nhiều chỗ nhếch nhác, rất không hơp với làn gió biển thơm mát đang thổi vào đây. Wladek không biết trong thành phố còn đánh nhau không. Anh không biết hỏi ai được. Mặt trời đã lặn xuống sau những ngôi nhà cao tầng. Anh phải bắt đầu đi tìm một chỗ nào để ngủ đêm. Wladek đi vào một ngõ bên đường cái Khoác chiếc áo lông dài chấm đất và cắp một gói giấy nâu trong tay, trông anh thật lạc lõng giữa khung cảnh ở đây. Anh không tìm thấy một chỗ nào an toàn được. Lát sau anh ra đến khu đường sắt, thấy có một toa tàu nằm đơn độc một chỗ. Anh ngó nhìn vào bên trong, chỉ thấy tối và yên lặng. Trong toa không có người. Anh quẳng gói giấy lên đó, trèo vào bên trong và chui vào một góc nằm ngủ. Anh vừa đặt mình xuống thì một thân hình đè lên người anh và hai tay ghì chặt lấy cổ họng. Anh hầu như không thở được - Mày là ai? - Giọng một đứa bé gầm lên. Trong bóng tối, anh đoán tên kia không lớn tuổi hơn mình được - Wladek Khôngskiequicz.

- Mày ở đâu đến?

- Moscoqu. - Lúc đó Wladek đã định nói là Slonim.

- Mày không được ngủ trong toa của tao, dù là mày ở Moscoqu đến, - Tên kia nói.

Xin lỗi, - Wladek nói. - Tôi không biết.- Mày có tiền không? - Hai ngón tay cái của tên .kia ấn chặt xuống cổ họng anh.

ít thôi, - Wladek nói.

- Bao nhiêu?

Bẩy rúp.

- Đưa đây.

Wladek thọc tay vào túi áo. Tên kia cũng bỏ một tay ra mò vào túi áo khác. Còn một tay hắn bỏ lỏng. Wladek chợt dồn hết sức vào đầu gối thúc lên hạ bộ của nó một nhát. Tên kia ôm lấy dái lăn ra. Wladek chồm dậy đánh liên hồi. Tự nhiên tình hình thay đổi hẳn. Tên kia không thể địch lại Wladek. Thế là nằm ngủ trong một toa tàu bỏ hoang chẳng khác nào như một khách sạn năm sao so với những căn hầm và trại giam mà anh vừa trải qua.

Wladek chỉ ngừng tay khi tên kia đã chịu nằm bẹp xuống sàn tàu, cựa quậy gì được nữa. Hắn phải van xin Wladek.

- Mày ra tít đầu toa kia mà nằm và cứ ở yên đấy,- Wladek nói. - Mày mà động đậy nữa tao giết.

- Vâng, vâng, - Tên kia cố bò di.

Wladek theo dõi thấy hắn đã bò đến đầu toa. Anh ngồi nghe động tĩnh một lúc không thấy gì mới từ từ đặt mình xuống sàn toa và lát sau ngủ thiếp đi.

Lúc anh tỉnh dậy đã thấy mặt trời chiếu qua khe ván của toa tàu. Anh quay người lại và bây giờ mới nhìn thấy rõ tên địch thủ đêm qua. Hắn vẫn nằm co rúm và còn ngủ ở đầu toa đằng kia.

- Lại đây, - Wladek ra lệnh. Tên kia từ từ thức dậy.

- Lại đây, - Wladek nhắc lại, giọng to hơn trước. Tên kia vâng lời ngay. Lần đầu tiên Wladek mới nhìn kỹ được hắn. Hai người chạc tuổi nhau nhưng rõ ràng tên kia cao lớn hơn Wladek một chút, mặt mũi trông trẻ hơn và mớ tóc hắn bù xù.

- Việc đầu tiên là kiếm cái gì ăn đã, - Wladek nói.

- Anh theo tôi, - Tên kia nói và nhảy luôn ra ngoài toa. Wladek thất thểu đi theo hắn lên đồi và vào trong thành phố lúc đó đang họp chợ sáng.

Kể từ sau những bữa ăn tuyệt vời ở chỗ Nam tước đến giờ, anh chưa từng thấy ở đâu có nhiều thức ăn như thế. Các thứ hoa quả, rau cỏ, kể cả thứ lạc mà anh thích, chất đầy trên các ngăn hàng. Tên kia cũng có thể thấy Wladek bị ngợp trước cảnh này.

- Bây giờ chúng mình làm thế này nhé, - Tên kia nói bằng một giọng tin tưởng. - Tôi sẽ đi vào một góc ngăn hàng ăn cắp một quả cam rồi bỏ chạy. Anh sẽ đứng đó và hét thật to:

Bắt lấy thằng ăn cắp? Người trông hàng sẽ đuổi theo tôi, thế là lúc đó anh nhặt ngay lấy mấy quả nhét vào túi. Đừng có lấy nhiều, chỉ đủ ăn một bữa thôi. Xong rồi, anh quay lại chỗ này, hiểu chưa nào?

- Có lẽ thế, - Wladek nói.

- Để xem dân Moscoqu như anh có làm được chuyện đó không. - Hắn nhìn anh cười khẩy một cái rồi bước ra. Wladek nhìn theo hắn với một vẻ khâm phục. Hắn đàng hoàng đi vào góc một sạp chợ nhấc lấy một quả trên cả một đống cam cao ngất, nói câu gì đó với người bán hàng rồi thủng thẳng bước đi. Hắn nhìn lại Wladek lúc đó đã hoàn toàn quên cả câu nói "Bắt lấy thằng ăn cắp", nhưng người bán hàng ngửng lên trông thấy vội chạy ra đuổi. Mọi người đang chú ý nhìn theo tên kia thì Wladek vơ quàng lấy ba quả cam, một quả táo và một củ khoai nhét cả vào túi áo ngoài. Lúc người bán hàng đã sắp đến gần tên kia thì hắn ném quả cam trả lại cho ông ta. Người đó đứng lại vừa nhặt quả cam vừa chửi rủa, giơ nắm đấm lên dọa rồi quay lại quầy hàng phàn nàn với những người khách quanh đó.

Wladek đang có vẻ khoái trá với cảnh vừa rồi thì một bàn tay đã đặt mạnh lên vai. Anh hoảng sợ quay lại tưởng mình bị bắt.

- Anh có vớ được gì không, anh Moscoqu, hay chỉ đứng đó xem thôi?.

quladek cười và đưa ra ba quả cam, quả táo với củ khoai. Tên kia cũng cười theo.

- Tên cậu là gì? - Wladek hỏi.

- Stephan.

Stephan này, mình lại làm một lần nữa đi.

- Thôi đi anh Moscoqu, anh đừng tưởng thế là khôn nhé Nếu muốn làm nữa thì phải ra đầu chợ đằng kia và phải chờ ít ra một giờ nữa. Tôi đã chuyên làm ở đây rồi, nhưng anh đừng tưởng là thỉnh thoảng không bị bắt đâu.

Hai anh chàng lặng lẽ đi ra đầu chợ đằng kia. Stephan đi với một vẻ rất đàng hoàng khiến Wladek nghĩ bụng giá mình không biết thì đã mất hết với hắn rồi. Họ trà trộn vào chỗ những người mua hàng buổi sáng, và khi Stephan cho rằng đã đến lúc thì họ tái diễn hai lần cảnh đã làm lúc trước. Cả hai người đều rất thỏa mãn, quay trở về toa xe bỏ hoang để hưởng những gì đã ăn cắp được:

sáu quả cam, năm quả táo, ba củ khoai, một quả - lê, rất nhiều loại lạc với một phần thưởng đặc biệt là quả dưa to. Trước kia Stephan không bao giờ có túi đủ to để cho quả dưa vào đó được Chiếc áo ngoài của Wladek bây giờ mới làm được chuyện ấy.

- ăn được, - Wladek cắn vào củ khoai và nói.

- Cậu ăn cả vỏ ư? - Stephan ngạc nhiên nói.

- Mình đã ở những chỗ được ăn vỏ khoai đã là sang lắm rồi, - Wladek nói.

Stephan nhìn anh bằng con mắt khâm phục.

- Vấn đề nữa ìà chúng ta làm thế nào có. tiền đây?- Wladek nói.

- Trong một ngày mà cậu muốn có đủ thứ thế ư, hả ông chủ? - Stephan nói. - Nếu cậu định làm ăn to thì phải nhập bọn với đám ở ngoài bến kia, ông Moscoqu ạ.

- Cậu chỉ cho tớ xem. - Wladek nói.

Họ ăn hết nửa số quả và giấu chỗ còn lại xuống dưới đống rơm ở góc toa xe, rồi Stephan dẫn Wladek xuống bến chỉ cho anh xem rất nhiều tàu đậu dưới đó. Wladek không tin ở mắt mình nữa. Anh đã được nghe Nam tước kể cho biết về những tàu to chạy xuyên qua các biển lớn đem hàng đến cho nước ngoài, nhưng những chiếc tàu anh được thấy tận mắt đây còn to hơn nhiều so với điều anh tưởng tượng, và chúng đậu thành một hàng dài không thể nhìn thấy hết được.

Stephan nói làm anh sực tỉnh.

- Cậu trông thấy chiếc tàu to tướng màu xanh kia không? Nếu muốn làm thì cậu chỉ việc xuống dưới gầm cái ván cầu, nhặt một cái rổ, chất đầy thóc vào đó rồi trèo lên thang và đổ xuống khoang tàu. Cứ bốn chuyến như thế thì cậu được một rúp. Cậu phải đếm cho đúng, không thì cái thằng cầm đầu ấy sẽ bịp và ăn chặn tiền của cậu đấy.

Cả buổi chiều, Stephan và Wladek làm cái việc vác thóc lên thang. Hai người kiếm được hai mươi sáu rúp. Sau một bữa ăn no nê với số lạc, bánh và hàng ăn cắp được, hai người lăn ra ngủ trong cái toa xe lúc trước.

Sáng hôm sau Wladek dậy trước và Stephan thấy anh ngồi xem bản đồ.

- Cái gì thế? - Stephan hỏi.

- Đây là bản vẽ con đường để tớ chạy ra khỏi nước Nga.

- Cậu có thể ở đây và nhập bọn với tớ thì việc gì phải bỏ nước Nga? - Stephan nói. - Chúng mình cùng làm ăn với nhau được chứ! - Không, tớ phải đi đến Thổ nhĩ kỳ. Đến đó tớ sẽ được là người tự do lần đầu tiên trong đời. Sao cậu không cùng đi với tớ, hả Stephan?

- Tớ chả bao giờ có thể bỏ odessa được. Đây là nhà tớ Đường sắt là nơi tớ sống, những người ở đây tớ đã quen biết từ bé đến giờ rồi. Ở đây chẳng hay gì lắm, nhưng có khi ở Thổ nhĩ kỳ còn tệ hơn. Nhưng nếu cậu muốn đi thì tớ sẽ giúp.

- Tớ làm sao biết được tàu nào đi Thổ nhĩ kỳ? - Wladek hỏi.

- Dễ thôi, tớ có thể biết tất cả những tàu nào sắp đi đâu Tụi mình sẽ hỏi ông Joe Một Răng ở cuối cầu tàu là biết ngay. Nhưng cậu phải trả ông ấy một rúp.

- Chắc hai người lại chia nhau chứ gì?

- Mỗi người một nửa. - Stephan nói. - Cậu học được nhanh đấy, cậu Moscoqu ạ. - Nói đến đây, hắn liền nhảy ngay ra ngoài toa.

Wladek chạy theo hắn len lỏi giữa những toa tàu. Anh càng thấy bọn chúng đứa nào cũng nhanh nhẹn, chỉ có mình là phải đi cà nhắc thôi. Đến cuối cầu tàu, Stephan dẫn anh vào một căn lều nhỏ có những đống sách phủ đầy bụi và những bảng giờ tàu đã cũ. Wladek không nhìn thấy ai, nhưng bỗng có tiếng nói từ đằng sau đống sách:

Chúng mày muốn gì thế? Tao không có thì giờ đâu nhé.

- Hỏi một tí cho anh bạn tôi đây, Joe. Chuyến tàu sang sắp tới đi Thổ nhĩ kỳ là bao giờ đấy?

- Bỏ tiền ra đã, - Một ông già thò đầu từ phía sau đống sách nói. Mặt mũi ông rõ ra một người đã trải qua nhiều nắng gió. Đầu đội mũ lính thủy. Đôi mắt đen nhìn xoáy vào Wladek.

- Ông ấy là người đi biển giỏi lắm nhé, - Stephan nói thầm với Wladek nhưng đủ để Joe nghe thấy.

- Đừng nói lôi thôi, mày. Rúp đâu?

- Ông bạn tôi cầm tiền, - Stephan nói. - Wladek, - cậu đưa đồng rúp cho ông ấy.

Wladek lấy ra đồng tiền. Joe cắn thử vào đồng tiền xem có thật không, rồi đi ra tủ sách rút lấy một bảng giờ tàu màu xanh rất to. Bụi bay tứ tung. Ông ta vừa ho vừa lật mấy trang trong đó, đưa ngón tay sần sùi dò tìm các tên tàu.

- Thứ năm sau tàu Renaska sẽ đến lấy than, rồi có lẽ đi vào thứ bảy. Nếu nó lấy được nhanh thì có thể đi vào đêm thứ sáu để đỡ tiền thuê cảng. Nó sẽ đậu ở cảng mười bảy.

Cảm ơn ông Một Răng nhé, - Stephan nói. - Để tôi xem có thể dẫn vài ông bạn giàu đến đây được không.

Joe Một Răng giơ nắm đấm lên chửi, còn Stephan với Wladek kéo nhau chạy ra ngoài.

Trong ba ngày sau đó, hai anh chàng lại tiếp tục đi ăn cắp lương thực, khuân vác thuê và lăn ra ngủ. Đến hôm thứ năm tuần sau đó, chiếc tàu Thổ' nhĩ. kỳ đến cảng thì Stephan hầu như đã thuyết phục được Wladek ở lại odessa. Nhưng cuối cùng vì nỗi sợ hãi đối với người Nga ám ảnh Wladek nên anh thấy cuộc sống mới với Stephan dù sao cũng không thể hấp dẫn anh hơn được nữa.

Họ đứng trên cầu tàu nhìn con tàu mới đến đậu ở cảng mười bảy.

- Mình làm thế nào lên tàu được? - Wladek hỏi.

- Dễ thôi, - Stephan nói, - Sáng mai mình sẽ nhập bọn với đám người khuân vác. Tớ sẽ đi sát ngay sau cậu. Chờ lúc nào than đổ gần đầy thì cậu nhảy ùm ngay xuống đó, tìm chỗ trốn, còn tớ thì nhặt cái giỏ của cậu và quay ra phía bên kia.

- Rồi cậu lĩnh luôn cả phần tiền của tớ chứ gì, - Wladek nói.

- Tất nhiên, - Stephan đáp. - Tớ có sáng kiến thế thì phải được thưởng tiền chứ, nếu không thì ai người ta còn tin ở chuyện làm ăn tự do được nữa?

Sáng hôm sau, họ nhập hội với đám khuân vác than. Họ lên lên xuống xuống trên chiếc ván cầu đồ than, nhưng than đổ xuống mãi chỉ thấy lọt thỏm. Cho đến tận chiều tối mà vẫn chưa được nửa khoang. Đêm đó, hai người ngủ thật say. Rồi lại đến sáng hôm sau nữa, họ tiếp tục khuân vác cho đến giữa buổi chiều thì khoang tàu chở than mới gần đầy. Stephan đá vào gót chân Wladek làm hiệu.

- Lần sau nhé, cậu Moscoqu, - Hắn nói. Lên đến đầu ván cầu, Wladek đổ thúng than của mình xuống, bỏ lại cái thúng trên cầu tàu, vịn vào lan can và nhẩy xuống đống than. Stephan nhặt cái thúng của Wladek lên rồi tiếp tục đi sang phía bên kia, vừa đi vừa huýt sáo.

- Tạm biệt anh bạn nhé, - Stephan nói. - Và chúc cậu may mắn với bọn Thổ vô đạo nhé.

Wlađek ép người vào góc khoang tàu và nhìn đống than tiếp tục đổ xuống bên cạnh mình. Bụi than bay mù lên, vào cả mũi mồm, chui cả vào phổi và vào mắt anh. Anh cố gắng chịu đau không dám ho lên, sợ thủy thủ trên tàu nghe thấy. Đúng đến lúc anh thấy không thể nào chịu được cái không khí ngột ngạt, đã định quay lên với Stephan để rồi sau này tìm cách khác mà trốn thì người ta đóng cửa khoang lại. Wladek được thể, ho ran một hồi.

Một lúc sau, anh thấy có cái gì như cắn vào gót chân. Anh rùng mình nhìn xuống xem là cái gì, hóa ra đó là chuột rất to. Anh cầm cục than nén vào con vật khủng khiếp ấy, nhưng nó vừa chạy đi thì con khác, rồi lại con khác nữa kéo đến. Con sau còn mạnh bạo hơn, leo cả lên chân anh. Không biết nó ở đâu ra.

Vừa to, vừa đen sì và rất đang đói ăn. Anh cúi xuống nhìn kỹ. Lần đầu tiên trong đời Wladek thấy chuột có mắt đỏ. Anh vội trèo lên đống than và cố mở cái nắp trên cửa khoang. ánh nắng rọi vào và lũ chuột chui tọt xuống hầm dưới. Anh định trèo ra ngoài, nhưng con tàu vừa ra khỏi bến cảng. Anh hoảng sợ, lại rút vào trong khoang. Nếu như con tàu này buộc phải quay lại và giao Wladek cho nhà cầm quyền thì anh biết chắc mười mươi là sẽ phải trở về trại giam 201 bọn Bạch Nga mà vĩnh viễn không bao giờ ra khỏi được nữa. Anh đành ở lại với lũ chuột. Anh vừa đậy cái nắp vào là chúng lại kéo đến. Anh phải nhặt than ném liên tiếp vào chúng, nhưng con này vừa đi thì con khác lại xuất hiện. Chốc chốc anh phải hé mở cái nắpcho ánh sáng lọt vào, vì chỉ có ánh sáng mới là đồng minh duy nhất giúp cho anh có thể xua lũ chuột đi được Suốt hai ngày ba đêm Wladek phải vật lộn chiến đấu với lũ chuột, không được một lúc nào ngủ yên với chúng. Cuối cùng khi con tàu đến cảng Constantinople và người ta mở nắp khoang ra thì Wladek đen kịt suốt từ đầu đến chân, còn từ đầu gối xuống đến ngón chân thì đầy những máu, Thủy thủ trên tàu kéo anh ra khỏi đống than. Wladek cố đứng dậy, nhưng rồi lại ngã gục xuống trên boong tàu.

Lúc Wladek tỉnh lại - Anh không biết mình ở đâu và sau đó bao lâu - Thấy mình nằm trên chiếc giường trong một căn phòng nhỏ, có ba người mặc áo dài trắng đứng chung quanh đang nhìn anh rất kỹ, và họ nói một thứ tiếng gì đó anh chưa từng nghe thấy bao giờ Trên thế giới này có bao nhiêu thứ ngôn ngữ nhỉ?

Anh nhìn lại mình, vẫn còn đen kịt và đầy những máu me. Anh định ngồi dậy thì một trong ba người mặc áo trắng, nhiều tuổi nhất và có bộ râu dê trên khuôn mặt gầy nhỏ, lại đẩy anh nằm xuống. Ông ta nói với Wladek bằng một thứ tiếng gì lạ lắm. Wladek lắc đầu ông ta lại nói tiếng Nga. Anh vẫn lắc đầu. Anh biết là nếu mình trả lời bằng tiếng đó thì lập tức bị đưa về chỗ cũ ngay. Thứ tiếng sau đó ông bác sĩ thử nói là tiếng Đức. Wladek biết rằng mình còn giỏi hơn ông ta về tiếng này.

- Anh nói được tiếng Đức?

- Vâng.

A, thế ra anh không phải người Nga?

- Không.

- Vậy anh làm gì ở Nga?

- Tôi trốn.

- À ra thế. - Ông ta quay lại nói với những người kia bằng thứ tiếng của mình, rồi ba ngliời đi ra ngoài.

Một cô y tá bước vào lau sạch người cho Wladek, mặc cho anh kêu đau. Cô ta buộc thuốc vào chân cho anh, rồi bỏ anh nằm đó ngủ tiếp. Lần thứ hai Wladek tỉnh dậy thấy chỉ có mỗi mình anh trong phòng. Anh nhìn lên trần nhà trắng toát, suy nghĩ xem sẽ làm gì.

Anh vẫn không biết được mình đang ở xứ nào. Anh trèo lên bệ cửa sổ nhìn ra ngoài. Anh thấy có một cái chợ, không khác gì lắm với chợ Ở odessa, chỉ trừ có những nguời ở đây mặc áo dài trắng và da dẻ họ thẫm hơn. Họ cũng đội những chiếc mũ có nhiều màu, trông những chậu hoa con ở trên đầu, còn chân thì đi dép.

Đàn bà thì mặc toàn đồ đen, cả đến mặt họ cũng che kín chỉ chừa hai con mắt cũng đen. Wladek nhìn họ đi lại tấp nập trong chợ, nhìn các bà mua bán, và anh cảm thấy có lẽ ở xứ nào thì cũng chỉ là như vậy thôi.

Lát sau anh nhìn thấy bên cạnh cửa sổ có chiếc thang đỏ bằng sắt gắn vào tường và xuống đến tận đất Anh bước xuống và khẽ ra mở cửa, ngó nhìn hành lang bên ngoài. Mọi người đi đi lại lại nhưng không ai để ý gì đến anh. Anh lại khẽ đóng cửa vào, tìm ra mấy thứ đồ vật của anh trong ngăn tủ ở góc phòng rồi vội mặc quần áo vào. Wần áo của anh vẫn còn bám đầy than, cọ sát vào da thịt anh lúc này đã được rửa ráy sạch sẽ. Anh quay trở ra cửa sổ. Cánh cửa sổ mở rất dễ. Anh bám lấy thang vịn chữa cháy nhảy ra ngoài cửa sổ rồi theo cái thang sắt xuống đến đất.

Điều đầu tiên là anh thấy nóng, nóng hết sức. Anh chỉ muốn mình đừng khoác cái áo lông nặng nề này nữa.

Xuống đến đất, Wladek đã định chạy ngay, nhưng đôi chân anh còn yếu và rất đau nên chỉ có thể đi được chậm. Anh ước gì mình thoát được cái cảnh cà nhắc này. Anh không quay lại nhìn bệnh viện nữa mà đi lẫn vào đám đông trong chợ.

quladek nhìn vào những thứ bầy trên quầy hàng mà thèm. Anh định mua một quả cam và ít lạc. Anh lần tìm trong áo, nhớ là tiền còn giấu ở trong tay áo.

Nhưng anh không thấy gì, và cả đến chiếc vòng bạc cũng không còn nữa. Ra những người mặc áo trắng trong bệnh viện đã lấy mất của anh rồi. Anh định quay lại bệnh viện đòi cái di sản ấy những nghĩ bụng phải ăn một cái gì đã, rồi có đi đâu mới đi được. Có lẽ trong túi còn tiền. Anh sục tay vào các túi bỗng thấy cả ba tờ bạc và một ít tiền đồng. Cả tấm bản đồ của bác sĩ và chiếc vòng bạc cũng còn trong đó.

Wladek vui mừng hết sức. Anh đeo lại chiếc vòng bạc vào tay và kéo nó lên tận trên khuỷu tay. Wladek chọn lấy một quả cam to nhất với một gói lạc Người bán hàng nói cái gì đó anh không hiểu.

Wladek nghĩ cách dễ dàng nhất để ông ta hiểu được ìà đưa ra tờ bạc 50 rúp. Người bán hàng nhìn vào tờ giấy bạc, cười và giơ hai tay lên trời.

- Lạy Thánh Allah? - Ông ta kêu lên, giằng lấy gói lạc và cam trong tay Wladek rồi giơ ngón tay trỏ xua anh đi. Wladek buồn rầu bước ra ngoài. Anh nghĩ là có lẽ tiếng nói khác thì phải dùng thứ tiền khác. Ở Nga thì nghèo, còn ở đây thì anh không có một xu nào. Có lẽ anh phải ăn cắp một quả cam thôi, Nếu sắp bị bắt thì vứt trả lại cho người bán hàng. Wladek đi ra đầu chợ đằng kia như kiểu Staphan đã làm, nhưng anh không bắt chước được kiểu đi đàng hoàng và tin tưởng như Stephan. Anh chọn quầy hàng cuối cùng, và liếc nhìn thấy không có ai trông hàng, anh vội nhặt một quả cam rồi bỏ chạy. Bỗng có tiếng ồn ào phía sau. Anh tưởng như có đến nửa thành phố này đang đuổi theo mình.

Một người to lớn nhẩy đến túm lấy Wladek vật xuống đất. Sáu bảy người nữa nắm lấy anh kéo trở lại quầy hàng. Một đám đông xúm lại chung quanh. Một viên cảnh sát đứng đó chờ. Người ta làm biên bản. Người bán hàng với viên cảnh sát to tiếng với nhau. Viên cảnh sát quay sang quát tháo với Wladek, nhưng anh chẳng hiểu ông ta nói gì. Viên cảnh sát nhún vai rồi lấy tai Wladek dẫn đi. Những người chung quanh đó nhìn anh quát mắng. Một số người còn nhổ vào mặt anh. Về đến trạm cảnh sát, Wladek bị tống xuống một gian xà lim chật hẹp trong đó đã có sẵn vài ba chục những tên lưu manh ăn cắp mà anh không biết ai vào ai nữa. Wladek không nói năng gì với chúng, và bọn chúng cũng có vẻ không muốn nói gì với anh.

Anh ngồi dựa lưng vào tường, co rúm người lại, im lặng và khiếp sợ. Họ để anh ngồi đó một ngày một đêm không cho ăn uống gì. Ngửi mùi hôi thối trong xà lim khiến anh nôn mửa hết không còn gì trong bụng.

Anh không thể ngờ rằng lại có một ngày mà ngay cả đến những căn hầm ở Slonim cũng còn yên ấm dễ chịu hơn.

sáng hôm sau có hai người hnh gác đến kéo Wladek ra khỏi nhà hầm để ra bên ngoài cùng xếp hàng với nhiều tù nhân khác. Họ bị buộc vào với nhau bằng một sợi dây thừng vòng quanh ngực rồi đưa ra phố. Một đám đông người đã đứng chờ sẵn ở đây. Họ reo hò khi thấy tù nhân được dẫn ra. Rồi họ kéo theo đoàn tù ra chợ, vừa vỗ tay vừa hét. Wladek không hiểu tại sao họ làm như vậy. Ra đến chợ, tất cả dừng lại Tên tù đầu tiên được cởi trói? và dẫn ra giữa chợ:

ở đây đã có hàng trăm người đứng chung quanh, và ai cũng hò hét rầm trời Wladek nhìn quang cảnh mà không thể tưởng tượng được. Khi tên tù đầu tiên ra đến quảng trường, hắn bị tên lính gác đánh cho quỳ xuống rồi bàn tay phải của hắn bị buộc lên một cục gỗ to. Một người khác to lớn giơ cao lưỡi kiếm lên khỏi đầu và chặt xuống cổ tay tên tù đó. Người kia chỉ chặt vào đúng mấy đầu ngón tay. Tên tù hét lên đau đớn. Người kia lại giơ cao lưỡi kiếm lên. Lần này chặt vào đúng cổ tay, nhưng bàn tay chưa đứt hẳn, còn lủng lẳng ở cánh tay tên tù và. máu tuôn xuống mặt đất. Lưỡi kiếm lại giơ lên lần thứ ba và lần này thì bàn tay của tên tù rụng hẳn xuống đất. Đám người chung quanh rồ lên tán thưởng. Tên tù được cởi dây trói và lăn ra đó, ngất đi. Một tên lính gác đến kéo hắn ra ngoài, vứt dưới chân đám người đứng đó. Một người đàn bà khóc lóc, - Wladek đoán đó là vợ anh ta - Và vội lấy một mảnh vải ra buộc cho cầm máu. Tên tù thứ hai đã chết luôn sau nhát kiếm thứ tư. Tên đao phủ to lớn kia không quan tâm đến chuyện ai sống ai chết.

Hắn chỉ vội vã làm nhiệm vụ của hắn. Hắn được trả lương để chuyên chặt tay những người khác.

Wladek nhìn ra chung quanh mà khiếp sợ đến nghẹt thở. Giá như còn cái gì trong bụng thì anh cũng đến nôn ra hết. Anh quay ra các phía xem có ai cứu giúp hoặc có cách gì trốn được. Không ai nói cho anh biết là theo luật của Hồi giáo, nếu định chạy trốn thì sẽ bị chặt chân. Trong các khuôn mặt đứng trong đám đông, anh nhìn ra một người ăn mặc bộ đồ sẫm như kiểu Châu âu. Người đó đứng cách Wladek chỉ độ vài chục mét và rõ ràng là ông ta nhìn cảnh này với một thái độ kinh tởm. Nhưng ông ta không nhìn về phía Wladek, cũng không nghe tiếng anh gào lên kêu cứu mỗi khi có nhát kiếm hạ xuống. Không biết ông ta là người Pháp, hay Đức, hay Anh, hoặc có thể là Ba- lan nữa? Wladek không biết ông ta là người nước nào nhưng hẳn phải có lý do gì mới đứng xem cái cảnh rùng rợn này. Wladek vẫn cứ nhìn về phía ông ta, chỉ mong ông ta quay ra nhìn về phía mình. Nhưng không, ông ta vẫn nhìn đi chỗ khác. Wladek còn một bên tay không bị trói giơ lên vẫy nhưag ông ta không để ý Họ cởi trói người thứ hai đứng trước Wladek và kéo anh ta đi. Lưỡi kiếm lại vung ìên đám đông lại reo hò. Người đàn ông mặc bộ đồ sẫm quay mặt đi không dám nhìn. Wladek lại giơ tay vẫy ông ta lần nữa. Ông ta nhìn Wladek rồi quay sang nói với người bên cạnh mà Wladek từ nãy không để ý thấy. Lúc này tên lính gác đang giằng co với một tù nhân đứng trước Wladek. Anh ta đặt bàn tay tù nhân xuống dưới sạp. Lưỡi kiếm vung lên và chỉ một nhát là bàn tay đó rụng. Đám đông thấy thế thất vọng. Wladek lại quay lại nhìn mấy người châu âu kia. Lúc này cả hai người đó đều nhìn anh. Anh muốn họ bườc đến, nhưng họ chỉ đứng đó nhìn.

Tên lính gác bước đến, vứt chiếc áo 50 rúp của Wladek xuống đất, mở khóa và xắn tay áo của anh lên. Hắn lôi Wladek đi nhưng anh cố giẫy giụa. Anh không đủ sức cưỡng lại tên lính. Ra đến gần cục gỗ, hắn đá vào khoeo chân cho anh quỳ xuống đất. Sợi dây da lại được quấn vào cổ tay anh. Anh không còn biết làm gì nữa, chỉ nhắm mắt lại trong khi tên đao phủ giơ cao lưỡi kiếm lên trên đầu hắn. Anh hồi hộp chờ đợi nhát kiếm hạ xuống, nhưag tự nhiên thấy trong đám đông im lặng hẳn đi, và chiếc vòng bạc của Nam tước từ trên khuỷu tay anh rơi tụt xuống lăn trên cục gỗ. Đám người chung quanh im lặng nhìn chiếc vòng bạc di sản kia óng ánh dưới nắng. Tên đao phủ ngừng lại, bỏ kiếm xuống và ngắm nghía chiếc vòng bạc. Wladek mở mắt ra. Tên lính đứng đó định lồng chiếc vòng bạc trở lại cổ tay Wladek, nhưng còn vướng sợi dây da nên không kéo lên được. Một người mặc quân phục ở đâu vội chạy đến bên tên đao phủ. Anh ta cũng nhìn vào chiếc vòng bạc với nhưng chữ viết trên đó rồi chạy đến một người khác, có lẽ là cấp chỉ huy, vì người đó cũng đang chầm chậm bước đến chỗ Wladek. Thanh kiếm vẫn nằm trên mặt đất. Đám đông lại bắt đầu gào hét. Tên lính thứ hai cũng định kéo chiếc vòng bạc lên nhưng không được vì muốn thế thì hắn phải cởi sợi dây da mới được. Hắn quát mấy tiếng vào mặt Wladek, nhưng anh không hiểu gì và chỉ đáp lại bằng tiếng Ba- lan:

- Tôi không nói được tiếng của ông.

Tên sĩ quan tỏ vẻ ngạc nhiên, giơ hai tay lên trời và hét ìên một tiếng:

- Allah?

Wladek nghĩ có lẽ đó cũng giống như câu "Lạy Chúa". Tên sĩ quan bước đến chỗ hai người mặc bộ đồ Châu âu đứng trong đám đông và hoa tay múa chân một lúc. Wladek thầm cầu nguyện. Trong hoàn cảnh này, người ta cầu nguyện bất cứ thần linh nào, dù đó là thánh Allah hay là Đức mẹ đồng trinh. Hai người Châu âu nhìn về phía Wladek và Wladek cũng gật đầu rối rít. Một trong hai người đó bước theo tên sĩ quan Thổ Nhĩ Kỳ đến chỗ anh. Người đó quỳ một chân xuống bên cạnh Wladek, nhìn chiếc vòng bạc rồi nhìn anh rất kỹ. Wladek chờ đợi. Anh có thể nói chuyện được bằng năm thứ tiếng, và anh thầm mong ông ta sẽ nói một trong năm thứ tiếng ấy. Khi nghe thấy người âu Châu đó quay sang nói với tên sĩ quan kia bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ thì anh thất vọng. Đám đông lúc này đang rít lên và ném những quả thối vào phía trong. Tên sĩ quan kia gật đầu rồi người âu Châu quay sang nhìn Wladek.

- Anh nói được tiếng Anh không?

Wladek thở dài nhẹ người.

Thưa ông có. Tôi nói được. Tôi là công dân Ba- lan.

- Tại sao anh có được chiếc vòng bạc ấy?

Nó là của cha tôi, thưa ông. Cha tôi chết trong nhà tù của người Đức ở Ba lan, còn tôi thì bị bắt và tống giam vào một trại tù ở Nga. Tôi đã trốn được và đến đây bằng tàu thủy. Đã nhiều ngày nay tôi không được ăn uống gì. Khi người bán hàng không chịu bán cho tôi quả cam bằng tiền rúp, tôi phải lấy một quả vì tôi đói quá rồi.

Người Anh từ từ đứng dậy, quay sang phía tên sĩ quan và nói với một giọng cứng rắn. Tên sĩ quan lại nói với tên đao phủ. Tên đao phủ ngập ngừng một chút, nhưng tên sĩ quan gắt lên hắn mới cúi xuống miễn cưỡng tháo sợi dây da. Wladek lại nôn ọe.

- Đi theo tôi, - Người Anh nói, - Đi mau lên, kẻo họ thay đổi ý kiến. quladek vẫn còn hoang mang chưa hiểu, vội vớ lấy chiếc áo rồi đi theo ông ta. Đám đông đứng ngoài la ó kêu hét và ném theo các thứ họ có sẵn trong tay. Tên đao phủ nhanh chóng đặt bàn tay một tù nhân khác lên cục gỗ, rồi bằng nhát kiếm đầu hắn chỉ chặt đi một ngón tay cái thôi. Hình như chỉ có cách đó mới làm yên được đám đông.

Người Anh lách qua được đám đông nhốn nháo ra đến ngoài quảng trường, và người bạn cùng đi với ông ta cũng ra theo.

Chuyện gì thế, Edquard?

Chú bé này này nó là người Ba- lan và trốn khỏi nước Nga. Tôi nói với tên sĩ quan trong kia bảo nó là người Anh, vì vậy nó thuộc thẩm quyền của chúng ta.

Bây giờ hãy đưa nó về sứ quán rồi tìm hiểu xem nó có nói thật hay không.

Wladek chạy theo giữa hai người rảo bước qua chợ và đi vào phố Bẩy ông Vua. Anh vẫn còn nghe loáng thoáng tiếng người trong đám đông mỗi khi lưỡi kiếm của tên đao phủ hạ xuống lại reo hò tán thưởng.

Hai người Anh đi qua một cái cổng cuốn vào một mảnh sân rải sỏi và đến trước một ngôi nhà lớn quét sơn màu xám. Họ bảo Wladek đi theo. Trên cửa có tấm biển đề ĐẠi SỨ QUÁN ANH. Bước vào trong nhà rồi, Wladek mới cảm thấy an toàn. Anh đi theo sau hai người qua một dãy hành lang dài trên tường có treo những bức tranh vẽ lính và thủy thủ ăn mặc rất lạ Ở cuối hành lang là bức chân dung một người già trong bộ quân phục màu xanh của Hải quân và trên ngực đeo rất nhiều huân chương. Bộ râu của nglrời đó khiến Wladek nhớ đến Nam tước. Một người lính ở đâu bước ra chào.

- Ông cai Smithers, ông nhận lấy chú bé này, cho nó đi tắm. Rồi cho nó ăn ở trong bếp. Bao giờ nó ăn xong và đỡ cái mùi hôi thối thì ông kiếm cho nó vài cái quần áo mới rồi dẫn nó lên chỗ tôi nhé.

- Thưa vâng, - Ông cai nói và lại giơ tay chào.

- Cậu bé, đi theo tôi. - Ông ta bước đi và Wladek ngoan ngoãn theo sau. Anh phải chạy mới theo kịp bước chân ông ta được. Ông ta đưa anh xuống tầng hầm sứ quán và dẫn vào một căn phòng nhỏ, có cửa sổ bé tí. Ông ta bảo anh cởi quần áo ra rồi chờ đó. Lát sau ông ta quay lại với mấy chiếc quần áo mới, nhưng thấy Wladek vẫn mặc nguyên quần áo và ngồi ở cạnh giường xoay xoay chiếc vòng bạc quanh cổ tay.

- Nhanh lên cậu bé. Đây không phải chỗ dưỡng bệnh nhé.

- Xin lỗi ngài ạ. - Wladek nói.

- Đừng gọi tôi là ngài. Tôi là ông Cai Smithers. Gọi tôi là Cai thôi. _ - Dạ, tôi là Wladek Khônggkiequicz. Ông gọi tôi là Wladek - - Này, đừng có đùa. Trong quân đội Anh đã có khối người đùa rồi, không cần phải có thêm cậu vào đấy nữa.

Wladek không hiều ông ta nói gì. Anh vội cởi quần áo.

- Theo tôi nhanh lên. Wladek lại được tắm một lần tắm tuyệt vời với xà phòng và nước nóng. Wladek nghĩ đến người đàn bà Nga đã che chở cho anh. Suýt nữa thì anh đã trở thành con trai bà ta, nếu như không có chồng bà ta.

Và lại một bộ quần áo mới nữa. Lạ, nhưng sạch sẽ thơm tho. Không biết nó là của con ai thế nhỉ. Nhưng kia, ông ấy đã đến rồi kìa.

ông cai Smithers dẫn Wladek vào bếp và giao anh cho một bà làm bếp to béo có bộ mặt hồng hào, một bộ mặt dễ thương nhất kể từ khi anh rời đất Ba lan đến giờ. Bà ta khiến anh nhớ đến mẹ nuôi nhưng không biết bây giờ bà đã ra sao ở Trại 201 rồi.

- Chào chú, - Bà ta tươi cười nói, - Tên chú là gì nào?.

Wladek xưng tên.

- Này chú, tôi sẽ cho chú ăn một bữa đàng hoàng của người Anh, chứ những cái món Thồ Nhĩ Kỳ ở đây là không ăn được đâu. Bắt đầu bằng súp nóng với thịt bò. Trước khi đi gặp ông Prendergast, thì chú phải chén cho đã vào chứ. - bà ta cười " Chú nhớ là đừng có sợ Ông ấy nghe không. Mặc dầu ông ấy là người Anh, nhưng ông ấy cũng khá tốt bụng đấy.

- Thế bà không phải người Anh ư? - Wladek ngạc nhiên hỏi.

- Trời ơi, không đâu chú ạ. Tôi là người Xcốt- len. Khác lắm chứ. Người Xcốt- len chúng tôi ghét người Anh hơn cả bọn Đức ghét người Anh nữa kia, - Bà ta vừa nói vừa cười. Bà ta đặt xuống trước mặt Wladek một đĩa súp nóng có rất nhiều thịt và rau trong đó.

Anh đã hoàn toàn quên mất rằng thức ăn có thể thơm và ngon như vậy. Anh ăn từ từ, trong bụng chỉ sợ rằng có thể còn rất lâu nữa mới lại được ăn như thế này.

ông Cai lại? xuất hiện.

- Cậu bé ăn no chưa?

- Dạ, no rồi, cảm ơn ông lắm.

ông Cai nhìn Wladek với vẻ nghi hoặc, nhưng thấy Wladek không có vẻ đùa, bèn nói:

- Tốt. Thôi, Bây giờ đi thôi. Phải lên trình diện với ông Prendergast cho sớm.

ông Cai đã đi khuất sau cửa bếp nhưng Wladek còn nán lại nhìn bà bếp. Anh rất không thích chia tay với người nào mới gặp, nhất là người đó lại tốt với mình.

Thôi chú đi đi, chúc chú gặp may nhé. - Cảm ơn bà, - Wladek nói. Thức ăn của bà là ngon nhất. Tôi sẽ nhớ mãi.

Bà bếp nhìn anh mỉm cười. Anh lại phải nhẩy cà nhắc để chạy theo ông cai có những bước đi rất dài.

ông ta dừng lại bất ngờ trước một khung cửa khiến Wladek suýt đâm sầm vào. Này, cậu bé cẩn thận đấy, phải nhìn chứ. Ông ta đưa tay lên gại vào cửa.

- Vào - Một giọng nói bên trong vẳng ra. Ông cai mở cửa và chào.

- Cậu bé Ba lan, thưa ngài. Đã tắm rửa ăn uống tử tế rồi.

- Cảm ơn ông Cai. Có lẽ nhờ ông nói giùm với ông Grant bảo ông cùng đến đây cho.

Eđquart Prendergast ngồi phía sau bàn giấy nhìn lên. Ông ta ra hiệu cho Wladek ngồi xuống. Ông không nói gì và lại tiếp tục xem giấy tờ. Wladek ngồi nhìn ông ta rồi lại nhìn lên nhữag bức chân dung trên tường. Lại thấy những ông tướng và đô đốc và cả ông có râu anh đã thấy lúc trước, nhưng trong tranh này ông ta mặc quần áo ka- ki của quân đội. Vài phút sau, một người Anh khác mà anh nhớ là đã thấy ở ngoài chợ bước vào phòng.

Cảm ơn anh cùng đến, Harry. Mời anh ngồi. - Ông Prendergast quay sang Wladek. - Nào, chú bé, bây giờ chú nói lại từ đầu đi xem nào. Chú phải nói đúng sự thật, không được nói quá, hiểu không?

- Thưa ông vâng.

Wladek bắt đầu câu chuyện từ những ngày sống ở Ba lan. Anh phải dừng lại một đôi chỗ để tìm cho đúng những từ tiếng Anh. Cứ xem nét mặt hai người Anh này, Wladek cũng thấy là lúc đầu họ tỏ ra không tin. Thỉnh thoảng họ ngắt lời và hỏi anh vài câu hỏi, rồi nhìn nhau gật đầu sau khi anh trả lời. Sau một giờ nói chuyện, những điều Wladek kể mới đi đến chỗ lúc này anh đang ngồi trong cơ quan lãnh sự của Nữ hoàng Anh tại Thổ Nhĩ Kỳ.

- Harry ạ, - Ông phó lãnh sự nói, - Tôi nghĩ bổn phận chúng ta là phải báo ngay cho đoàn Ba- lan biết rồi trao chú Khôngskiequicz này lại cho họ. Tôi thấy trong trường hợp này thì dứt khoát đó là trách nhiệm của họ.

- Đồng ý, - Người có tên là Harry nói. - Chú bé này, hôm nay chỉ một suýt nữa là chú chết ở ngoài chợ. Cái luật Hồi giáo đã cũ này, người ta gọi là Sher, quy định hễ ai ăn cắp là phải chặt một tay, về lý thuyết mà nói, đã bị chính thức bãi bỏ từ lâu rồi. Thực ra, trong bộ luật hình ottoman thì xử như thế là phạm tội ác rồi. Tuy nhiên, trên thực tế thì bọn man rợ vẫn tiếp tục thực hiện điều đó. - Ông ta nhún vai.

Tại sao họ không chặt tay tôi? - Wladek hỏi và ôm lấy cổ tay.

- Tôi bảo họ là muốn chặt tay tất cả những người Hồi giáo thì tuỳ, nhưng không được chặt tay người Anh, - Edquard Prendergast nói.

- Ôi tạ Ơn Chúa, - Wladek nói.

- Tạ Ơn Edquard Prendergast chứ, ông phó lãnh sự nói và bây giờ ông ta mới mỉm cười. - Đêm nay chú có thể nghỉ lại đây, rồi mai chúng tôi sẽ đưa sang đoàn đại diện bên đó. Người Ba lan không có sứ quán ở Constantinople, - Ông ta nói bằng một giọng hơi khinh thường, - Nhưng ông bạn đồng sự của tôi bên đó là một người tốt, vì là người ngoại quốc. - Ông ta bấm chuông gọi, và ông cai xuất hiện ngay.

- Ngài gọi gì ạ.

- Ông Cai, ông đưa chú bé Khôngskiequicz này về phòng. Sáng mai cho chú ấy ăn sáng rồi chín giờ đúng đưa đến chỗ tôi.

- Vâng. Đi lối này, cậu bé, mau lên.

Wladek đi theo ông cai. Anh không kịp cảm ơn hai người Anh đã cứu cho bàn tay của anh, có lẽ cứu cả mạng sống của anh nữa. Trở về căn phòng nhỏ có chiếc giường sạch sẽ chẳng khác gì như anh là khách danh dự Ở đây, anh cởi quần áo ra, vứt chiếc gối xuống sàn rồi lăn ra ngủ một mạch cho đến tận sáng hôm sau khi mặt trời chiếu vào qua khung cửa sổ nhỏ tí.

Dậy rửa mặt, cậu bé, rnau lên.

Đó là ông cai, mặc bộ quân phục trắng bong và là thẳng tắp, như ông ta không nằm giường bao giờ.

Trong khoảnh khắc bừng tỉnh dậy, Wladek tưởng như mình đang còn trong Trại 201, vì tiếng đập bằng chiếc gậy của ông cai vào khung giường sắt giống như tiếng gõ của thanh sắt tam giác mà Wladek vẫn nghe quen trong trại. Anh trườn ra khỏi giường và vơ lấy quần áo.

- Đi rửa đã, cậu bé, đi rửa đã. Chúng ta không nên đề cho ông Prendergast sáng sớm ra phải ngửi cái mùi của cậu, phải thế không nào?

Wladek không biết là mình phải rửa ráy như thế nào nữa, vì anh thấy đã sạch lắm rồi. Ông cai chăm chú nhìn anh.

- Chân cậu làm sao thế?

- Không sao, không sao, - Wladek nói và quay mặt đi chỗ khác.

- Thôi được, ba phút sau tôi trở lại. Ba phút đấy, nghe không? Phải sửa soạn cho xong đấy. Wlađek rửa tay rửa mặt thật nhanh rồi mặc quần áo Anh ngồi ở đầu giường ôm chiếc áo lông cừu chờ ông cai đến đưa anh đi gặp ông phó lãnh sự. Ông Prendergast tỏ vẻ ôn hòa hơn hôm qua rất nhiều.

- Chào chú Khôngskiequicz.

- Dạ thưa chào ông.

Chú ăn sáng ngon không - Dạ tôi không ăn sáng,. thưa ông?

- Tại sao không? - Ông phó lãnh sự nói, và quay sang nhìn ông cai.

Ngủ quá giờ, thưa ngài. Nếu ăn sẽ đến muộn.

- Ồ thế thì phải làm thế nào chứ nhỉ. Ông cai, nhờ ông nói với bà Henderson đem cho một quả táo hay cái gì đó - Vâng, thưa ngài.

Wladek cùng ông phó lãnh sự chậm chạp bước theo hành lang đi ra phía cửa sứ quán, rồi đi tiếp qua sân rải sỏi ra một chiếc xe đỗ bên ngoài. Đó là chiếc xe Austin, một trong những xe hiếm có ở Thổ Nhĩ Kỳ và cũng là lần đầu tiên Wladek được ngồi trên một chiếc xe riêng. Anh lấy làm tiếc phải rời sứ quán Anh. Đây là nơi an toàn đầu tiên mà từ bao nhiên năm nay anh mới cảm thấy được. Anh không biết là suốt đời mình còn có dịp nào được ngủ một đêm nữa trên chiếc giường như ở đó nữa không. Ông cai chạy xuống ngồi vào tay lái. Ông đưa cho Wladek một quả táo với vài tấm bánh còn nóng.

- Cậu ăn đi và đừng để vãi trong xe nhé. Bà bếp gởi lời chào cậu đấy.

Chiếc xe từ từ chạy qua những phố đông đúc và nóng nực. Tốc độ như người đi bộ. Người Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn cho rằng chẳng có gì có thể đi nhanh hơn một con lạc đà, vì vậy họ cũng không tránh đường cho chiếc xe Austin đi lên làm gì. Xe mở tất cả các cửa kính mà Wladek vẫn thấy nóng đến ngạt thở, nhưng ông Prendergast thì vẫn cứ tỉnh như không, không hề tỏ ra khó chịu gì. Wlađek chúi người vào sau xe, sợ có ai đã chứng kiến sự việc hôm trước và nhận ra anh trong xe có thể lại hô hoán lên chăng. Chiếc xe Austin nhỏ và sơn đen đỗ lại trước một ngôi nhà nhỏ đã cũ có biển đề LÃNH SỰ QUÁN BA- LAN. Wladek cảm thấy xúc động pha lẫn với thất vọng.

Cả ba người bước xuống xe.

- Hạt táo đâu, cậu bé, - Ông cai hỏi.

- Tôi ăn rồi.

ông cai cười rồi gõ cửa. Một người đàn ông nhỏ bé, tóc đen, cằm vuông và có vẻ thân mật ra mở cửa. Ông ta mặc áo sơ- mi ngắn tay, người sạm đen, rõ ràng là do cái nắng Thổ Nhĩ Kỳ. Ông ta nói tiếng Ba Lan.

Đây là những tiếng mẹ đẻ đầu tiên Wladek được nghe thấy kể từ hôm rời trại giam đến nay. Wladek nhanh chóng trả lời ngay và giải thích tại sao anh đến đây. Ông ta quay sang ông phó lãnh sự Anh.

- Xin mời ông đi lối này, ông Prendergast , - Ông ta nói tiếng Anh rất thạo. - Ông đích thân đưa cậu bé đến đây, thật là quý hóa quá.

Họ trao đổi với nhau vài câu ngoại ngữ lịch sự rồi ông Prendergast và ông cai ra về. Wladek nhìn theo họ, cố nghĩ ra xem có câu tiếng Anh nào nói đầy đủ hơn chữ "Cảm ơn" không. Ông Prendergast thân mật xoa lên đầu Wladek. Ông ra theo ông Cai rồi nháy mắt nói với Wladek.

- Chúc chú may mắn nhé. Chúa phù hộ cho chú được hưởng may mắn đấy.

ông lãnh sự Ba lan tự giới thiệu mình với Wladek là Paquel Zaleski. Wladek lại một lần nữa kể lại câu chuyện của mình và anh thấy mô tả bằng tiếng Ba Lan dễ hơn tiếng Anh nhiều. Paquel Zaleski yên lặng nghe anh nói, và lắc đầu buồn bã.

- Tội nghiệp chú quá, - Ông- Khẽ nói. - Chú còn trẻ thế mà đã phải chịu đựng quá nhiều cái đau khổ của đất nước ta. Bây giờ phải làm gì cho chú đây?

- Tôi phải trở về Ba lan để đòi lại cái lâu đài của tôi - Wladek nói.

- Ba Lan ư - Paquel Zaleski nói. - Đó là đâu? - Mảnh đất chú đã sống ấy hiện nay còn đang tranh chấp, và chiến sự còn đang nổ ra giữa người Ba Lan với người Nga. Tướng Pilsudski còn đang làm mọi cách để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc chúng ta. Nhưng nếu chúng ta lạc quan thì sẽ là điên rồ. Ở Ba Lan bây giờ chẳng còn mấy chút gì cho chú đâu.

Không, điều tốt nhất cho chú bây giờ là bắt đầu một cuộc sống mới hoặc ở Anh hoặc ở Mỹ.

Nhưng tôi không muốn đi sang Anh hay sang Mỹ. Tôi là người Ba lan.

- Chú vẫn cứ là Ba lah, Wladek ạ. Dù chú quyết định sống ở đâu thì cũng chẳng ai lấy đi được cái danh nghĩa đó của chú. Nhưng chú phải thực tế đối với cuộc sống của mình, mà cuộc sống ấy bây giờ mới chỉ là bắt đầu thôi.

Wladek cúi đầu thất vọng. Anh đã phải trải qua tất cả những điều trên đây để rồi bây giờ được nghe nói là sẽ chẳng bao giờ trở lại với quê cha đất tổ nữa hay sao? Anh cố nín không khóc.

Paquel Zaleski quàng tay ôm lấy vai anh. Chú đừng bao giờ quên rằng chú là một trong những người may mắn đã có thể trốn thoát và sống sót được Chú chỉ cần nhớ đến ông bạn bác sĩ Dubien để thấy rằng cuộc sống có thể như thế nào.

Wladek không nói gì.

- Bây giờ chú phải gạt bỏ tất cả những chuyện quá khứ lại phía sau, vả chỉ nên nghĩ đến tương lai thôi. Có thể, trong đời chú, một ngày kia lại trông thấy đất nước Ba Lan đứng dậy, mà điều đó thì ai cũng mong muốn lắm.

Wladek vẫn im lặng, không nói gì.

- Nhưng thôi, chú không cần phải có ngay một quyết định gì, - Ông lãnh sự thân mật nói. - Chú có thể ở lại đây muốn bao lâu cũng được, rồi sẽ tính đến tương lai của chú sau.
 
Chương 10
 
 
Tương lai là điều Anne lấy làm lo ngại. Mấy tháng đầu lấy nhau là hạnh phúc. Chị chỉ hơi phiền về chuyện William mỗi lúc một tỏ ra không ưa Henry, còn anh chồng mới của chị xem ra cũng chưa thể làm việc ngay được. Henry có phần nào không yên, giải thích cho Anne biết là đến bây giờ anh vẫn còn bị chiến tranh làm cho chệch choạc, và anh không muốn vội vã lao vào một cái gì đó để rồi bị kẹt suốt cả đời. Chị nghe nói thế không thông, và cuối cùng thì hai người bắt đầu cãi lộn.

- Em không hiểu tại sao anh không tiếp tục cái nghề kinh doanh nhà đất mà anh đã thông thạo rồi ấy Henry.

- Anh không thề. Mà cũng chưa đến lúc. Thị trường nhà đất lúc này không có vẻ hứa hẹn gì lắm.

- Gần một năm nay anh vẫn cứ nói đi nói lại câu đó Không biết đến bao giờ anh mới cho là hứa hẹn được Nhất định sẽ hứa hẹn chứ. Sự thực là anh cần có thêm chút vốn liếng nữa mới khởi sự được. Nếu em cho anh có được ít tiền của em, thì ngay ngày mai anh khởi? sự được ngay.

- Điều đó là không được Henry. Anh biết những điều khoản trong di chúc của Richard rồi:

Chúng ta lấy nhau là lập tức trợ cấp của em bị chấm dứt, và bây giờ thì chỉ còn lại có vốn riêng thôi.

Chỉ cần một chút đó thôi là gìúp cho anh làm ăn được rồi, mà em cũng đừng quên là cái thằng bé yêu quý ấy của em còn có trên hai mươi triệu tiền ủy thác của gia đình.

- Hình như anh biết kỹ về tiền của William lắm nhỉ, Anne nói với một giọng nghi hoặc.

Thôi đi, em. Em cũng phải cho anh được làm chồng của em chứ. Đừng làm anh cảm thấy như mình là khách trong nhà của chính mình.

Vậy tiền của anh đâu? Anh vẫn nói để em tin rắng anh có đủ tiền làm ăn rồi kia mà.

Em vẫn biết là về mặt tài chinh thì anh không thể đứng vào hạng của Richard được. Mà trước đây đã có lúc em nói rằng điều đó không quan trọng. Em vẫn sẽ lấy anh, Henry, dù anh không có một xu nào - Anh nhại lại cái giọng của Anne.

Aune bật khóc. Henry tìm cách an ủi. Cả buổi tối đó chị nằm trong vòng tay của anh bàn đi bàn lại chuyện ấy. Aune nghĩ .bụng mình làm như vậy thì không phải là người vợ, và cũng không rộng rãi gì lắm. Chị có nhiều tiền hơn là chị cần. Chẳng lẽ chị không trao được một ít cho người đàn ông mà chị nguyện đã trao cả cuộc đời mình cho anh ta hay sao?

Nghĩ thế, chị đồng ý cho Henry 100 nghìn đô- la để anh ta thiết lập một văn phòng nhà đất ở BoBton. Trong vòng một tháng, Henry đã tìm được địa điểm làm văn phòng rất đẹp trong khu hiện đại của thành phố, kiếm một số nhân viên và khởi sự làm việc.

Chẳng bao lâu anh đã quan hệ được với những chính khách quan trọng của thành phố và những vị kinh doanh nhà đất khác ở Boston. Họ bàn tán với nhau về chuyện ruộng đất đang phát triển mạnh và tỏ ra ca tụng Henry. Anne không quan tâm lắm về những mối quan hệ xă hội ấy, nhưng Henry thì sung sướng và có vẻ như anh rất thành công trong nhữug hoạt động của mình.

Khi Wilham mười lăm tuổi thì anh đã học năm thứ ba ở trường St.Paul, đứng thứ sáu trong lớp và đứng đầu về toán Anh cũng trở thành một nhân vật đang nổi trong Hội Tranh Luận Mỗi tuần, anh viết thư về cho mẹ một lần để báo cáo về việc học hành của mình. Thư nào anh cũng chỉ đề ngoài bì là bà Richard Kane, không thừa nhận là có Henry osborne. Anne phân vân không biết có nên nhắc nhở điều đó với con không. Mỗi buổi sáng thứ hai, chị cẩn thận ra hòm thư để lấy thư của William gửi về, cốt để cho Henry khỏi trông thấy chữ đề trên phong bì. Chị vẫn hy vọng là đến một lúc William sẽ thấy thích Helry. Nhưng rõ ràng hy vọng đó là không thực tế, nhất là khi viết thư về nhà William có một lần xin phép mẹ cho anh cùng đi nghỉ hè với người bạn là Matthequ Lester, lúc đầu là đi trại hè ở Vermont và sau đó là về với gia đình của Lester ở New York. Yêu cầu đó của anh làm cho Anne thấy đau buồn, nhưng rồi chị cũng đành chấp thuận và Henry hình như cũng tán thành như vậy.

William rất ghét Henry osborne và cứ nuôi trong lòng sự căm giận ấy mà không biết mình phải làm thế nào. Anh mừng thầm là Henry không bao giờ đến trường thăm anh. Anh không thể nào chịu được để cho các bạn khác trông thấy, mẹ anh đi với con người ấy Anh lấy làm khổ tâm phải sống với Henry ở Boston.

Lần đầu tiên kề từ sau khi mẹ anh tái giá, William nóng ruột muốn cho những ngày hè đến sớm. Chiếc xe Packard của nhà Lester có người lái và chạy rất êm đưa William và Matthequ đến trại hè ở vermont. Trên đường đi, Matthequ bỗng hỏi Wlliam là ở trường St. Paul ra anh sẽ làm gì..

- Lúc ra trường, mình sẽ đứng đầu lớp, là trưởng lớp và mình sẽ giành được danh hiệu nhận giải thứởng học bổng Hamilton về toán để lên Harvard, Wilham trả lời không hề lúng túng.

- Tại sao lại quan trọng thế - Metthequ ngớ ngẩn hỏi.

Bố mình ngày xưa đạt được cả ba điều ấy.

- Vậy khi nào cậu làm được như thế, mình sẽ giới thiệu cậu với bố mình.

William mỉm cười.

Hai anh chàng thanh niên này sống sáu tuần vui vẻ và hoạt động sôi nổi ở Vermont, từ đánh cờ đến đá bóng. Hết kỳ nghỉ ở đây, họ lại quay về New York sống nốt một tháng hè nữa với gia đình Lester.

Người quản gia đứng sẵn ở cửa ra đón họ. Ông ta gọi Matthequ là "ông". Một cô gái mười hai tuổi mặt đầy tàn nhang thì gọi anh là "Béo". Wilham buồn cười, vì bạn anh thì gầy, mà chính cô ta mới là béo. Cô gái cười nhe bộ răng gần như bịt hết. ' Chắc cậu không tin rằng Susan là em gái mình đâu nhỉ - Matthequ nói với một vẻ khinh thường cô em.

- Không, mình không blết, William nói và nhìn Susan cười. - Cô em trông còn xinh hơn cậu nhiều.

Từ đó trở đi, cô ta rất quý Wllliam.

Wilham mới gặp bố Matthequ đã thích ông ta ngay. Anh thấy ông có nhiều cái rất giống với bố mình trước kia. Anh đề nghị ngay với ông Charles Lester cho anh được xem nhà ngân hàng lớn mà ông làm chủ tịch.

Charles Lester suy nghĩ mãi về yêu cầu đó của anh. Xưa nay chưa có đứa nhỏ nào được phép vào đến khu vực 17 phố Broad bao giờ, kể cả chính con ông. Ông bèn làm như mọi nhà ngân hàng khác là chiều chủ nhật đưa anh đi quanh các tòa nhà ở phố Wall vậy.

William phải hoa mắt về những cơ quan làm việc, những cửa cuốn, phòng ngoại hối, phòng họp của các vị lãnh đạo và văn phòng của chú tịch. Những hoạt động ngân hàng của nhà Lester còn rộng rãi sôi nổi hơn nhiều so với nhà Kane và Cabot. Wa tài khoản (đầu tư riêng rất nhỏ của mình, William vẫn nhận dược bản sao báo cáo hàng năm và anh biết rằng nhà lester còn có vốn hơn rất nhiều so với nhà Kane và Cabot. Ngồi trên xe trở về nhà, William yên lặng và có vẻ rất tư lự. ' - Thế nào, William, cháu xem ngân hàng có thích không? - Ông Charles Lester vui vẻ hỏi.

ồ thưa ông có, William đáp. - Cháu thích lắm. - Ngừng một lát, anh nói tiếp:

- Ông Lester ạ, một ngày kia cháu cũng muốn làm chủ tịch ngân hàng của ông.

Charles Lester cười. Tối hôm đó ngồi ăn với các vị khách mời đến nhà, ông cũng kể lại câu nói của William Kane đối với Công ty Lester và mọi người cười ran.

Chỉ có William thì không nghĩ rằng đó là một câu đùa.

Anne rất lạ thấy Henry lại về đòi chị bỏ thêm tiền ra nữa. - Tiền này cũng vững như ngôi nhà vậy, - Anh ta đảm bảo với chị. - Em cứ hỏi Alan Doyd xem. Là chủ tịch ngân hàng thì bao giờ ông ấy chả nghĩ đến lợi tức của em là chuyện hàng đầu.

- Nhưng còn hai trăm năm mười nghìn? - Anne hỏi.

- Một cơ hội tuyệt vời, em ơi. Em phải coi đó như một khoản đầu tư mà trong hai năm nó sẽ tăng lên gấp đôi.

Sau một hồi cãi lộn với nhau nữa, Anne lại phải đồng ý, và cuộc sống lại vui vẻ như cũ. Lúc kiềm tra lại tài khoản của mình trong ngân hàng. Anne thấy vốn đã tụt xuống còn có một trăm năm mươi nghìn. Nhưng chị cũng thấy hình như Henry vẫn làm ăn với nhưng người tử tế và thu chi đâu ra đấy. Chị định đem vấn đề ra bàn với Alan Lloyd bên nhà Kane và Cabot, nhưng nghĩ thế nào lại thôi, vì như vậy sẽ có nghĩa là chị không tin ở người chồng mà chị muốn để cho mọi người tôn trọng. Vả lại, Henry cũng đã chẳng đưa ra đề nghị ấy nếu như anh ta không chắc chắn là vụ vay mượn này không được sự tán thành của Alan.

Anne cũng lại bắt đầu thăm bác sĩ MacKenzie và hỏi xem chị có hy vọng gì đẻ được nữa không, nhưng bác sĩ vẫn khuyên chị là không nên. Với tình trạng huyết áp cao đă làm cho chị sẩy thai lần trước, Andrequ MacKenzie cho rằng ở cái tuổi ba mươi lăm thì Anne không nẽn nghĩ đến chuyện làm mẹ một lần nữa. Aune đem vấn đề bàn với các cụ bà nột ngoại thì các cụ hoàn toàn nhất trí với ý kiến của bác sĩ. Cả hai cụ chẳng ai muốn quan tâm gì đến Henry, và các cụ lại càng không muốn nghĩ đến chuyện mai kia một đứa con đẻ ra mang dòng họ Henry lại đòi được hưởng tài sản của họ nhà Kane, mà lúc đó các cụ. đã đi cả rồi thì làm sao. Anne đành chịu làm mẹ của một đứa con vậy. Henry thì lấy thế làm tức giận, bảo chị là phản bội. Anh ta nói giá như Richard còn sống thì chị đã đẻ nữa rồi. Chị nghĩ bụng không biết mình yêu ai hơn. Chị cố làm cho Henry yên lòng, thầm mong cho công việc của anh ta khấm khá lên và lúc nào cũng bận rộn để quên đi. Anh ta thường ở lại cơ quan làm việc rất khuya. vào một ngày thứ hai trong tháng Mười, tức là sau ngày nghỉ cuối tuần kỷ niệm hai năm hữ cưới nhau, Aime nhận được mấy lá thư của một "người bạn" không ký tên, báo cho chị biết là Henry đi với những phụ nữ khác ở quanh Boston, đặc biệt đi với một bà mà trong thư không tiện nói tên. Lúc đầu, Anne đốt ngay những bức thư ấy. Mặc dầu nó làm chị băn khoăn lo lắng, chị vẫn không nói gì với Henry cả. Lần nào nhận thư chì cũng mong đó là lá thư cuối cùng. Chị cũng vẫn không có đủ can đảm nói lên chuyện đó với Henry, nếu như không có việc Henry lại đòi chị bỏ ra nết số tiền 15 không.000 đô- la còn lại của chị.

Anh sẽ mất hết toàn bộ số vốn liếng nếu như không có được số tiền ấy bây giờ, Anne.

- Nhưng tất cả em chỉ còn có thế thôi, Henry. Nếu bây giờ đưa cho anh nữa thì em không còn gì hết.

Riêng ngôi nhà này thôi đã đáng giá trên hai trăm nghìn. Ngày mai em có thể đem cầm nó được.

- Ngôi nhà này là của Wilham.

William, Wilham, William. Bao giờ cũng chỉ có William cản trở hết cả công việc của tôi, - Henry quát lên và vùng vằng đi ra.

Mãi đến sau mười hai giờ đêm anh ta mới về nhà, tỏ vẻ hối hận, nói là đáng lẽ không nên đụng gì đến tiền của chị nữa, vì dù sao hai người cũng còn rất yêu nhau. Anne nghe anh ta nói thế rất yên tâm, rồi đến khuya hai người lại làm tình với nhau. Sáng hôm sau, chị ky luôn vào tờ séc 15 không.000 nghin đô- la, cố quên đi rằng mình chẳng còn một đồng nào nữa để cho Henry có thể tiếp tục theo đuổi vụ làm ăn của anh ta. Chị cũng hơi lạ thấy yêu cầu của Henry lần này đúng với số tiền còn lại trong gia tài chị được hưởng.

Tháng sau đó, Anne tắt kinh. Bác sĩ MacKenzie rất lo ngại nhưng không biểu lộ ra mặt. Các cụ bà thì hoảng hốt và lo ra mặt, nhưng Henry thì sung sướng và bảo Anne rằng đó là điều tuyệt diệu nhất trong cả đời anh ta. Anh ta còn đồng ý xây một khoa nhi cho bệnh viện, điều mà trước đây Richard đã định làm khi chưa qua đời.

Khi William nhận được thư mẹ báo tin đó, anh ngồi suy nghĩ suốt cả buổi tối, ngay cả với Mathequ anh cũng không dám nói gì về điều lo ngại. Sáng thứ bảy sau đó, được phép của chủ nhà trọ, ông Raglan Nóng Tính, anh đi xe lửa lên Boston. Đến nơi, anh rút một trăm đô- la trong quỹ tiết kiệm rồi đến văn phòng luật sư Cohen và Yablons ở phố Jephpherson. Ông Thomas Cohen, một người cao lớn, xương xương và có chiếc cằm bạnh, rất ngạc nhiên thấy William bước vào văn phòng ông ta.

- Tôi chưa bao giờ tiếp một người mười sáu tuổi như thế này, - Ông Cohen nói. - Với tôi thì chuyện này là rất mới đây. - Ông ta ngập ngừng nóị... - Ông Kane.

ông ta thấy nói "ông Kane" nó ngường ngượng thế nào ấy. - Nhất là ông nhà trước kia hình nhự... không biết tôi nên nói thế nào nhỉ... hình như không có cảm tình gì lắm đối với những người trong giáo phái của tôi.

- Cha tôi, - William nói, - Là một người rất khâm phục những thành tựu của dân tộc Hibru và đặc biệt quý trọng hãng của ông thì ông đứng ra bênh vực cho đối thủ của cha tôi. Tôi có nghe cha tôi và ông Doyd nhắc đến tên ông rất nhiều lần. Vì vậy mà hôm nay tôi tìm đến ông, chứ không phải ông tìm tôi. Như vậy ông đủ tin được chưa.

ông Cohen lập tức gạt bỏ chuyện tuổi William sang một bên.

- Đúng thế, đúng thế. Tôi nghĩ là phải coi con trai của Richard Kena như một ngoại lệ. Nào, bây giờ tôi có thể giúp anh được gì đây?

- Tôi muốn được ông trả lời cho tôi ba câu hỏi, thưa ông Cohen. Một là, tôi muốn biết nếu mẹ tôi, tức bà Henry osborne, đẻ ra một đứa con, dù là trai hay gái, thì đứa con đó có quyền hợp pháp gì đối với gia tài ủy thác của gia đình Kane hay không. Hai là, tôi có nghĩa vụ gì về mặt pháp lý đối với ông Henry osbome chỉ vì ông ấy lấy mẹ tôi hay không? Và ba là, đến tuổi nào thì tôi có quyền đòi ông Henry osborne phải rời khỏi ngôi nhà của tôi trên quảng trường Luisburg ở Boston?

Ngòi bút của ông Cohen chạy rất nhanh trên mảnh giấy để trước mặt, làm bắn cả mấy giọt mực xanh lên mặt bàn vốn đã có nhiều vết mực rồi.

William đặt một trăm đô- la lên mặt bàn. Ông luật sư sửng sốt nhưng vẫn cầm đồng tiền lên đếm. - Xin ông dùng tiền cho thận trọng, thưa ông Cohen. Lúc ra trường Harvard, tôi sẽ cần đến một luật sư giỏi - Anh đã được nhận vào trường Harvard rồi ư? Tôi xin chúc mừng. Tôi hy vọng con trai tôi cũng sẽ được vào đó Không, tôi chưa vào, nhưng trong hai năm nữa tôi sẽ vào Một tuần nữa tôi sẽ trở lại Boston, thưa ông Cohen. Nếu trong đời tôi còn nghe thấy ai nói đến chuyện này ngoài ông ra, thì coi như quan hệ giữa ông với tôi chấm dứt đấy. Xin chào ông.

Lẽ ra Thomas Cohen cũng phải chào lại, nhưng ông chưa kịp thốt ra lời nào thì William đã ra ngoài và cánh cửa đã khép sau lưng anh rồi.

Bảy ngày sau, William trở lại văn phòng luật sư Cohen và Yablons.

- A, chào ông Kane, - Thomas Cohen nói - Rất mừng gặp lại ông. Ông uống cà phê chứ?

Không ạ, xin cảm ơn ông. ,Tôi cho người đi mua Coca- cola về nhé?

Mặt William phớt tỉnh.

- Thôi ta làm việc vậy, - Ông Cohen nói với vẻ hơi lúng túng. - Ông Kane, chúng tôi đã cho đi điều tra với sự giúp đỡ của một số người. Những câu hỏi ông nêu ra không hoàn toàn thuộc về lĩnh vực kinh viện.

Tôi nghĩ là có thể có được những câu trả lời chắc chắn cho tất cả những câu hỏi ông nêu ra. Ông hỏi nếu như đứa con mà mẹ Ông đẻ ra cho ông osborne thì đứa con đó có được quyền hưởng gì tài sản của họ Kane hay không, hay nói đúng hơn là tài sản được ủy thác do cha ông để lại. Câu trả lời đơn giản là không, nhưng cố nhiên bà osborne vẫn có thể để một phần trong số năm trăm nghìn đô- la do cha ông để lại cho bà và bà muốn đem nó cho ai thì tuỳ.

ông Cohen nhìn lên.

- Tuy nhiên, ông Kane ạ, có lẽ ông cũng muốn biết rằng mẹ Ông đã rút hết toàn bộ số tiền năm nghìn trong tài khoản ấy của bà ở ngân hàng Kane và Cabot trong mười tám tháng qua rồi, nhưng chúng tôi thì không sao tìm ra được là số tiền ấy đã được dùng như thế nào. Rất có thể là bà ấy đã quyết định gửi số tiền ấy sang một ngân hàng khác.

William tỏ vẻ khó chịu. Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự mất bình tĩnh mà Thomas Cohen thấv được ở anh.

- Không có lý gì bà ấy làm thế, - William nói. - Tiền chỉ có thể vào tay một người.

ông luật sư ngồi im chờ anh nói nữa. Nhưng Wiìliam chững lại không nói gì thêm. Ông Cohen lại tiếp tục - Trả lời cho câu hỏi thứ'hai của ông là:

ông không có bất cứ nghĩa vụ gì, dù là cá nhân hay pháp nhân, đối với ông Henry osbome hết. Theo những điều khoản trong di chúc của cha ông, thì mẹ Ông là người được ủy thác quản lý nhà đất cùng với ông Alan Uoyd và bà John Preston là những cha mẹ đỡ đầu hãy còn sống, cho đến khi ông hai mươi mốt tuổi.

Thomas Cohen lại nhìn lên. William không biểu lộ gì trên mặt. Ông Cohen biết như vậy là cứ tiếp tục nói nốt.

- Và thứ ba là:

ông không thể nào đuổi được ông osborne ra khỏi ngôi nhà trên đồi Beacon chừng nào ông ta vẫn còn lấy mẹ Ông và tiếp tục sống với bà ấy.

Khi nào bà ấy chết thì ngôi nhà này tự nhiên thuộc về ông. Đến lúc đó, nếu ông ta còn sống, thì ông có thể yêu cầu ông ta đi được. Tôi nghĩ như vậy là đã trả lời được hết những câu hỏi của ông rồi đó, ông Kane.

Xin cám ơn ông, ông Cohen, William nói. - Tôi cảm tạ Ông về hỉệu quả và sự kín dáo của ông trong vấn đề này. Bây giờ, xin ông cho biết tôi phải trả ông bao nhiêu tiền?

- Một trăm đô- la thì không hoàn toàn bao được hết công việc này, ông Kane ạ. Nhưng chúng tôi tin ở tương lai của ông, và...

- Tôi không muốn mang ơn đối với bất cứ ai, thưa ông Cohen. Xin ông cứ coi tôi như một người mà không bao giờ ông còn phải bận tâm đến nữa. Như vậy tôi còn thiếu bao nhiêu, xin ông cứ cho biết.

ông Cohen suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Nếu vậy thì chúng tôi tính ông hai trăm hai mươi đôla.

William rút trong ttú ra sáu tờ bạc 20 đôla đưa cho ông Cohen. Lần này, ông luật sư không đếm nữa.

Tôi rất cảm ơn ông giúp đỡ, thưa ông Cohen. Tôi tin chắc chúng ta sẽ còn gặp nhau nữa. Xin chào ông.

- Xin chào ông Kane. Tôi có thể nói mặc dầu chưa có vinh dự được gặp người cha kính yêu của ông trước đây nhưng làm việc với ông thì tôi tưởng như đã có vinh dự đó rồi.

Wilham mỉm cười và dịu giọng xuống.

Xin cảm ơn ông.

Để chuẩn bị cho đứa bé ra đời, Anne lúc nào cũng bận rộn. Chị thấy dễ mệt và cứ làm gì một chút là lại nghỉ. Mỗi khi chị hỏi Henry xem làm ăn thế nào, anh ta đều có sẵn những câu trả lời có lý để làm chị yên tâm mọi thứ đâu vào đấy, nhưng không cho chị biết bất cứ một chi tiết cụ thể nào.

Rồi đến một buổi sáng lại có những bức thư nặc danh gửi đến. Lần này, thư viết rõ ràng tên tuổi những người đàn bà và cả những chỗ mà họ đi với Henry. Anne đốt ngay những thư đó mà không cần nhớ những chỗ nào. Chị không muốn tin là chồng chị lại có thể không trung thành trong lúc chị mang thai như vậy. Hẳn là có ai ghen ghét gì đó đối với Henry nên họ phải bịa ra thế thôi.

Những thư nặc danh ấy vẫn tiếp tục gửi đến, đôi khi có những tên mới được nêu lên. Aune vẫn cứ hủy đi nhưng bây giờ nó bắt đầu khiến chị phải bận tâm. Chị muốn đem chuyện đó tâm sự nhưng không nghĩ ra được có thể nói với ai. Các cụ bà mà nghe thấy chuyện này hẳn sẽ hoảng loạn cả lên, mà vốn các cụ đă có sẵn thành kiến với Henry rồi. Alan Lloyd ở ngân hàng thì không thể hiểu được chuyện này vì ông ta chả lấy vợ bao giờ, còn William thì lại quá trẻ.

Không có ai thích hợp để nói chuyện. Anne nghĩ đến việc đi hỏi một bác sĩ khoa tâm thần sau khi nghe một bài giảng của Siglnund Phreud, nhưng rồi chị lại nghĩ một người của dòng họ Cabot không bao giờ có thể đem chuyện riêng gia đình ra nói với người hoàn toàn xa lạ được.

Vấn đề cuối cùng đã đi đến một tình hình mà Anne không tính trước được. Trong một buổi sáng thứ hai, chị nhận được ba lá thư. Một lá như mọi khi Wilìiam gửi về đề cho bà Richard Kane và hỏi xem anh có thể đi nghỉ hè với anh bạn Matthequ Lester được nữa không. Một thư nặc danh nữa nói Henry đang có chuyện dan díu vớị... Milly Preston. Còn lá thư thứ ba là của Alan Lloyd, chủ tịch ngân hàng, viết nhắn chị gọi điện thoại và hẹn ngày cho ông ta gặp có chút việc Anne mệt mỏi ngồi xuống đọc lại một lần nữa cả ba bức thư. Thư của William tỏ ra xa cách khỉến chị nhói đau. Chị lấy làm buồn thấy con muốn đi nghỉ hè với Matthequ Lester hơn. Từ khi chị tái giá lấy Henry, hai mẹ con mỗi ngày một cách biệt. Bức thư nặc danh nói Henry đang dan díu với người? bạn thân nhất của chị là điều chị khó có thể không biết đến. Anne không thể không nhớ rằng chính Milly là người đã giới thiệu chị với Henry, và cũng là mẹ đỡ đầu của William. Bức thư thứ ba của Alan Lloyd hiện nay đã là chủ tịch của ngân hàng Kane và Cabot sau khi Richard qua đời, khiến chị rất phân vân. Bức thư duy nhất chị nhận được của Alan trước đây là thư chia buồn vể cái chết của Richard. Chị ngờ rằng thư này chỉ có thể là tin buồn hơn nữa mà thôi.

Chị gọi điện thoại cho ngân hàng. Tổng đài chuyển ngay cho chị.

Alan, ông muốn gặp tôi phải không?

- Vâng, chị ạ. Tôi muốn trao đồi một tí. Chị thấy lúc nào tiện Có phải tin dữ không đấy? - Anne hỏi.

Không hẳn đâu, nhưng tôi không muốn nói trên điện thoại. Không có điều gì khiến chị phải lo đâu.

Chị có thể ăn trưa với tôi được không - Được chứ, Alan.

- Vậy ta sẽ gặp ở nhà hàng Ritz vào một giờ. Chốc nữa gặp lại chị nhé.

Một giờ. Từ đây đến lúc đó chỉ còn ba tiếng. Óc chị nghĩ luẩn quẩn từ Alan đến William đến Henry nhưng rồi dừng lại ở Milly Preston. Có thể là thật chăng? Anne quyết định tắm nước nóng ấm một lúc lâu rồi mặc bộ áo mới vào người. Nhưng không thay đổi gì được Chị cảm thấy mình đã bắt đầu bệu lên.

Da dẻ, tay chân, trước đây thon thả lịch sự là thế, bây gỉờ đã trở nên phục phịch và có nhữag nốt tím đỏ. Chị lo sợ không biết trước khi đẻ thì người chị sẽ ra thế nào nữa. Chị nhìn mình trong gương thở dài và cố sửa sang lại bề ngoài cho dễ trông hơn một chút.

- Trông chị xôm lắm đấy, Anne. Giá như tôi không phải một anh già độc thân thì tôi sẽ tán tỉnh chị ngay mà không hề xấu hổ chút nào, nhà ngân hàng có bộ tóc trắng nói và hôn vào hai bên má chị, làm như một ông tướng người Pháp. Ông ta đưa chị vào ngồi ở bàn mình.

Chiếc bàn trong góc phòng ấy là chỗ chuyên dành cho ông chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot khi nào ông không ăn trưa ở ngay cơ quan. Trước kia Richard đã làm như vậy và bây giờ đến lượt Alan Lloyd. Đây là lần đầu Anna ngồi ăn ở bàn đó với một người khác.

Những người phục vụ nháo nhác chạy ra chạy vào nhưng không làm gì ảnh hưởng đến hai người nói chuyện.

Còn bao lâu nữa chị đẻ, Anne?

- Ồ phải còn ba tháng nữa.

- Tôi hy vọng là không rắc rối gì. Tôi nhớ là.... Bác sĩ vẫn gặp tôi mỗi tuần một lần và cứ nhăn nhó về chuyện áp huyết, nhưng tôi thì không lo quá đáng như thế.

- À thế thì tôi mừng cho chị - Ông ta nói và sờ vào tay chị như một bậc cha chú. - Nhưng tôi thấy chị có vẻ mệt mỏi đấy, chị đừng có làm cái gì quá nhiều.

Alan Lloyd khẽ giơ tay ra hiệu. Một người hầu bàn đến ngay bên cạnh và hai người gọi món ăn.

- Anne này, tôi muốn chị cho một vài lời khuyên Anne rất biết Alan Lloyd là người có tài ngoại giao. Chẳng phải ông ta ngồi ăn trưa với chị để mà nghe chị khuyên đâu. Hẳn là ông ta đến để khuyên chị điều gì đó thì đúng hơn.

- Chị có rõ những chương trình nhà đất của Henry tiến hành như thế nào không" - Không, tôi không biết, - Anne đáp. - Tôi chả bao giờ muốn dính đến những công việc làm ăn của Henry cả ông cũng nhớ đấy, tôi không dính gì đến những hoạt động của Richard. Nhưng sao? Có chuyện gì đáng phải lo ngại không?

- Không, không, chúng tôi ở ngân hàng thì không biết là có chuyện gì đáng lo cả. Trái lại chúng tôi biết là Henry đang có yêu cầu ký kết một hơp đồng lớn với thành phố để xây dựng một tổ hơp bệnh viện mới. Tôi hỏi chị thế là vì anh ấy có đến ngân hàng vay một khoản năm trăm nghìn đô- la.

Anne choáng người.

- Tôi biết là chuyện đó làm chị ngạc nhiên, - Ông ta nói. - Chúng tôi biết là trong tài khoản dự trữ của chị còn khoảng dưới hai chục nghìn, thế mà số tiền rút ra theo tên chị thì đã quá mười bảy nghìn rồi.

Anne bỏ thìa súp đang ăn xuống, hoảng hốt. Chị không ngờ là tình hình đến mức như vậy. Alan có thể thấy rõ là chị đang hoang mang, thất vọng.

- Nhưng bữa ăn này không phải là để nói chuyện đó Anne, - Ông ta vội tiếp ngay. - Ngân hàng sẵn sàng chịu hụt tiền với chị cho đến hết đời. Tiền ủy thác của William mỗi năm đã có lãi suất đến hơn một triệu đôla, vì vậy tiền rút quá mức của chị sẽ chẳng có nghĩa gì, ngay cả đến năm trăm nghìn đôla mà Henry yêu cầu cũng không quan trọng nếu như được chị đồng ý, vì chị là người quản lý hợp pháp tài sản của Wilham.

- Tôi không biết là mình còn có quyền gì đối với tài sản ủy thác của William cả, - Anne nói.

Với tổng số tài sản gốc thì không, nhưng về mặt pháp lý mà nói thì lãi suất của nó có thể đầu tư vào bất cứ công trình nào để làm lợi cho William, và cái đó thì thuộc quyền quản lý của chị, của tôi và của Milly Preston với tư cách là cha mẹ đỡ đầu cho đến khi nào William hai mươi mốt tuổi. Bây giờ, với danh nghĩa chủ tịch tài sản ủy thác của William, tôi đề nghị chị chuẩn y cho khoản tiền năm trăm nghìn ấy.

Milli đã báo cho tôi biết là chị ấy rất tán thành, như vậy là hai người có hai phiếu thì ý kiến của tôi sẽ không có giá trị nữa.

- Milly Preston đã tán thành rồi ư - Rồi. Thế chị ấy chưa nói cho chị biết à?

Anne không trả lời ngay.

vậy ý kiến của- Riêng ông thế nào? - Anne nghĩ một lúc rồi hỏi.

Tôi thì tôi chưa biết những tài khoản của Henry thế nào, vì anh ta chỉ mới bắt đầu làm việc được mười tám tháng thôi, và anh ta cũng không giao dịch gì với ngân hàng chúng tôi cả. Vì vậy tôi không thể biết được thu chi của anh ta trong năm nay thế nào, và cũng không biết anh ta dự kiến trong năm 1923 sẽ thu về được bao nhiêu. Tôi chỉ biết anh ta xin làm hợp [1ồng xây dựng bệnh viện mới, và dư luận đồn là anh ta làm thật.

- Ông quỹ trưởng của tôi bao giờ cũnn cho tôi biết ngay mỗi khi có chuyện rút những món tiền lớn ở bất cứ tài khoản nào. Tôi không biết chị lấy tiền đó ra làm gì, vả lại đó không phải việc của tói. Đó là tiền Richard để lại cho chị nên muốn tiêu như thế nào là tuỳ chị.

- Còn chuyện lãi suất của tài sản ủy thác thì lại là (:huyện khác. Nếu chị quyết định rút ra năm trăm nghìn để đầu tư vào cho công ty của Henry thì ngân Hàng lúc đó sẽ có bổn phận phải kiểm soát sổ sách của Henry, vì đồng tiền lúc đó được coi như tiền đầu tư trong khuôn khổ tài sản William. Richard không cho những người được ủy thác cái quyền cho vay, mà chỉ được đầu tư nhân danh William thôi. Tôi đã giải thích tình hình đó cho Henry biết. Nếu anh ta chịu đầu tư theo kiểu như vậy, thì những người được ủy thác sẽ quyết định về tỷ lệ lãi suất thích hợp cho công ty của Henry đối với khoản năm trăm nghìn. Cố nhiên William cũng phải được biết về chuyện chúng ta làm gì với những tiền đó, và cứ mỗi quý cũng phải được báo cáo của ngân hàng như mọi người được ủy thác.

Riêng tôi thì tôi chắc chắn rằng sau khi nhận được báo cáo hàng quý sắp tới, William cũng sẽ có ý kiến riêng của cậu ta về vấn đề này.

- Có lẽ chị cũng thấy lý thú nếu biết rằng kể từ khi cậu ta mười sáu tuổi, William thường vẫn gửi về ngân hàng cho chúng tôi những ý kiến về mỗi khoản đầu tư mà chúng tôi làm. Lúc đầu, tôi chỉ xem thoáng qua những ý kiến ấy thôi, nhưng gần đây tôi nghiên cứu kỹ thì thấy đó là những ý kiến cần được tôn trọng. Tôi nghĩ là sau này khi William có chân trong ban lãnh đạo thì cái ngân hàng Kane và Cabot này đối với cậu ta có thể quá nhỏ.

Trước nay tôi chưa từng được ai hỏi ý kiến về tài sản ủy thác của William là sao nhỉ, - Anne buồn bã nói.

- Ôi chị vẫn đọc những báo cáo của ngân hàng gửi đến vào ngày đầu của mỗi quý đấy chứ, và bao giờ chị cũng có quyền của người được ủy thác để chất vấn về tất cả những khoản đầu tư nào nhân danh William kia mà.

Alan Lloyd rút trong túi ra một mảnh giấy nhưng không nói gì, chờ cho người hầu bàn rót rượu vang "Những đêm St. Georges" vào cốc xong đã. Anh ta bước ra khỏi một quãng rồi Alan nói tiếp.

William có khoảng trên hai mươi mốt triệu được ngân hàng đem đầu tư với lãi suất 4,5 phần trăm cho đến khi cậu ta đầy hai mươi mốt tuổi. Cứ mỗi quý chúng tôi lại đem lãi suất tái đầu tư vào chứng khoán và cổ phiếu. Trước nay chúng tôi chưa hề đầu tư vào các công ty tư nhân. Anne, chị sẽ ngạc nhiên nghe nói là bây giờ chúng tôi thực hiện tái đầu tư trên cơ sở mỗi bên quyết định một nửa, tức là năm mươi phần trăm theo ý kiến của ngân hàng và năm mươi phần trăm theo ý kiến do William đưa ra. Hiện nay, chúng tôi phát triển hơn William một chút. Tony Simmons, giám đốc phụ trách đầu tư của ngân hàng, đang rất lấy làm khoái vì William hứa là cứ năm nào nếu anh ta vượt lên trên được cậu ta mười phần trăm là cậu ta sẽ mất cho một chiếc xe Rolls- Royce.

- Nhưng nếu như William thua cuộc thì thử hỏi cậu ta lấy đâu ra mười nghìn đôla trả cho chiếc xe Rolls- Royce ấy, vì cậu ta không được phép đụng đến tiền ủy thác nếu chưa đến hai mươi mốt tuổi?

- Tôi chịu không biết trả lời cho câu hỏi đó như thế nào, Anne. Tôi chỉ biết cậu ta rất hănh diện đến thẳng chỗ chúng tôi rồi, và nếu như không thực hiện được thì cậu ta đã chẳng dám đánh cuộc như vậy. Chị đã có dịp nào được xem cuốn sổ cái của cậu ta bao giờ chưa?

- Cuốn sổ do các cụ tặng nó ấy Alan Uoyd gật đầu.

- Không, từ khi nó đi học xa tôi không xem đến nữa. Mà tôi cũng không biết có còn không.

Còn đấy, - Ông Lloyd nói, - Tôi sẵn sàng mất một tháng lương nếu biết được hiện nay cậu ta gửi ngân hàng được bao nhiêu. Tôi chắc chị cũng biết hiện nay cậu ta gửi tiền vào ngân hàng Lester ở New York chứ không gửi chúng tôi nữa. Tôi cũng tin chắc rằng ở đó họ không có ngoại lệ gì cho cậu ta, dù biết đó là con của Richard Kane.

- Con của Richard Kane, - Anne nói. Xin lỗi. Tôi không có ý muốn tỏ ra vô lễ đâu, Anne.

Không, không, rõ ràng nó là con của Richard Kane rồi. Ông biết không, ngay từ khi nó mười hai tuổi nó đã không thèm hỏi tôi lấy một xu. - Chị ngừng lại. - Tôi nghĩ có lẽ tôi phải báo trước để ông biết rằng nếu nó nghe nói phải đầu tư năm trăm nghìn đôla ủy thác của nó vào công ty của Henry thì nó sẽ không sẵn sàng chấp nhận đâu.

Sao, hai người không hợp nhau à? Alan nhíu lông mày hỏi.- Có lẽ không, - Anne đáp.

- Thế thì đáng tiếc. Nếu William thực sự phản đối thì việc chuyển khoản sẽ rất phức tạp. Mặc dầu cậu ta không có quyền đối với những người được ủy thác trước khi đầy hai mươi mốt tuổi, nhưng chúng tôi cũng đã có những nguồn tin cho biết William tìm đến một luật sư để hỏi xem tư thế hơp pháp của cậu ta thế nào.

Trời đất ơi, - Anne thốt lên, - Ông nói thật đấy chứ- Vâng, tôi nói nghiêm túc đấy. Nhưng chị không có gì phải lo ngại hết. Nói thật ra, chúng tôi ở ngân hàng nghe nói thế cũng rất lạ, nhưng sau khi hiểu ra nguồn gốc việc điều tra này, thì chúng tôi cũng đã đánh tin cho họ biết là chúng tôi sẽ giữ kín. Rõ ràng ìà vì một lý do riêng nào đó, cậu ta không mụốn trực tiếp hỏi chúng tôi.

- Trời đất, - Anne lại nói, - Không biết nó ba mươi tuổi thì rồi sẽ thế nào nữa.

- Điều đó còn tuỳ, - Alan nói, - Còn tuỳ ở chỗ cậu ta có may mắn để yêu được một người nào đáng yêu như chị hay không. Trước kia, sức mạnh của Richard cũng ở đó mà ra.

- Alan, ông già mà khéo nịnh lắm nhé. Chúng ta có thể gác lại vấn đề năm trăm nghìn cho đến khi nào tôi nói chuyện với Henry được chăng?

- Cố nhiên được chứ. Tôi đã bảo gặp chị là để xin mấy lời khuyên mà.

Alan gọi càphê và thân mật cầm lấy tay Anne.

- Chị nhớ là phải cẩn thận với sức khỏe của mình đấy nhé. Chị còn quan trọng hơn nhiều so với số phận của mấy nghìn đôla đấy.

Về đến nhà, Anne lập tức thấy lo ngại về hai bức thư chị nhận được lúc sáng. Sau khi đã nghe Alan Lloyd nói tất cả về đứa con mình, bây giờ chị thấy tốt hơn hết là đồng ý để cho Wiliiam cùng đi nghỉ hè sắp tới với Matthequ Lester.

Cái khả năng Henry và Milly dan díu với nhau thành một vấn đề mà chị thấy không dễ dàng tìm ra được giải pháp gì. Chị ngồi trong chiếc ghế da màu nâu, chiếc ghế mà xưa kia Richard rất thích, nhìn ra bên ngoài cửa sổ có một dải đất trồng những bông hồng trắng và đỏ, chỉ nghĩ ngợi mà như không nhìn thấy gì. Anne thường mất rất nhiều thời gian mới đi đến một quyết định gì, nhưng đã quyết định rồi thì chị không mấy khi đảo ngược lại nữa.

Henry về nhà sớm hơn mọi tối và chị không thể không tự hỏi tại sao? Nhưng rồi chị hiểu ra ngay.

Anh nghe nói hôm nay em ăn trưa với Alan Doyd phải không? - Anh ta vừa bước vào phòng đã hỏi ngay:

- Ai bảo anh thế, Henry?

Anh có gián điệp khắp nơi, - Anh ta vừa nói vừa cười - Đúng đấy, Alan mời em ăn trưa. Ông ấy muốn biết em nghĩ thế nào về việc cho phép ngân hàng đầu tư số tiền ủy thác năm trăm nghìn đôla của William vào cho công ty của anh.

- Vậy em nói thế nào? - Henry hỏi lại, cố làm như không lo lắng gì.

- Em bảo ông ấy là để bàn với anh xem đã. Nhưng tại sao anh không hề nói cho em biết là anh hỏi ngân hàng? Bây giờ mới nghe Alan nói mà ngớ cả người ra.

- Anh tưởng là em không quan tâm gì đến chuyện kinh doanh, và anh ngẫu nhiên mà biết được rằng em, Alan Lloyd và Milly Preston đều là những người được ủy thác và mỗi người được một phiếu về quyết định đối với tiền đầu tư của William.

- Làm sao anh biết được, - Anne hỏi, - Trong khi chính em không biết gì về chuyện đó?

Em yêu quý, em không đọc mấy bản tin nhỏ kia. Anh thì cũng mãi đến gần đây mới đọc. Và cũng ngẫu nhiên mà Milly Preston cho anh biết những chi tiết về chuyện ủy thác này. Không những cô ta là mẹ đỡ đầu của Wilham mà còn là một người được ủy thác nữa.

Cô ta cũng ngạc nhiên có người nói mới biết được. Bây giờ ta thử xem có thể chuyển tình thế sang chỗ có lợi cho mình được không. Milly nói nếu em đồng ý thì cô ta cũng ủng hộ anh.

Chỉ nhắc đến tên Milly thôi cũng đã làm Anne khó chịu. ' - Em không nghĩ là chúng ta phải đụng đến tiền của William, - Chị nói. - Em chưa bao giờ trông vào cái tài sản ủy thác ấy cả. Cứ để mặc nó đấy cho ngân hàng tiếp tục tái đầu tư tiền lãi như trước nay họ vẫn làm là yên chuyện.

Tại sao lại có thể thỏa mãn với chương tnnh đầu tư của ngân hàng trong khi anh đang có cơ hội làm ăn với thành phố về hợp đồng xây bệnh viện, William sẽ thu được khối tiền ở công ty của anh. Chắc là Alan cũng tán thành thế chứ - Em không biết chắc ông ta nghĩ thế nào. Ông ta vẫn kín đáo như mọi khi, mặc dầu ông ta cũng bảo hợp đồng này rất có lợi và anh có thể có cơ hội làm ăn được.

Đúng thế đấy.

- Nhưng ông ấy nói là cần phải xem sổ sách của anh trước khi đi đến kết luận dứt khoát. Ông ấy còn hỏi cái khoản năm trăm nghìn của em bây giờ đi đâu rồi.

- Khoản năm trăm nghìn của chúng ta, em yêu quý ạ tiến triển rất tất, và rồi em sẽ thấy. Sáng mai anh sẽ gửi sổ sách sang cho Alan để ông ta đích thân kiểm tra. Có thề đảm bảo với em rằng ông ta sẽ có ấn tượng rất tốt.

Em cũng hy vọng thế, Henry, vì lợi ích của cả hai chúng ta, Anne nói. - Hãy để xem ý kiến của ông ta thế nào đã. Anh biết là trước nay em vẫn rất tin ở Alan.

Nhưng không tin anh, - Henry nói.

- Ồ, không, Henry, em không có ý....

- Anh đùa thế thôi. Anh chắc là em phải tin chồng mình chứ.

Anne bỗng thấy trong người trào lên muốn khóc. Trước đây với Richrd thì chị nén được. Nhưng với Henry chị không cầm nữa.

- Em hy vọng là có thể tin được. Trước nay em không bao giờ phải lo đến tiền bạc, thế mà bây giờ thì lại phải bận tâm quá sức. Bụng mang dạ chửa thế này, em càng thấy mệt và chán nản quá.

Thái độ của Henry nhanh chóng chuyển sang âu yếm.

- Anh biết, em yêu quý. Và anh cũng không muốn em phải bận tâm gì về những chuyện kinh doanh làm ăn ấy. Anh thì bao giờ cũng có thể giải quyết được chuyện đó. Thôi, em nên đi nằm sớm đi, anh sẽ mang bữa tối lên cho em bằng một cái khay. Như vậy, anh có thể tranh thủ đến cơ quan chuẩn bị hồ sơ để sáng mai gửi sang cho Alan xem.

Anne nghe theo. Nhưng sau khi Henry đi rồi, chị dù mệt cũng chưa có ý muốn ngủ ngay. Chị còn ngồi trên giường đọc truyện của Sinclair Lequis. Chị biết là Henry sẽ mất mười lăm phút để đi đến cơ quan.

Chị chờ cho đủ hai mươi phút mới quay điện thoại gọi đến đó. Chuông điện thoại reo mãi đến gần một phút vẫn không có ai trả lời.

Hai mươi hút sau, Anne lại gợi lần nữa. Vẫn không có ai trả lời. Rồi hai mươi phút sau đó, chị lại gọi.

Hoàn toàn không có ai. Câu nói của Henry lúc trước về chuyện tin cứ văng vẳng trong đầu chị một cách cay đắng.

Mãi đến sau mười hai giờ đêm Henry mới về nhà. Anh ta giật mình thấy Anne vẫn còn ngồi trên giường và đang đọc Sinclair Lequis.

- Em chả cần thức chờ anh làm gì. Anh ta hôn chị nồng nhiệt. Anne thấy như ngửi thấy mùi nước hoạ... hay chị quá nghi ngờ mà tưởng thế.

Anh phải ngồi lại lâu hơn dự kiến. Anh không thể tìm ra được hết những thứ giấy tờ Alan cần đến. Cái cô thư ký chết tiệt lại nhét giấy tờ vào hồ sơ mà bên ngoài viết chữ khác.

- Ngồi một mình ở cơ quan vào giữa đêm như thế thì thật là buồn, Anne nói.

- Ồ nếu có việc đáng làm thì cũng không đến nỗi nào, - Henry nói và trèo ngay lên giường nằm sát vào lưng Anne. - ít ra cũng có cái hay là làm được rất nhiều việc mà không bị điện thoại gọi đến liên tục khiến mình phải bỏ dở giữa chừng.

Mấy phút sau anh ta ngủ luôn. Còn Anne vẫn thức. Bây giờ chị quyết tâm thực hiện quyết định hồi chiều của chị.
 
chương 11
 
 
Sáng hôm sau, ăn sáng xong rồi và Henry đã đi làm việc - Anne không còn biết chắc là Henry đi làm hay đi đâu nữa - Chị ngồi đọc tờ báo Toàn cầu của Boston và đề ý tìm trong những chỗ quảng cáo nhỏ. Rồi chị nhấc điện thoại lên hẹn đến một nơi ở phía Nam Boston trước mười hai giờ trưa. Đến đây, Anne kinh ngạc thấy những nhà cửa ở nơi này rất bẩn. Chị chưa đặt chân đến khu miền Nam của thành phố này bao giờ. Nếu như bình thường không có chuyện gì thì có lẽ cả đời chị không biết là trong thành phố có những chỗ như thế này.

Wa chiếc cầu thang bằng gỗ vứt đầy những que diêm, đầu mẩu thuốc lá và những thứ rác rưởi khác, chị đến trước một cái cửa phía trên có biền đề một hàng chữ to:

GLEN RiCARDo, và dưới tên đó là THÁM TỬ TƯ (Có ĐĂNG KÝ TẠi ToÀ ÁN BANG MASSACHUSETTS). Anne khẽ gõ cửa. - Mời vào, cửa mở đấy - Một giọng nói ồm ồm ở bên trong vang ra.

Anne bước vào. Người đàn ông ngồi đằng sau bàn giấy hai chân gác lên mặt bàn, tay đang cầm xem một thứ gì đó như tạp chí dành cho con gái. Anh ta ngậm điếu xì gà ở đầu môi như sắp rơi ra ngoài. Anh ta ngước lên nhìn thấy Anne. Lần đầu tiên anh ta thấy một người mặc áo lông sang trọng bước vào bàn giấy này.

Anh ta vội đứag dậy chào.

- "Tên tôi là Glen Ricardo". Anh ta nghiêng người ra phía trước bàn và giơ ra một bàn tay lông lá vàng khè vì thuốc lá. Anne bắt tay, bụng lấy làm may mình đeo găng. - Bà có hẹn đấy chứ ạ? - Ricardo hỏi theo thói quen và không cần biết là khách có hẹn hay không. Trông thấy chiếc áo lông sang trọng thế là anh ta thấy mình đã phải sẵn sàng tiếp rồi.

- Tôi có hẹn.

- A, vậy ra bà là bà osborne. Để tôi? cởi đỡ chiếc áo cho bà nhé?

- Tôi vẫn khoác áo được chứ, - Anne nói, vì nghĩ có cởi ra thì không biết Ricardo treo nó vào đâu hay chỉ vứt trên sàn.

- Dạ được, tất nhiên, tất nhiên.

Anne kín đáo nhìn Ricardo trong khi anh ta ngồi xuống châm một điếu xì gà khác. Chị không quan tâm đến bộ quần áo màu xanh sáng hoặc chiếc ca- vát sặc sỡ hoặc mớ tóc dầy bóng nhẫy của anh ta. Chị chỉ hơi ngại không biết mình có nên ngồi ở chỗ khác hơn là ở đây không.

- Nào, bà có vấn đề gì? - Ricardo vừa nói vừa gọt chiếc bút chì đã ngắn ngủn bằng một lưỡi dao cùn.

Những mảnh gọt bắn vung vãi khắp nơi mà không vào sọt rác. - Bà mất chó, vàng hay bạc, hay chồng?

- Trước hết, ông Ricardo, tôi muốn được ông đảm bảo là hoàn toàn giữ kín, - Anne nói.

Vâng, tất nhiên, tất nhiên, điều đó nhất định là như thế rồi, - Ricardo nói và vẫn gọt bút chì, không nhìn lên.

- Dù sao tôi cũng phải nói trước như vậy.

Vâng, tất nhiên, tất nhiên.

Anne nghĩ bụng nếu anh ta còn nói "tất nhiên" nữa, chị sẽ phải kêu to lên cho anh ta thấy. Chị hít một hơi thở dàị.

- Tôi nhận được một số thư nặc danh nói chồng tôi đang có chuyện dan díu với một người bạn thân của tôi Tôi muốn biết ai là người đã gửi những thư đó, và những lời buộc tội ấy có thật hay không.

Lần đầu tiên nói ra được những cảm giác lo sợ ấy, Anne thấy nhẹ người. Ricardo nhìn chị một cách thản nhiên, coi như anh ta được nghe những chuyện này không phải một lần. Anh ta giơ tay lên vuốt mớ tóc đen và dài. Anne để ý thấy móng tay anh ta cũng dài không kém.

- Rồi, - Anh ta nói. - Ông chồng thì dễ thôi. Nhưng ai gửi những bức thư đó mới là chuyện khó. Tất nhiên bà vẫn giữ nhữag bức thư đó chứ - Tôi chỉ giữ bức mới đây nhất, - Anne nói. Glen Ricardo buông một tiếng thở dài và chìa tay ra phía trước bàn. Anne ngần ngại lấy bức thư trong ví ra chưa đưa vội.

Tôi biết là bà đang nghĩ gì, thưa bà osbne. Nhưng tôi không thể làm việc này nếu có một tay bị trói ra phía sau.

Tất nhiên, ông Ricardo, xin lỗi ông.

Anne không ngờ là chính mình cũng nói "tất nhiên"..

Ricardo đọc đi đọc lại bức thư vài ba lần rồi nói:

- Tất cả những thư kia đều đánh trên một loại giấy này và gử trong cùng một loại phong bì như thế này chứ?

- Vâng, có lẽ thế, Anne nói. - Tôi nhớ là như thế.

- Vậy nếu nhận được bức thư sau, xin bà....

- Ông tin chắc là sẽ có thư nữa ư? - Anne ngắt lời.

- Tất nhiên. Vậy xin bà cứ giữ cho. Bây giờ, xin bà cho biết những chi tiết về chồng bà. Bà có tấm ảnh đó không ạ?

- Vâng, có, - Một lần nữa, chị lại ngập ngừng. Tôi chỉ muốn nhìn qua khuôn mặt. Để khỏi mất thì giờ chạy theo người khác, có phải thế không ạ? - Ricardo nói.

Anne lại mở ví lấy đưa anh ta xem một bức ảnh đã sờn cạnh chụp Henry trong bộ quân phục trung uý.

ông osborne trông đẹp trai đấy, - Nhà thám tử nói. - Tấm ảnh này chụp bao giờ ạ?

Có lẽ cách đây chừng năm năm, - Anne nói. - Hồi ông ta ở trong quân đội thì tôi chưa quen.

Ricardo hỏi Anne thêm vài phút nữa về những hoạt động đi lại hàng ngày của Henry. Chị ngạc nhiên, đến bây giờ mới nhận ra là mình hiểu biết rất ít về quá khứ và những gì là thói quen của Henry.

- Như thế thì không có gì nhiều lắm để giúp cho công việc của tôi được, thưa bà osbome, nhưng tôi sẽ cố gắng hết sức. Tiền chi phí cho việc này, chúng tôi tính mỗi ngày mười đôla cộng với những khoản phục vụ cho công việc. Chúng tôi sẽ có báo cáo viết gửi đến cho bà mỗi tuần một lần. Bà trả trước cho hai tuần. - Anh ta chìa tay ra phía trước bàn một cách rất tự nhiên.

Anne mở ví lấy ra hai tờ 100 đô la đưa cho Ricardo. Anh ta nhìn kỹ những tờ bạc như không biết là có nhân vật nào nổi danh của nước Mỹ được in trên đó. Benjamin Phranklin trừng trừng nhìn vào Ricardo, rõ ràng là đã lâu nay anh không được gặp con người vĩ đại ấy Ricardo trả lại cho Anne 60 bằng nhữag tờ bạc năm đôla nhầu bẩn.

- Thế là ông làm việc cả những ngày chủ nhật, phải không ạ, - Anne tính nhẩm trong đầu và hỏi anh ta thế.

Tất nhiên, - Anh ta đáp. - Cũng ngày này tuần sau tính từ thứ năm có được không, thưa bà osborne?

Tất nhiên, - Anne đáp và vội bỏ đi ngay để khỏi phải bắt tay người đàn ông ngồi sau bàn giấy đó.

Khi Wiììiam đọc báo cáo hàng quý của ngân hàng Kane và Cabot thấy nói Henry oborne ("Hừ - Henry osborne".... Anh mở miệng nhắc to cái tên ấy để tự nhủ là mình có thề tin được chuyện đó) yêu cầu 50 không.000 đô- la để đầu tư riêng, anh bỗng thấy ngày hôm đó rất xúi quẩy. Lần đầu tiên sau bốn năm học ở St Pau, anh bị đứng thứ nhì về toán. Matthequ Lester là người thắng anh, đã hỏi xem có phải anh ốm không.

Tối hôm đó, William gọi điện thoại về nhà Alan Lloyd. Ông chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot không lấy làm ngạc nhiên khi anh gọi đến, vì ông đã được nghe Anne nói về quan hệ không vui vẻ giữa con trai chị với Henry.

Chào cậu William, cậu khỏe không, tình hình ở St Paul thế nào?

- Cảm ơn ông, mọi thứ ở đây đều tốt đẹp, nhưng tôi gọi điện là về chuyện khác.

Cậu ta khôn khéo thật, Alan nghĩ bụng.

- Ồ vậy à Tôi giúp cậu được việc gì đây? - Ông bình tĩnh nói.

- Tôi muốn gặp ông vào chiều mai.- Vâng, chỉ có ngày đó tôi mới ra khỏi trường được.

tôi xin gặp ông bất cứ lúc nào và ở đâu cũng được. - Wilham nói như kiểu về phía anh có sự nhân nhượng.Đù thế nào xin ông cũng đừng cho mẹ tôi biết là tôi có gặp ông.

- William, thế này nhé.... - Alan Lloyd bắt đầu.

Giọng William bỗng cứag rắn hơn.

- Có lẽ tôi cũng không cần phải nhắc để ông nhớ rằng cái khoản đầu tư tiền ủy thác cho ông bố dượng của tôi ấy, tuy không hẳn là bất hợp pháp, nhưng rõ ràng có thể coi là vô lương tâm.

Alan Lloyd lặng yên một lát. Ông tự hỏi không biết có nên xoa dịu anh chàng này hay không. Trước đây, ông đã có lúc nghĩ phải quở trách cho anh ta một trận, nhưng bây giờ thì điều đó không còn thích hợp nữa.

- Được thôi, William. Cậu có thể đến cùng ăn trưa với tôi ở Câu lạc bộ Hunt vào lúc một giờ được chứ - Vâng, tôi sẽ xin gặp ông ở đó. - Điện thoại đã bỏ xuống.

ít ra thì cuộc gặp đó cũng tiến hành trên đất nhà mình, Alan Uoyd nghĩ bụng và đặt ống nói xuống.

ông cũng rủa thầm hãng cúa ông Bell là đã chế tạo ra cái máy điện thoại chết tiệt này.

Alan đã chọn Câu lạc bộ Hunt vì ông cho rằng gặp ở đây không có vẻ riêng tư gì lắm. Điều đầu tiên William có thể yêu cầu khi đến đây là sau khi ăn trưa sẽ được chơi một chầu gôn.

- Thế thì tốt lắm, - Alan nói, và đặt cọc ngay chỗ chơi gôn vào lúc ba giờ.

ông ngạc nhiên thấy trong suốt cả bữa ăn William không hề đá động gì đến đề nghị của Henry osbórne.

Trái lại, anh toàn nói một cách rất khó hiểu biết về những quan điểm của Tổng thống Hanrding về cải cách giá cả, về sự bất lực của Charles G. Daques với tư cách là Giám đốc Ngân khố. Alan tự hỏi không biết có phải Wilham đã nghĩ lại và đã thay đổi ý kỉến về việc Henry osborne vay tiền hay không Có phải cậu ta đã quyết định để cho xong cuộc gặp này đi mà không nhắc gì đến nữa chăng Alan nghĩ bụng, thôi được nếu cậu ta muốn thế thì ông cũng chả quan tâm. Ông muốn cho buổi chiều đánh gôn trôi đi vui vẻ, không có chuyện gì nữa. Sau bữa ăn thú vị và đã uống một chầu rượu vang - William chỉ xin uống một cốc thôi - Họ vào trong nhà câu lạc bộ thay quần áo rồi ra sân gôn.

- Ông vẫn còn kiêng con số chín chứ ạ? - William hỏi.

- Còn, nhưng sao?.

- Mỗi lỗ gôn mười đôla, ông xem như thế có được không?

Alan Lloyd ngập ngừng, chợt nhớ ra gôn là một trong những môn William chơi rất giỏi?.

- Được đồng ý.

Trong khi chơi lỗ đầu, không ai nói gì. Alan cố đánh được bốn, William được năm. Alan thắng cả trận thứ hai và thứ ba. Ông cảm thấy yên tâm hơn. Đến trận thứ tư thì hai người đã cách xa nhà câu lạc bộ đến nửa dặm. William chờ Alan nâng cây gậy lên rồi anh mới nói." - Trong bất cứ điều kiện nào ông cũng không được đem năm trăm nghìn đôla của quỹ ủy thác cho bất cứ công ty nào hay cá nhân nào liên quan đến Henry osborne vay mượn.

Alan đánh một nhát cho quả bóng gôn văng đi xa, cốt để ông tách khỏi William một quãng và suy nghĩ xem sẽ trả lời anh như thế nào. Sau ba lần đánh nữa, họ cùng trở về bãi cỏ xanh, và Alan đành chịu thua không đưa được bóng vào lỗ.

- William, anh biết rằng tôi chỉ có một phiếu trong ba người được ủy thác, và anh cũng cần biết rằng anh không có quyền gì đối với những quyết định liên quan đến ủy thác vì anh chưa đến hai mươi mốt tuổi thì cũng chưa tự mình có quyền gì được đối với số tiền ấy.

Ngoài ra, anh cũng nên biết là chúng ta không thể thảo luận vấn đề này ở đây.

- Tôi hoàn toàn hiểu rõ những ý nghĩa pháp lý của nó, thưa ông, nhưng vì cả hai người được ủy thác kia đều ngủ với Henry osborne thì....

Alan Lloyd tỏ ra sững sờ.

- Chả có lý ông là người duy nhất ở Boston không biết rằng Milly Preston đang có chuyện dan díu với ông bố dượng của tôi?

Alan Lloyd không nói gì. quillam tiếp:

- Tôi muốn được biết chắc rằng ông sẽ bỏ phiếu chống cũng như ông sẽ làm hết sức mình để khuyên mẹ tôi chống lại chuyện vay mượn này, dù cho ông có phải cắn răng mà nói cho mẹ tôi biết sự thật về chuyện Mill Preston.

Alan lại đánh một nhát gôn rất dở nữa. Wả bóng sau đó văng cả vào bụi cây. Ông tức mình chửi thề một câu thật to, có lẽ đó là câu đầu tiên ông nói từ bốn mươi ba năm nay.

- Đòi hỏi như thế thì hơi quá nhiều đấy. - Alan nói khi họ đánh đến quả thứ năm.

- Điều đó chẳng là gì đâu so với những gì tôi sẽ làm nếu như tôi không tin chắc được ở sự ủng hộ của ông, thưa ông.

- William, trước đây cha anh không bao giờ tán thành những sự đe dọa như thế. - Alan nói và nhìn quả bóng của William chui xuống lỗ cách đó hơn chục thước.

- Điều duy nhất mà cha tôi không tán thành có lẽ là osbome, William trả lời lại. Alan loạc choạc với quả bóng.

- Dù sao, thưa ông, ông cũng rất biết rằng cha tôi đã có một điều khoản trong di chúc nói rằng tiền đầu tư của quỹ ủy thác sẽ là chuyện nội bộ gia đình mà người được hưởng nó không được quyền biết rằng tiền ấy có dính dáng đến gia đình Kane. Đây cũng là một nguyên tắc mà trong đời làm ngân hàng cha tôi không bao giờ vi phạm. Như vậy, cha tôi có thể luôn luôn yên tâm là không có xung đột giữa một bên là tiền đầu tư của ngân hàng với một bên là tiền ủy thác của gia đình.

Có lẽ mẹ anh cho là người trong gia đình thì có thể phá được nguyên tắc ấy chăng.

- Henry osbome không phải là người trong gia đình tôi. Đến khi tôi làm chủ cái quỹ này, tôi cũng vẫn giữ nguyên tắc như cha tôi trước kia, không bao giờ phá bỏ.

- William, rồi anh sẽ phải ân hận về chuyện cứng nhắc ấy - Không đâu, thưa ông.

- Anh nên suy nghĩ thêm xem, nếu biết về chuyện Milly thì mẹ anh sẽ có thể phản ứng như thế nào, Alan nói thêm.

- Mẹ tôi đã mất năm trăm ngàn đô- la tiền riêng của bà ấy rồi. Với một anh chồng, như thế chưa đủ sao? Chẳng lẽ còn để mất thêm năm trăm nghìn của tôi vào đó nữa ư?

- Chả có lý nào mất được. Wilham. Đầu tư còn có thể đem lại khá nhiều lợi tức. Mà tôi cũng chưa có dịp nào xem kỹ sổ sách của Henry đấy. quilliam hơi khó chịu khi thấy Alan Lloyd nói đến tên của Henry một cách thân mật. - Tôi có thể cam đoan với ông rằng hầu như ông ta đã vét sạch đến từng đồng xu của mẹ tôi. Nói đúng ra, ông ta chỉ còn có ba mươi ba ngàn bốn trăm mười hai đôla thôi. Tôi đề nghị Ông xem rất kỹ những sổ sách của ông osbome cũng như thẩm tra một chút về quá khứ cùng những bạn bè và chuyện làm ăn của ông ta trước đây. Đó là chưa kể ông ta cờ bạc ghê gớm nữa.

Từ quả gôn thứ tám, Alan đánh văng nó xuống hồ trước mặt. Đó là điều không thể có được, vì ngay đến phụ nữ mới tập chơi cũng không đánh như thế. Ông lại thua.

- Anh làm sao có được những thông tin như vậy về Henry? Alan hỏi, và đoán rằng đó hẳn là văn phòng của Thomas Cohen cung cấp.

- Tôi xin không nói ra, thưa ông.

Alan nghĩ bụng hãy cứ biết thế đã, ông tính điều này cũng có lợi cho ông ở chỗ ông sẽ biết cách sau này làm ăn với Wiìliam.

Nếu tất cả những điều anh nói là chính xác thì cố nhiên tôi sẽ phải khuyên mẹ anh chớ có đầu tư gì vào cho Henry, và riêng tôi cũng phải có bổn phận nói công khai những điều đó ra với Henry chứ.

- Vâng, xin ông cứ thế cho.

Alan đánh một nhát nữa khá hơn, nhưng ông cảm thấy mình không thể thắng được.

Wỉlliam tiếp tục.

- Chắc ông cũng muốn bỉết thêm rằng osbome cần số tiền năm trăm nghìn đôla ở quỹ ủy thác của tôi đó không phải là để ký hợp đồng xây dựng bệnh viện đâu, mà là để thanh toán món nợ đã mắc từ lâu ở Chicago. Tôi đoán chắc là ông chưa được biết điều này, thưa ông Alan không nói gì. Đúng là ông không biết đến chuyện ấy. Ván này William lại thắng.

Đánh đến ván cuối, Alan hỏi:

- Anh không để cho tôi được quả nào nữa hay sao?- Ông cười, rồi đứng tì tay lên cây gậy.

- Osborne sẽ không có được hơp đồng xây bệnh viện đâu thưa ông. Nghe nói ông ta hối lộ những quan chức cấp dưới trong tòa thị chính. Người ta sẽ không công khai đưa chuyện này ra, nhưng để tránh những phức tạp về sau, người ta đã xóa bỏ công ty của ông ta trong danh sách cuối cùng rồi. Hợp đồng ấy sẽ do công ty Kirkbride và Carter nhận. Tin này, thưa ông, là rất mật đấy. Ngay cả đến công ty Kirkbride và Carter cũng chưa được biết tin này mà phải một tuần sau thứ năm tới cơ, vì vậy mong ông giữ kín cho chuyện đó.

Alan lại đánh chệch. William đưa quả bóng của mình vào lỗ rồi bước đến bắt tay ông chủ tịch một cách nồng nhiệt.

- Xin cảm ơn ông đã cùng chơi. Như vậy là ông mất chín chục đôla rồi đấy.

Alan rút ví lấy ra tờ bạc một trăm đôla.

- William, tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc anh đừng "thưa ông" với tôi nữa. Tên tôi là Alan, anh cứ thế mà gọi.

- Cảm ơn Alan, - Wilìiam đưa lại cho ông ta mười đô- la.

Sáng hôm thứ hai, Alan Lloyd đến ngân hàng và thấy mình có nhiều việc phải làm hơn là trước khi gặp William. Ông lập tức cho năm bộ phận của ngân hàng tiến hành ngay những cuộc điều tra xem những lời William nói chính xác đến mức nào. Ông sợ rằng những cuộc điều tra kia sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến nội bộ nên dặn mỗi bộ phận chỉ được biết đến phần mình thôi, và bắt họ phải báo cáo trực tiếp cho chủ tịch, ngoài ra không ai được biết đến.

Đến sáng thứ tư, trên bàn giấy của ông đã năm bản báo cáo sơ bộ. Hình như tất cả đều khớp với những điều William nói, mặc dầu mỗi người đều xin có thời gian thêm để kiểm tra lại chi tiết. Alan quyết định nếu chưa có thêm chứng cớ cụ thể thì chưa nói gì cho Anne biết. Trong khi chờ đợi, ông tính chỉ nên tranh thủ đến dự bữa tiệc đứng do vợ chồng osbome mời và ông sẽ khuyên Anne nên từ từ, chưa quyết định ngay về chuyện cho vay kia.

Lúc đến dự bữa tối hôm đó, Alan lấy làm lo ngại thấy Anne rất bải hoải mệt mỏi, và lại phân vân, không biết sẽ nói thế nào. Ông chờ mãi mới có một vài phút đứng riêng với chị. Ông nghĩ bụng giá bây giờ Anne không có mang thì tốt bao nhiêu.

Anne quay lại nhìn ông mỉm cười - Ông bận việc ở ngân hàng thế mà cũng cố đến được, thật là quý hóa quá.

- Tôi không thề vắng mặt ở bất cứ cuộc chiêu đãi nào của chị. Nó vẫn còn những hương vị Boston.

- Ông nói quá đấy. - Chị cười.

Anne này, nhân đây tôi hỏi chị đã có lúc nào nghĩ thêm về chuyện cho vay tiền kia chưa?

- Không, tôi chưa nghĩ gì được. Tôi còn đang bù đầu về những chuyện khác. À thế ông xem sổ sách của Henry thế nào?

Chỉ mới có số liệu của một năm thôi, vì vậy tôi phải cho kế toán kiểm tra thêm. Theo lệ thường thì phải xem các hoạt động trong ba năm liền mới được.

Tôi chắc Henry cũng hiểu và đồng ý với chúng tôi như vậy - Anne, bữa ăn thật tuyệt, - Một giọng nói khá to bỗng vang lên phía sau Alan. Ông không nhận ra đó là ai, có lẽ là một bạn chính khách nào đó của Henry.

- Thế nào, bà mẹ tương lai nhỏ bé, có khỏe không?- Giọng nói hỏi tiếp.

Alan lách ra chỗ khác. Như thế là ông cũng đã tranh thủ nói được một đôi câu cho ngân hàng rồi. Ở cuộc chiêu đãi này có khá nhiều chính khách, cả của tòa thị chính cũng như có một đôi vợ chồng đại biểu quốc hội. Alan chợt nghĩ có lẽ William nói sai về chuyện hơp đồng kia chăng. Nhưng ngân hàng chả phải điều tra về chuyện này làm gì nữa, vì tuần sau Tòa thị chính sẽ chính thức công bố. Ông từ biệt vợ chồng nhà chủ và ra về.

- Ngày này tuần sau nhé, - Ông nói to, rồi đi bộ dọc phố Chesnut về nhà.

Trong buổi chiêu đãi, Anne để ý nhìn Henry mỗi khi anh ta đến gần Milly Preston. Chị thấy rõ ràng là giữa hai người không có dấu hiệu gì cả. Thật ra, phần lớn thời gian chỉ thấy Henry đứng với John Preston thôi. Anne bắt đầu tự hỏi hay là mình đã nghĩ sai về chồng mình. Chị tính có lẽ phải hủy bỏ cuộc hẹn giờ với Glen Ricardo vào hôm sau. Buổi chiêu đãi kéo dài đã hơn hai tiếng ngoài dự tính. Chị đoán tất cả các khách mời đều hài lòng với bữa tiệc hôm nay.

- Chiêu đãi tốt lắm, Anne. Cảm ơn chị đã mời chúng tôi. - Cái giọng to lúc nãy lại lên tiếng, và là người cuối cùng ra về. Anne không nhớ được tên ông ta, chỉ biết là người của Tòa thị chính. Ông ta đi khuất sau đường xe.

Anne loạng choạng đi lên gác. Chị cởi áo trước khi về đến phòng, trong bụng nghĩ từ nay đến ngày đẻ còn mười tuần nữa thôi và chị sẽ không tổ chức chiêu đãi gì nữa hết.

Henry cũng đã cởi quần áo rồi.

Em có nói được gì với Alan không, em yêu quý? - Có có nói, - Anne đáp, - Ông ta bảo sổ sách không có vấn đề gì nhưng vì chỉ có số liệu một năm thôi nên ông ta phải cho kế toán đi kiểm tra lại một lần nữa.

Đó là chính sách bình thường của ngân hàng thôi. - Chính sách bình thường cái chết tiệt gì đâu. Em không thấy là đằng sau chuyện đó Wilham ư? Nó đang tìm cách chặn đứag vụ cho vay này đấy, Anne.

- Sao anh lại nói thế. Alan có nhắc gì đến William đâu - Ông ta không nói ư? - Henry cao giọng. - Ông ta cũng không thèm nhắc đến chuyện William cùng ăn trưa với ông ta hôm chủ nhật ở Câu lạc bộ đánh gôn, còn chúng ta thì ngồi không ở nhà này.

- Sao? - Anne nói. - Không thể có chuyện ấy.

Wilham không bao giờ về Boston mà lại không về nhà gặp em. Chắc anh lầm thế nào đó. Henry.

- Em ơi, có đến nửa thành phố này đến đó, và anh cũng không thể tưởng tượng William có thể đi năm chục dặm chỉ để đến đây đánh gôn với Alan Uoyd mà thôi. Anne, em nghe đây, anh cần có món tiền vay ấy, nếu không anh không thể giành được hơp đồng ký với thành phố. Đến một lúc nào đó, thậm chí ngay bây giờ em phải quyết định xem em tin ở William hay ở anh. Tính từ ngày mai thì một tuần nữa là anh phải có món tiền ấy. Chỉ còn tám ngày nữa thôi, nếu anh không chứng minh cho Tòa thị chính thấy là anh có khoản tiền ấy thì họ không coi là anh có giá trị gì nữa. Mà như vậy chỉ vì William không tán thành việc em muốn lấy anh, Anne ngày mai ẹm gọi cho Alan bảo ông ta chuyển tiền cho anh được không?

Giọng hằn học của anh ta như đập vào đầu Anne khiến chị cảm thấy choáng váng.

- Không, Henry ngày mai chưa được đâu. Để đến thứ sáu được không? Ngày mai em còn bận.

Henry bình tĩnh lại rồi bước đến bên chị lúc đó đã cởi quần áo và đang đứng trước gương. Anh ta đưa tay xoa bụng vợ và nói.

Anh muốn cho đứa eon này cũng có được cái may mắn như William vậy.

Hôm sau Anne tự nhủ đến hàng trăm lần là sẽ không đi gặp Gien Ricardo nữa, nhưng đến gần mười hai giờ chị lại nhẩy .lên một chiếc tắcxi để đi đến đó.

Chị bước lên cầu thang gỗ cọt kẹt, trong bụng ngần ngại không muốn biết đến những gì mình sắp được nghe. Bây giờ quay ra cũng còn kịp. Chị ngập ngừng, rồi đưa tay lên gõ cửa.

Mời vào. Chị mở cửa.

- A, bà osborue, rất mừng gặp lại bà. Mời bà ngồi. - Anne ngồi xuống và hai người nhìn nhau.

- Có lẽ tin tức cho bà không hay lắm, - Glen Ricardo nói, đưa ngón tay lên vuốt mớ tóc đen dài.

Anne sững người. Chị cảm thấy như muốn ốm.

- Trong bảy ngày qua không thấy ông osbome đi với bà Preston hay bất cứ người đàn bà nào khác.

- Nhưng ông bảo tin tức không hay kia mà, - Anne nói.

- Tất nhiên, thưa bà osborne, tôi cứ nghĩ rằng bà tìm cớ để ly dị. Những bà vợ giận chồng thì đâu có tìm đến tôi để tôi chứng minh cho họ thấy là chồng họ vô tội.

- Ồ, không, không, - Anne nói, cảm thấy nhẹ người- Đã nhiều tuần nay bây giờ mới lại có tin hay thế.

- À thế thì tốt, - Ông Ricardo nói và hơi lấy làm ngạc nhiên.

- Vậy ta hy vọng tuần thứ hai cũng không thấy được gì hơn.

- Ô ông có thể chấm dứt cuộc điều tra đi được rồi, ông Ricaraó Tôi ChắC là tuần sau nữa ông cũng chẳng tìm thấy gì khác.

- Như vậy không phải là khôn ngoan lắm, thưa bà osbome. Chỉ một tuần quan sát thôi mà dám kết luận dứt khoát như thế thì tôi e rằng hơi quá sớm.

- Thôi được, nếu ông tin là như vậy thì cứ làm tiếp, nhưng tôi thì cho rằng cả tuần sau nữa ông cũng sẽ không tìm ra được gì hơn đâu.

- Dù sao thì bà cũng đã trả tiền cho hai tuần rồi, - Glen Ricardo nói tiếp và lại hút điếu xì- gà của anh ta, trông có vẻ to hơn và dễ ngửi hơn thứ xì- gà anh ta hút tuần trước.

- Còn về những bức thư thì thế nào? - Anne chợt nhớ ra và hỏi. - Tôi đoán đó là của một người nào nghen ghét gì với những thành tích của ông chồng tôi chăng.

Như tôi đã nói với bà tuần trước, thưa bà osborne, tìm ra tác giả những bức thư nặc danh thì không phải là chuyện dễ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã biết được cửa hàng họ mua thứ giấy viết thư và phong bì này. Loại giấy này đặc biệt, không như mọi thứ thường dùng, tuy vậy bây giờ tôi chưa thể nói gì thêm về chuyện đó. Có thể ngày này tuần sau tôi sẽ biết được rõ hơn. Mấy ngày vừa qua bà có nhận được thêm lá thư nào nữa không?

- Không, tôi không nhận được.

- Tốt. Thế thì mọi thứ có vẻ đã sắp rõ ràng rồi. Chúng ta hy vọng vào thứ năm tuần sau gặp lại sẽ là lần cuối.

Vâng, Anne vui vẻ đáp. - Tôi cũng hy vọng thế. Để tuần sau tôi thanh toán nốt cho ông các khoản chi khác, được không?

- Tất nhiên, tất nhiên.

Anne gần như đã quên đi cái câu đó, nhưng lần này chị chỉ cười. Trên đường ngồi xe về nhà, chị quyết định là Henry phải có số tiền 500 ngàn đô- la ấy, và phải cho William cũng như Alan thấy là họ nhầm. Chị vẫn còn đang băn khoăn với việc William về qua Boston mà không báo cho chị biết. Có lẽ điều Henry nói Wiliam đang ngấm ngầm hoạt động gì đó là đúng chăng.

Henry rất sung sướng thấy Anne đêm đó nói là chị đã quyết định về chuyện cho anh ta vay số tiền kia, và bảo anh ta chuẩn bị giấy tờ để sáng hôm sau chị ký vào đó. Lúc ký vào giấy tờ, chị không thể không nghĩ ngợi vì thấy nó đã được chuẩn bị từ lâu và đã có sẵn chữ ký của Milly Preston trên đó rồi. Nhưng chị lại tự nhủ có lẽ mình quá nghi ngờ chăng? Chị vội xua đuổi ý nghĩ ấy đi và hạ bút ký.

Sáng thứ hai sau đó, khi Alan Lloyd gọi điện thoại đến thì chị đã chuẩn bị tư tưởng đầy đủ rồi.

Anne, chị hãy khoan cho đến thứ năm đã. Đến hôm đó chúng ta sẽ biết ai là người được ký hơp đồng xây bệnh viện.

- Không, Alan, tôi đã quyết định rồi. Henry cần có tiền ngay bây giờ. Anh ấy phải chứng minh cho Tòa thị chính biết là tài chính anh ấy đủ điều kiện để thực hiện hợp đồng, vả lại bây giờ đã có hai chữ ký của những người được ủy thác nên ông không còn phải lo trách nhiệm nữa.

Ngân hàng vẫn có thể đảm bảo cho Henry được mà không cần phải chuyển tiền. Tôi chắc Tòa thị chính sẽ có thể chấp nhận điều đó. Dù sao thì tôi cũng chưa có thì giờ kiểm tra lại tài khoản công ty của anh ta - Nhưng ông lại có thì giờ đi ăn trưa với William hôm chủ nhật trước đây một tuần mà cũng không báo cho tôi biết nữa.

Đầu dây đằng kia im lặng một lát.

- Anne tôị...

- Ông đừng bảo là không có dịp báo. Ông đến dự chiêu đãi tối hôm thứ tư và đáng lẽ ông đã phải báo cho biết rồi. Nhưng ông cố tình không nhắc đến, và bây giờ ông lại có thì giờ khuyên tôi nên hoãn quyết định cho Henry vay tiền.

- Anne, tôi rất tiếc. Tôi hiểu được là chuyện đó có thể rắc rối như thế nào và tại sao chị thất vọng, nhưng nó thực sự có một lý do đấy, chị hãy tin như vậy. Tôi đến gặp chị và giải thích tất cả cho chị nghe được không?

- Không. Alan, không được đâu. Các người xúm lại chống chồng tôi. Không ai trong các người cho anh ấy được có cơ hội chứng minh bản thân mình. Vậy thì để tôi cho anh ấy có cơ hội chứ.

Anne bỏ máy xuống, trong bụng hài lòng với mình, cảm thấy như thế là mình đã trung thành với Henry và chuộc cái lỗi trước đây đã nghi ngờ chồng.

Alan Uoyd gọi lại, nhưng Anne dặn cô hầu trả lời là chị đi vắng suốt ngày. Đêm đó Henry về nhà rất phấn khởi được nghe Anne kể lại đã nói với Alan như thế nào.

- Như thế thì mọi thứ sẽ cực kỳ hay, em yêu ạ. Rồi em xem. Sáng thử năm anh sẽ được người ta cho ký hợp đồng. Lúc đó em có thể hôn và hòa giải với Alan.

Nhưng từ nay đến hôm đó thì em hãy cứ tránh đừng gặp Thực ra, nếu em muốn thì hôm thứ năm chúng ta có thể liên hoan bữa ăn trưa ở nhà hàng Ritz và mời ông ta đến cùng ăn được chứ. Anne cười đồng ý.

Chị cũng không quên rằng chị sẽ còn phải gặp Ricardo một lần cuối nữa vào trưa hôm đó. Gặp xong rồi, quay về nhà hàng Ritz cũng hãy còn sớm chưa đến một giờ.

Như vậy chị sẽ được dịp ăn mừng cả hai thắng lợi một lúc. Alan cố gọi đến nhiều lần để gặp Anne nhưng đều nghe cô hầu trả lời là đi vắng. Vì giấy tờ đã được hai người ủy thác ký vào đó rồi, ông không có quyền ách lại việc chi tiền quá hai mươi tiếng. Các từ ngữ dùng trong giấy tờ đó là do Richard Kane đã thảo ra trước đây, điển hình về mặt pháp lý chặt chẽ, không có chỗ nào sơ hở mà lách qua được nữa. Sau khi tờ séc 500 nghìn đô la được trao đi chiều ngày thứ ba, Alan viết một bức thư dài gửi cho William, kể lại đầu đuôi các sự kiện đã dẫn đến việc chuyển tiền, chỉ không nói gì đến những chi tiết sự việc do ngân hàng của ông điều tra được. Ông cũng gửi cho mỗi giám đốc trong ngân hàng một bản sao bức thư đó, tin rằng mặc dầu ông đã làm rất cần thận như thế nhưng người ta vẫn có thể buộc tội cho ông là che giấu.

Sáng hôm thứ năm, trong khi đang ăn sáng với Mathequ thì William nhận được bức thư của Alan loyd gửi đến St. Paui.

Còn ở Đồi Beacon thì bữa ăn sáng bình thường như mọi ngày, trứng, thịt rán, bánh mì nướng, cháo ngô và cà phê nóng, Henry tỏ ra lúc buồn lúc vui, anh ta làm duyên với cô hầu, nói đùa với một nhân viên Tòa thị chính gọi đến báo cho biết tên công ty được ký hơp đồng xây bệnh viện sẽ được dán lên bảng yết thị trước cửa Tòa thị chính vào lúc mười giờ. Anne thì chờ đến lúc đi gặp Glen Ricardo một lần cuối nữa. Chị ngồi giở mấy trang tạp chí Vogue, cố không để ý đến bàn tay Henry đang run run cầm tờ báo Globe của Boston.

- Sáng nay em định làm gì? - Henry hỏi, như muốn nói chuyện bình thường.

- Ồ, không có gì nhiều lắm trước khi chúng ta ăn mừng trưa nay. Anh có định đặt tên Richard cho khoa nhi trong bệnh viện để tưởng nhớ đến anh ấy không?

- Không phải tưởng nhớ đến Richard đâu, em yêu quý ơi Đây là thành tích của anh, vì vậy phải giành vinh dự đó cho em. Sẽ gọi đó là khoa nhi do bà Henry osborne tặng, - Anh ta huênh hoang nói.

- Ý kiến đó hay lắm, - Anne bỏ tờ báo xuống và nhìn anh ta cười - Anh không được để em uống quá nhiều sâm- banh vào bữa trưa nay nhé, vì chiều em còn phải đến cho bác sĩ Mackanzie khám toàn bộ, nếu ông ta biết em say rượu vào quãng này, tức chỉ chín tuần trước khi đẻ, thì ông ta sẽ không bằng lòng đâu. Đến bao giờ thì anh biết chắc là hợp đồng sẽ giao cho anh?

- Anh biết rồi, - Henry nói. - Nhân viên tòa thị chính vừa nói chuyện với anh trên điện thoại bảo là chắc chắn trăm phần trăm rồi, nhưng đến mười giờ họ mới chính thức công bố.

- Vậy thì việc đầu tiên là anh phải gọi. cho Alan và bảo với ông ta cái tin vui đó. Em bắt đầu thấy hơi hối hận về chuyện đã đối xử không hay với ông ấy tuần trước.

- Em chả cần phải hối hận làm gì. Chính ông ta cũng không thèm báo cho em biết về những hành động của William kia mà.

- Không, nhưng ông ấy vẫn cố tìm cách giải thích thêm, thế mà em thì lại không để cho ông ấy được nói.

- Thôi được thôi được, tùy em. Vậy để cho em vui lòng, anh sẽ gọi điện thoại vào mười giờ năm phút báo cho ông ấy biết, còn em thì gọi cho William bảo nó rằng anh đã kiếm thêm cho nó một triệu đô- la nữa. - Anh ta nhìn đồng hồ. - Thôi bây giờ anh đi đây. Em chúc anh may mắn đi.

- Em tưởng anh không cần may mắn gì kia mà. - Anne nói.

- Anh không cần thật. Wen miệng nói thế thôi. hẹn gặp em vào một giờ ở nhà hàng Ritz nhé. - Anh ta hôn lên trán vợ - Đêm. nay em sẽ tha hồ mà cười về Alan, về Willam, về những chuyện hơp đồng, và coi tất cả những cái đó là quá khứ. Em cứ tin là như vậy Anh đi nhé, em yêu.

Em cũng hy vọng thế, Henry.

Bữa ăn sáng để trước mặt Alan Lloyd nhưng ông chưa đụng gì đến. Ông đang đọc mấy trang tài chính của tờ báo Gbole Boston, chú ý đến đến một đoạn nhỏ ở cột bên phải đưa tin mười giờ sáng hôm đó Tòa thị chính sẽ công bố ai được hưởng hợp đồng xây bệnh viện trị giá năm triệu đô- la.

Alan Lloyd đã tính nếu như Henry không được hợp đồng ấy và tất cả những gì William nói đều là chính xác thì ông sẽ làm thế nào. Ông sẽ làm như Richard trước kia đã làm trong trường hợp tương tự, tức là hành động như thế nào cho ngân hàng có lợi nhất.

Nhưng những báo cáo mới nhất ông nhận được về tình hình tài chính của Henry khiến ông rất lo ngại.

osborne đúng là một tên bạc bịp, và số tiền 500 nghìn đô la của quỹ ủy thác kia hoàn toàn không được chuyển đến công ty của anh ta. Alan Lloyd chỉ nhấp một ít nước cam, còn không đụng gì đến bữa ăn sáng.

ông xin lỗi người quản gia, rồi bước xuống đi bộ đến ngân hàng.

Thời tiết hôm đó dễ chịu.

- William, chiều nay có đánh quần vợt không?

Hai người đang ăn sáng. Matthequ Lester đứng nhìn William đang đọc đi đọc lại bức thư của Alan Liloyd.

- Cậu bảo gì?

- Cậu điếc hay bắt đầu lẫn cẫn rồi đấy? Cậu muốn chiều nay mình cho cậu thất điên bát đảo trong trận quần vợt không?

Không chiều nay mình không có đây đâu, Matthequ. Mình đang có nhiều chuyện quan trọng khác cần làm.

- Cố nhiên rồi, anh bạn ơi. Mình quên rằng cậu đang chuẩn bị cho một trong những chuyến đi bí mật vào Nhà Trắng. Mình biết là Tổng thống Harding đang tìm một người làm cố vấn về tài chính cho ông ta, mà cậu đúng là người có thể ngồi vào chỗ của cái ông Charles. G.Daques dở hơi ấy. Cậu cứ bảo với ông tổng thống là cậu nhận lời đi, với điều kiện ông ấy cũng mời Matthequ Lester làm Bộ trưởng Tư pháp trong chính quyền tới.

William không trả lời.

Mình biết nói đùa như thế là hơi vô duyên, nhưng cậu cũng phải bình luận xem sao chứ, - Matthequ nói và ngồi xuống bên William nhìn kỹ anh bạn. - Tại món trứng phải không? Y như trứng vừa mới đem từ một trại tù binh ra chứ gì?

- Mathequ, mình cần cậu giúp một tay, - William nói và bỏ bức thư của Alan vào phong bì.

Cậu vừa có thư của em gái mình rồi đó, nó nghĩ là cậu có thể thay thế cho Rudolph Valentino được đấy William đứng dậy.

- Thôi, đừng đùa nữa, Matthequ. Nếu ngân hàng của bố cậu bị cướp, thì liệu cậu có ngồi đó mà nói đùa về chuyện ấy được không?

Mặt Wilham rất nghiêm nghị, khiến Matthequ phải dịu giọng xuống.

- Không, ai mà đùa được.

- Rồi, vậy cậu ra ngoài này mình sẽ nói tất cả cho mà nghe.

Sau mười giờ một lúc, Anne rời Đồi Beacon đi mua sắm vài thứ lặt vặt trước khi đến gặp Glen Ricardo một lần nữa. Chị vừa đi khuất ra đến phố Chestut thì có chuông điện thoại. Cô hầu ra nghe máy. Cô ta nhìn ra cửa sổ thấy bà chủ đã đi quá xa rồi không gọi được nữa. Giá như Anne quay trở lại nghe điện thoại được, thì chị đã biết về quyết định của thành phố đối với hợp đồng xây bệnh viện, nhưng chị lại đi mua thêm mấy đôi tất lụa và vài thứ nước hoa mới. Chị đến văn phòng Glen Ricardo khoảng sau mười hai giờ, trong bụng nghĩ thứ nước hoa mình mới mua sẽ có thể đánh bạt được mùi khói xì- gà của ông ta.

- Chắc tôi không đến muộn chứ, ông Ricardo, - Chị nói gọn.

Xin mời bà ngồi, bà osbornẹ- Trông Ricardo có vẻ không vui lắm, nhưng Anne nghĩ ông ta có bao giờ vui đâu Rồi chị lại để ý thấy ông ta không hút loại xì- gà như mọi khi nữa.

Ricardo mở một hồ sơ màu nâu khá lịch sự, một thứ đồ mới duy nhất mà Anne có thể trông thấy ở văn phòng này, rồi lấy ra vài tờ giấy.

- Chúng ta hãy bắt đầu bằng những bức thư nặc danh đã nhé, thưa bà osborne?

Anne không thích cái giọng nói ấy.

Được thôi, - Chị đáp.

- Những thứ này do một bà tên là Ruby Phloquers gửi đến.

- Ai? Tại sao vậy? - Anne nói, vừa muốn vừa không muốn có câu trả lời.

Tôi ngờ rằng một trong những lý do là hiện nay bà Phloquers đang kiện chồng bà.

à, thế thì rõ cả rồi, - Anne nói - Bà ta muốn trả thù Bà ta đòi Henry phải trả bao nhiêu?

- Bà ta không nói đến nợ, thưa bà osborne.

- Vậy bà ta muốn gì?

Glen Ricardo tì tay vào ghế đứng dậy bằng một dáng mệt mỏi. Anh ta đi ra cửa sổ nhìn xuống bến Boston lúc đó đang đông người.

- Bà ta kiện về chuyện không giữ lời hứa, thưa bà osborne.

- Ôi không thể thế được, - Anne nói.

- Hình như hai người đã đính hôn với nhau vào cái lúc ông osborne gặp bà, nhưng rồi vụ đính hôn đó bị hủy bỏ không biết vì lý do gì.

- Bà ta đào mỏ đấy thôi. Chắc bà ta muốn tiền của Henry.

- Không, có lẽ không phải thế. Bà biết không, bà Phloquers đã vào loại khá giả. Tuy không phải như bà đâu tất nhiên, nhưng cũng là khá. Chồng cũ của bà ta là chủ một công ty nước quả đóng chai và để lại cho bà ta khá nhiều tiền.

- Chồng cũ ư? Thế bà ta bao nhiêu tuổi?

Nhà thám tử quay lại bên bàn giở vài trang hồ sơ.

Móng tay cáu đen của ông ta dừng lại một chỗ. - Sinh nhật tới của bà ta là thứ năm mươi ba.

- Ôi lạy Chúa!- Anne nói. - Tội nghiệp bà ta. Chắc bà ta phải căm ghét tôi lắm.

- Có thể như vậy, thưa bà osbome, nhưng điều đó chẳng giúp gì cho chúng ta cả. Bây giờ tôi xin chuyển sang nhữag hoạt động khác của chồng bà..

Ngón tay vàng khè những khói thuốc của anh ta giở thêm mấy trang nữa.

Anne cảm thấy nôn nao trong người. Tại sao chị đến đây làm gì? Tại sao chị không cắt đi từ tuần trước có được không? Chị cần gì phải biết? Chị không muốn biết kia mà? Tại sao chị không đứng dậy mà bỏ đi luôn? ôi, chị mong có Richard bên mình biết bao nhiêu. Còn anh thì anh sẽ rất biết phải đối phó với tình hình này như thế nào. Chị tưởng như mình không thể cựa quậy được nữa. Glen Ricardo và những điều trong hồ sơ mới của anh ta làm chị ngây đơ cả người.

- Tuần vửa qua, ông osborne đã có hai lần ngồi riêng với bà Preston, trên ba tiếng đồng hồ.

- Nhưng điều đó chẳng chứng minh gì hết, - Anne chậm rãi nói. - Tôi biết là họ đang phải thảo luận với nhau một tài liệu rất quan trọng liên quan đến tiền nong.

- Nhưng là ở một khách sạn nhỏ trên phố La Salle, thưa bà.

Anne không ngắt lời nhà thám tử nữa. Cả hai lần họ đều bước vào khách sạn, cầm tay nhau, thì thầm với nhau cười đùa. Tất nhiên chưa thể kết luận được là họ ìàm gì, nhưng chúng tôi có ảnh họ cùng bước vào khách sạn và cùng ở khách sạn ra.

- Ông hủy những ảnh đó đi, - Anne khẽ nói.

Glen Ricardo chớp mắt.

- Tùy bà, thưa bà osborne. Nhưng còn những điều khác nữa. Những cuộc điều tra thêm cho thấy ông osborne chưa bao giờ học ở Harvard, cũng chưa bao giờ là sĩ quan trong quân đội Mỹ. Trường Harvard cũng có một Henry osborne nhưng nhỏ người hơn, tóc hung hung và quê ở Alabama. Ông này bị chết trận ở Maine năm 1917. Chúng tôi cũng biết là chồng bà còn ít tuổi hơn nhiều so với lời ông ta khai, và tên thật của ông ta là Vittorio Togna. Ông ta đã phục vụ....

- Tôi không muốn nghe nữa, - Anne nói, nước mắt chảy tràn xuống hai bên má - Tôi không muốn nghe nữa.

Anne cố nén để giữ bình tĩnh.

Cảm ơn ông Ricardo, tôi hoan nghênh tất cả những gì ông đã làm. Tôi còn thiếu ông bao nhiêu?

- Bà đã trả trước hai tuần rồi. Chúng tôi làm thêm hai ngày, cộng với những khoản chi khác là bảy mươi ba đô- la.

Alan đưa cho anh ta tờ một trăm đô la rồi đứng dậy.

- Bà còn tiền thừa, thưa bà osborne.

Chị lắc đầu và xua tay.

- Bà không hề gì chứ, bà osborue? Tôi thấy bà hơi tái đi đấy Tôi lấy cho bà cốc nước hoặc cái gì đó được không?

- Tôi không sao, - Anne nói dối.

- Có lẽ bà cho phép tôi đưa bà về nhà?

- Không, cảm ơn ông Ricardo. Tôi tự về nhà được.- Chị quay nhìn anh ta mỉm cười. - Cảm ơn ông đã quan tâm.

Glen Ricardo nhẹ nhàng đóng cửa lại, từ từ bước ra cửa sổ, cắn đứt đầu mẩu xì- gà, nhổ toẹt một cái rồi rủa thầm cái nghề của anh.

Aune dừng lại ở chân cầu thang đầy rác rưởi, tay vịn vào lan can. Suýt nữa chị ngất. Đứa bé trong bụng đạp dội lên khiến chị cảm thấy buồn nôn. Chị lê ra đến cuối phố, tìm được chiếc xe tắc- xi rồi ngồi nép vào phía sau. Chị không nín được, khóc sụt sịt. Chị không biết rồi mình sẽ làm gì bây giờ đây. Về đến nhà, chị vào ngay trong phòng ngủ đề những người làm trong nhà khỏi trông thấy chị thất vọng. Vừa vào đến bên trong phòng, chuông điện thoại đã reo lên. Chị nhắc máy lên nghe, vì thói quen hơn là vì muốn biết ai ở đầu dây đằng kia.

- Tôi muốn nói chuyện với bà Kane được không?

Chị nhận ra ngay cái giọng của Alan, một giọng mệt mỏi, không vui vẻ gì.

- Chào ông Alan. Anne đây.

Chị Anne thân mến, tôi rất tiếc khi được biết về tin sáng nay.

- Sao ông biết được, Alan? Làm sao ông biết được? Ai bảo cho ông biết?

Tòa thị chính gọi điện cho tôi và cho tôi biết tin chi tiết ngay sau lúc mười giờ. Tôi gọi ngay cho chị nhưng cô hầu trả lời chị đã ra phố mua sắm rồi.

- Ôi lạy Chúa - Anne nói. - Tôi đã quên khuấy đi mất về chuyện hợp đồng.

Chị ngồi phịch xuống ghế, cảm thấy khó thở.

- Anne, chị có sao không thế - Không, tôi không sao, - Chị đáp, cố không tỏ ra nghẹn ngào trong điện thoại. - Tòa thị chính bảo sao?

- Hợp đồng xây dựng bệnh viện được giao cho công ty có tên là Kirbrnde và Carter. Rõ ràng Henry không có trong số ba người đứng đầu danh sách. Cả buổi sáng tôi cố tìm anh ta, nhưag hình như anh ta đã đi đâu ngay từ sau lúc mười giờ, và từ đó chưa trở về.

Có lẽ chị cũng không biết anh ta đang ở đâu chứ, Anne?

- Không, tôi không biết nữa.

- Chị muốn tôi sang bên đó bây giờ không - Ông ta nói. - Tôi có thể sang với chị mấy phút.

- Không, cảm ơn ông, Alan. - Anne dừng lại lấy hơi thở.- Xin ông tha lỗi cho tôi về thái độ đối với ông trong mấy ngày vừa qua. Nếu như Richard còn sống thì anh ấy sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho tôi được.

- Chị đừng lẩn thẩn, Anne. Chúng ta đã là bạn với nhau từ nhiều năm nay rồi, một chuyện nhỏ như vậy có nghĩa gì đâu.

Giọng nói thân mật của ông càng làm chị muốn khóc lên. Chị lảo đảo đứng dậy.

- Tôi phải ra đây đã, hình như có nglrời gõ cửa ngoài, có thể là Henry về.

- Chị cẩn thận đấy nhé. Anne. Đừng nghĩ ngợi gì nữa chuyện hôm nay. Chừng nào tôi còn là chủ tịch thì ngân hàng vẫn sẽ ủng hộ chị. Khi nào cần, chị cứ gọi cho tôi ngay nhé, đừng ngại.

Anne bỏ máy xuống. Trong tai chị vẫn ù ù. Chị cố thở mà không được. Chị gục xuống sàn nhà, cùng lúc đó cảm giác co bóp dội lên trong người chị.

Lát sau có tiếng gọi cửa nhè nhẹ của cô hầu. Phía sau cô hầu là bóng William. Từ khi chị lấy Henry osborne, anh không hề bước chân vào phòng ngủ của mẹ nữa. Hai người chạy vội đến chỗ Anne. Chị vẫn đang giẫy giụa, không biết có người vào. Phía trên mép có chút bọt sùi ra. Vài giây sau, chị không co quắp nữa mà nằm yên và khẽ rên.

- Mẹ, - William lên tiếng, - Mẹ sao thế?

Anne mở mắt nhìn con như ngây dại.

- Richard. Lạy Chúa anh đã về. Em đang cần đến anh.

- Con William đây mà, mẹ.

Mắt chị vẫn lờ đờ.

Em kiệt sức rồi, Richard. Em phải trả giá cho lỗi lầm của mình. Anh tha thứ....

Giọng chị kéo dài thành một tiếng rên rồi người lại co quắp một lần nữa.

- Sao thế này? - William lúng túng nói.

Tôi nghĩ có lẽ bà trở dạ đấy, - Cô hầu nói. - Phải mấy tuần nữa mới đến ngày đẻ cơ.

- Cô ra điện thoại gọi ngay cho bác sĩ MacKenzie, - Wiìliam bảo cô hầu rồi chạy ra cửa phòng. Anh gọi tọ- Matthequ! Lên đây ngay, mau lên.

Matthequ chạy vội lên cầu thang cùng William vào phòng ngủ.

Cậu giúp đưa mẹ tớ xuống xe với. Matthequ qùy xuống. Hai chàng thanh niên bế Anne lên, nhẹ nhàng đưa xuống cầu thang và ra xe. Chị vừa thở dốc vừa rên rỉ tỏ ra đang rất đau đớn. William trở lại trong phòng cầm vội lấy ống nói trong tay cô hầu, trong khi Matthequ chờ ở dưới xe.

- Bác sĩ MacKenzie.

Phải, ai đấy?

- Tên tôi là Wilham Kane, có lẽ ông không biết tôi đâu.

- Không biết anh ư? Chính tôi đỡ khi đẻ anh ra đấy Có chuyện gì vậy?

- Có lẽ mẹ tôi đang trở dạ. Bây giờ tôi đưa bà đến bệnh viện ngay đây. Mấy phút nữa tôi đến đó rồi.

Giọng bác sĩ MacKenzie đã đổi khác.

Thôi được, Wiììiam, anh đừng lo. Tôi sẽ ở đây chờ anh. Mọi thứ sẽ đâu vào đấy.

Xin cảm ơn ông, - William nói, - Hình như mẹ tôi bị co giật, như vậy có bình thường không ạ?

Câu nói của William khiến ông bác sĩ rùng mình. chính ông cũng ngần ngại không biết nói thế nào.

Không bình thường lắm đâu. Nhưng nếu đẻ được thì không sao. Anh mau đưa đến đây, càng nhanh càng tốt.

William bỏ máy xuống, chạy ra ngoài nhà và nhảy ngay vào chiếc Rolls- Royce.

Matthequ lái xe rất cẩn thận, không dám sang số và cũng không dừng lại một chỗ nào, cứ thế từ từ đi đến bệnh viện. Hai người cùng một cô y tá đặt Anne lên cáng đi vội đến khu hộ sinh. Bác sĩ MacKenzie đã đứng chờ sẵn ở cửa phòng mổ. Ông bảo hai người đứng ngoài.

William và Matthequ yên lặng ngồi trên chiếc ghế dài chờ đợi. Trong phòng đẻ vang ra những tiếng kêu hét ghê rợn họ chưa từng nghe thấy bao giờ. Rồi sau đó là im lặng, và cái im lặng này còn ghê rợn hơn cả tiếng kêu hét. Lần đầu tiên trong đời mình, William thấy hoàn toàn bất lực. Hai chàng thanh niên ngồi trên ghế dài hơn một tiếng đồng hồ. Không một ai nói gì Lát sau, bác sĩ MacKenzie xuất hiện với dáng mỏi mệt. Hai chàng thanh niên cùng đứng dậy. Bác sĩ nhìn Matthequ Lester.

- Không, thưa ông, tôi là Matthequ Lester. Còn đây là William.

Bác sĩ quay lại đặt một tay lên vai William. William, tôi rất tiếc. Mẹ anh chết cách đây vài phút.... còn đứa bé, một cháu gái, cũng chết lúc mới đẻ.

William ngồi khụyu xuống ghế.

- Chúng tôi đã làm mọi cách để cứu sống cả hai mẹ con, nhưng muộn quá rồi. - Ông lắc đầu buồn bã. - Bà ấy không chịu nghe tôị... mà cứ đòi phải có con. Lẽ ra không có chuyện này.

quiuiam ngồi lặng người, sững sờ về câu nói vừa rồi của bác sĩ. Anh khẽ hỏi:

- Làm sao mà chết được? Sao ông có thể để cho bà ấy chết được?

Bác sĩ ngồi xuống ghế.

- Bà ấy không chịu nghe tôi, - Ông từ từ nhắc lại. - Tôi đã nhiều lần nhắc bà ấy, sau cái vụ sẩy thai lần trước, rằng chớ có đẻ nữa. Nhưng sau khi bà ấy tái giá, bà ấy với ông bố dượng của anh không bao giờ coi trọng lời dặn của tôi hết. Lần có mang trước đây, huyết áp của bà ấy rất cao. Lần này tôi cũng lo ngại nhưng chưa có lúc nào đến mức nguy ngập. Hôm nay, lúc anh đưa bà ấy đến đây, tôi không. hiểu được tại sao lại bỗng có hiện tượng co giật như vậy.

Wilham nhìn ông không hiểu.

- Phải, co giật. Đôi khi bệnh nhân có thể chịu đựng được nhiều lần như vậy. Nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân tắt thở luôn.

William gục đầu xuống hai tay. Matthequ Lester đỡ anh dậy đi chầm chậm trong hành lang. Bác sĩ đi theo hai người. Ra đến thang máy, ông nhìn William nói:

Huyết áp của bà ấy tăng đột ngột. Điều này là rất là không bình thường, và hình như bà ấy không gượng lại như mọi khi, gần như bà ấy không cần gượng lại nữa. Tôi thấy rất lạ. Gần đây, có điều gì khiến bà ấy phiền lòng không?

quilliam ngước lên nhìn bác sĩ. Nước mắt anh tràn xuống đầy mặt.

- Không phải là điều gì, - Giọng anh đầy căm giận,- Mà là người nào.

Khi hai người về đến nhà thì thấy Alan Uoyd đã ngồi ở một góc phòng khách. Ông đứng dậy.

Wilìiam, - Ông lên tiếng ngay. - Tôi tự trách mình đã để cho vay như vậy.

Wiliam nhìn ông ta như không nghe thấy ông ta nói gì. Matthequ Lester nói thay vào đó.

- Có lẽ điều đó không còn quan trọng nữa, ông ạ. Mẹ của William vừa mất lúc đau đẻ rồi. - Anh nói nhỏ.

Alan Lloyd tái nhợt người, phải vịn tay vào bệ lò sưởi mới đứng được. Ông quay mặt đi. Lần đầu tiên, cả William và Matthequ mới trông thấy người lớn khóc.

- Đó là lỗi tại tôi - Ông chủ ngân hàng nói. - Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho mình được. Tôi đã không nói cho chị ấy biết tất cả những gì tôi biết được. Tôi quý chị ấy quá nên không muốn thấy chị ấy thất vọng bao giờ. ' Nỗi đau của ông giúp Wiìliam bình tĩnh trở lại.

- Không phải lỗi của ông đâu, Alan, - Anh dằn giọng nói. - Ông đã làm đủ mọi cách rồi. Tôi biết thế. Và bây giờ đến lượt tôi phải nhờ ông giúp đỡ đây.

Alan Lloyd đứng thẳng người dậy.

- Osborne đã được báo tin về chuyện mẹ anh chết chưa?

- Tôi không biết mà cũng không cần biết.

- Suốt ngày hôm nay tôi gọi cho anh ta về chuyện đầu tư Nhưng anh ta bỏ đi từ lúc mười giờ sáng nay, và không ai biết anh ta ở đâu.

- Sớm muộn rồi hắn cũng về đây thôi, - Wilham nghiêm mặt nói.

Sau khi Alan Lloyd ra về rồi, Willỉam và Matthequ ngồi lại trong phòng khách đó gần hết đêm, lúc ngủ thiếp đi, lúc tỉnh. Đến bốn giờ sáng, William chợt nghe tiếng chuông đồng hồ vang lên và cũng nghe thấy cả tiếng gì ở ngoài nhà. Matthequ nhìn qua cửa Hổ xuống đường. William cũng bước ra nhìn xuống. Họ thấy Henry osborne đang lảo đảo đi qua quảng trường Louisburg, trong tay cầm một chai rượu. Anh ta thò tay vào túi tìm chìa khóa một lúc rồi đứng giữa cửa nhìn hai chàng thanh niên, mắt nhấp nháy.

Tôi cần Anne chứ không cần anh. Tại sao anh không ở trường? Tôi không cần anh đâu, - Anh ta líu lưỡi và giơ tay định gạt William sang một bên. - Anne đâu?

Mẹ tôi chết rồi, - William khẽ nói.

Henry osborne ngơ ngác nhìn anh vài giây. Cái nhìn ngơ ngác ấy khiến William còn có thể tự chủ được Anh bỗng quát lên:

- Ông đi đâu trong khi bà ấy cần đến chồng osborne vẫn còn đứng lảo đảo. Đứa bé thế nào?

- Con gái, nhưng nó cũng chết rồi.

Henry osborne thụp ngồi xuống một chiếc ghế. Nước mắt bắt đầu chảy xuống mặt anh ta.

- Cô ấy làm mất con tôi rồi ư?

William không biết mình nên điên hay nên buồn. - Con ông? ông đừng có nghĩ về mình nữa được không? - Anh lại quát lên. - Ông biết là bác sĩ MacKenzie đã khuyên bà ấy không nên có mang nữa chứ?

- Anh lại cũng giỏi cả môn ấy nữa kia à? Nếu anh biết lo chuyện của anh và đừng có can thiệp gì vào đây thì tôi đã có thể chăm lo đến vợ tôi rồi, phải thế không nào?

- Và chăm lo cả tiền của bà ấy nữa chứ?

- Tiền, hừ. Anh chỉ là một thằng keo kiệt. Tôi biết là mất tiền thì anh còn đau hơn mất bất cứ gì khác.

- Đứng dậy! - William rít qua kẽ răng.

Henry osborue đứng dậy và đập vỡ chai rượu vào thành ghế. quhisky tung tóe ra thảm. Anh ta lắc lư bước đến chỗ William và giơ chai rượu vỡ ìên. William vẫn đứng nguyên đó trong khi Matthequ đứng chen ngay vào giữa và dễ dàng gỡ cái chai ra khỏi tay anh chàng say rượu.

William gạt bạn sang một bên và tiến đến sát mắt Henry osborne.

Bây giờ, ông hãy nghe đây, và nghe cho kỹ vào. Tôi yêu cầu ông phải ra khỏi nhà này trong vòng một giờ nữa. Tôi mà còn nghe thấy nói đến ông nữa, tôi sẽ lập tức cho điều tra ngay về tiền nửa triệu đôla của rnẹ tôi vào công ty của ông, tôi sẽ cho tiến hành ngay cả việc điều tra về quá khứ của ông ở Chicago và ông thật sự là ai. Còn nếu không nghe nói đến ông nữa, tôi sẽ coi như quên chuyện đó đi. Bây giờ, ông cút ngay đi, không tôi sẽ giết ông đấy.

Hai chàng thanh niên nhìn anh ta bước ra ngoài, vừa sụt sùi vừa hoang mang giận dữ.

Sáng hôm sau William đến ngân hàng. Anh được mời vào ngay vào phòng làm việc của Chủ tịch. Alan đang xếp một số giấy tờ vào cặp. Ông nhìn lên và đưa một mẩu giấy cho Wilìiam mà không nói gì.

đó là một bức thư ngắn gửi tất cả các thành viên trong ban giám đốc cho ông được từ chức chủ tịch ngân hàng.

- Ông cho gọi cô thư ký vào đây được không?

William bình tĩnh nói.

- Tùy anh.

Alan Lloyd bấm vào một nút bên cạnh bàn giấy. Một người đàn bà cỡ trung niên, ăn mặc kiểu cổ, từ một cửa bên bước vào.

Chào ông Kane, - Bà ta trông thấy William đã nói ngay. Tôi rất tiếc khi được tin về thân mẫu ông.

- Cảm ơn bà, - William nói. - Đã có ai khác xem bức thư này chưa?

- Thưa chưa, - Bà thư ký nói. - Tôi đang sắp đánh ra mười hai bản để ông Doyd ký.

- Thôi bà đừng đánh máy ra nữa, và xin bà cũng quên là có bản thảo này nhé. Bà cũng đừng nói cho bất cứ ai biết về chuyện này, bà hiểu chứ?

Bà ta nhìn vào đôi mắt xanh của anh chàng thanh niên mười sáu tuổi. Sao mà giống ông bố ngày xưa thế, bà nghĩ bụng.

Vâng, thưa ông Kane. - Bà lặng lẽ ra ngoài và đóng cửa lại. Alan Lloyd nhìn lên..

- Lúc này, Kane và Cabot không cần đến một ông chủ tịch mới, ông Alan ạ, - William nói. - Trong trường hợp này, ông không hề làm cái gì mà bố tôi trước kia đã không làm.

- Đâu có dễ dàng thế, - Alan nói.

- Dễ chứ, - William nói. - Chúng ta sẽ lại bàn việc này khi nào tôi hai mươi mốt tuổi. Còn trước đó thì chưa bàn. Từ nay đến đó, tôi rất mong ông vẫn quản lý ngân hàng của tôi theo cái cách vừa rất ngoại giao vừa rất bảo thủ như từ trước đến nay. Tôi không muốn người ta bàn tán gì đến những chuyện vừa xẩy ra ở ngoài văn phòng này. Xin ông cho hủy tất cả những tài liệu gì ông có về Henry osbome, và coi như vấn đề này đã kết thúc.

William xé vụn bức thư xin từ chức và vứt từng mảnh vào lửa. Anh quàng tay vào vai Alan.

- Bây giờ tôi không còn gia đình nữa, Alan chỉ còn có ông thôi. Lạy chúa, ông đừng bỏ tôi.

William trở về ngôi nhà trên đồi Beacon. Bà nội Kane và bà ngoại Cabot ngồi yên lặng trong phòng khách. Thấy anh bước vào, hai cụ đứng dậy. Lần đầu tiên Wilham nghĩ ra bây giờ anh đã là chủ của gia đình Kane.

Hai ngày sau, tang lễ được tiến hành một cách lặng lẽ ở nhà thờ lớn St. Paul. Chỉ có những người trong gia đình và bạn thân được mời đến. Riêng Henry osborne vắng mặt. Những người đến dự tang lễ chia buồn với Wilham. Hai cụ bà đứng phía sau anh như hai người hộ vệ, cảm thấy anh tỏ ra bình tĩnh, tỉnh táo Sau khi mọi người ra về rồi, William tiễn Alan Lloyd ra xe.

ông chủ tịch rất sung sướng nghe William yêu cầu mình giúp một việc.

- Như ông đã biết đấy, Alan, mẹ tôi vẫn muốn xây cho bệnh viện một khu nhi để tưởng nhớ đến bố tôi. Vậy tôi muốn nhờ ông giúp cho nguyện vọng của bà được thực hiện.
 
chương 12
 
 
Wladek ở lại tòa lãnh sự Ba- lan tại Constantinople đến một năm chứ không chỉ ít ngày như lúc đầu anh đã tưởng. Suốt ngày đêm, anh làm việc cho Paquel Zaleski, trở thành người trợ lực không thể thiếu và là bạn gần gũi của ông ta nữa. Đối với anh, hình như không có việc gì là khó khăn lắm. Zaleski nghĩ bụng không biết trước đây không có Wladek thì ông ta đã xoay sở như thế nào.

Mỗi tuần Wladek đến thăm sứ quán Anh một lần, vào trong bếp ngồi ăn với bà Hendersom, người Xcốt- len. Có một lần anh còn được ngồi ăn với cả ông phó lãnh sự của Nhà vua Anh nữa. Lúc này ở Thổ Nhĩ Kỳ lối sống cũ của Hồi giáo đang mất dần và đế chế ottoman đã bắt đầu rệu rã. Cái tên Mustapha Kemal được nhắc đến ở cửa miệng mỗi người. Không khí sắp diễn ra những thay đổi khiến Wladek sốt ruột. Anh luôn luôn nghĩ đến Nam tước và tất cả những ai anh yêu quý ở lâu đài. Hồi còn ở Nga, do phải làm sao để sống được từ ngày này sang ngày khác nên anh không có lúc nào nghĩ đến họ, nhưng sang đến đây rồi họ lại hiện lên trước mắt anh, lặng lẽ, chậm chạp. Đôi khi anh hình dung những con người đó khỏe mạnh vui tươi, anh thấy Leon bơi lội trên sông, thấy Phiorentyna chơi trò lộn dây trong phòng ngủ, thấy khuôn mặt bệ vệ của Nam tước trong ánh đèn nến buổi tối. Nhưng bao giờ cũng vậy những khuôn mặt thân yêu mà anh rất nhớ ấy sẽ rung rinh trước mắt anh rồi biến thành những hình ảnh khủng khiếp, Leon nằm chết trên người anh, Phlorentyna trong cơn hấp hối người đầy máu me, và Nam tước gần như mù và kiệt quệ.

Wladek dần dần hiểu ra rằng anh sẽ chẳng bao giờ trở về được quê hương với những hồn ma như thế, mà anh phải làm một cái gì thật xứng đáng mới được:

Nghĩ thế, anh lại nhớ đến nhân vật Tadeusz Khôngsciuskhông mà trước đây Nam tước đã nhiều lần kể cho anh nghe, và anh nghĩ đến chuyện đi sang Mỹ.

Paquel Zaieski cũng đã mô tả cho anh nghe nơi đó được gọi là Thế giới mới. Wladek càng hy vọng tương lai anh sẽ có cơ hội được trở về Ba lan một cách vẻ vang.

Chính Paquel Zaleski đã góp tiền để mua một tấm giấy nhập cư cho Wladek đi sang Mỹ. Kiếm được giấy đó không để vì bao giờ cũng phải đặt cọc trước một năm. Wladek tưởng như khắp cả các nước Đông âu ai ai cũng tìm cách trốn đi để làm lại cuộc sống ở Thế giới mới vậy.

Mùa xuân năm 1921, Wladek Khôngskiequicz rời Constantinople bước xuống con tàu Mũi tên đen đi đến đảo Rllis thuộc New York. Anh có chiếc va- li đựng tất cả những đồ đạc của mình trong đó với một mớ giấy tờ do Paquel Zaleski cấp.

ông lãnh sự Ba lan đưa anh ra bến tàu và ôm anh thân mật.

- Cậu đi theo Chúa nhé.

Wladek tự nhiên đáp lại bằng câu nói truyền thống của Ba lan anh đã thuộc từ bé:

- Xin ông ở lại với Chúa.

Bước chân lên cầu tàu, Wladek chợt nhớ lại chuyến đi khủng khiếp của anh từ odessa đến Constantinople.

lần này trên tàu không thấy có than, chỉ có người, đủ mọi thứ người, Ba lan, Li- tua- ni- a, E- xtô- nia, U cơ- rai- na và rất nhiều những người khác nữa mà Wladek không hiểu là thuộc dân tộc nào. Anh ôm chặt lấy chiếc va- li nhỏ và đứng vào hàng để chờ. Trước khi vào được đất Mỹ, anh còn phải trải qua nhiều lần chờ lâu như thế nữa.

Một sĩ quan trên tàu xem giấy tờ của anh rất cẩn thận, vì ngờ rằng Wladek trốn nghĩa vụ quân sự Ở Thồ Nhĩ Kỳ. Nhưng Paquel Zaleski đã chuẩn bị rất đầy đủ Lọt qua được cửa đó rồi, anh thầm cảm ơn người đồng bào của anh đã chu đáo được như vậy.

Nhiều người khác không có giấy tờ hợp lệ đã bị trả lại Sau đó là tiêm chủng và khám bệnh. Giá như không có một năm trời được ăn uống tử tế và lấy lại sức khỏe ở Constantinople thì có lẽ Wladek đã không qua được chỗ này. Cuối cùng, mọi thứ kiểm tra đã làm xong, anh được phép xuống khoang dưới, vào chỗ ăn ở rẻ tiền nhất của hành khách. Dưới đó có những ngăn riêng cho nam nữ và các đôi vợ chồng. Wladek nhanh chóng tìm đến khu nam giới và thấy nhóm người Ba lan đã chiếm một khu giường sắt hai tầng khá lớn. Trên mỗi chiếc giường có một đệm rơm mỏng, một chiếc chăn mỏng và không có gối. Wladek không lo chuyện không có gối, vì từ khi rời nước Nga đến nay anh chưa bao giờ ngủ có gối.

Wladek chọn một giường nằm phía dưới một anh chàng khác suýt soát tuổi anh, và tự giới thiệu.

- Tôi là Wladek Khôngskiequicz.

Tôi là Jerzy Noquak ở Warsaqu, - Anh kia đáp lại bằng tiếng Ba lan. - Tôi đi làm giàu ở Mỹ đây.

Anh ta đưa tay ra bắt. Trước khi con tàu khởi hành, Wilìiam và Jerzy ngồi nói chuyện với nhau về mình, cả hai đều lấy làm mừng có bạn để đỡ cô đơn trên tàu. Cả hai đều không muốn nói là mình hoàn toàn không biết gì về nước Mỹ. Hóa ra Jerzy đã mất cả bố mẹ trong chiến tranh và không còn trông cậy vào ai khác. Còn Wladek thì kể cho anh ta nghe về mình:

con của một Nam tước, lớn lên trong một căn lều của người thợ săn, bị người đức và người Nga bỏ tù, trốn khỏi Siberia, thoát khỏi tay một đao phủ Thổ Nhĩ Kỳ nhờ có chiếc vòng bạc đeo trên tay. Jerzy nhìn vào chiếc vòng rất chăm chú. Wladek kể lại tóm tắt mười lăm năm của mình mà Jerzy tưởng như phải cả một đời người mới trải qua hết được những thứ đó. Suốt đêm, Wladek chỉ nói về quá khứ. Jerzy nghe mà không muốn ngủ , cũng không dám nói ra là mình đang lo ngại về tương lai như thế nào Sáng hôm sau, con tàu Mũi tên đen rời bến. Wladek và Jerzy đứng trên boong tàu nhìn Constatinople lùi xa dần trong khoảng trời xanh. Sau vịnh Marmara phẳng lặng đến vùng có sóng của biển Aegean. Phần lớn các hành khách trong khoang rẻ tiền đều bị say sóng. Trong khu này chỉ có mấy phòng vệ sinh và vòi nước lạnh, không đủ cho họ rửa ráy.

Chỉ qua vài ngày là mùi hôi thối đã sực lên không chịu được.

Bữa ăn của họ được để trên những chiếc bàn dài trong một phòng ăn rộng nhưng bẩn thỉu nhếch nhác. Có súp nóng, khoai tây, cá, thịt bò hầm và bắp cải, bánh mì nâu hoặc đen. Trước khi rời nước Nga, Wladek đã được biết những thức ăn khổ hơn thế này nhiều, nhưng ngoài những thứ ở trên tàu này, anh còn có những cái bà Henderson đã gói cho anh như xúc xích, lạc và cả một ít rượu brandy nữa. Anh rủ Jerzy đem vào góc giường cùng ăn. Hai người thầm hiểu với nhau mọi thứ mà không cần nói ra lời. Họ cùng ăn, cùng đi xem các nơi trên tàu, và đêm đến lại trèo lên giường cùng ngủ.

Sang ngày thứ ba trên biển, Jerzy rủ một cô gái Ba lan cùng đến bàn ăn. Anh ta giới thiệu với Wladek đó là Zaphia. Lần đầu tiên trong đời, Wladek nhìn kỹ một cô gái. Anh không rời mắt khỏi Zaphia. Cô ta làm anh nhớ đến Phlorentyna. Cũng đôi mắt xanh đậm đà, mớ tóc vàng trễ xuống hai vai và giọng nói ấm áp.

Wladek cảm thấy như muốn sờ vào người cô ta. Thỉnh thoảng cô gái nhìn Wladek cười. Anh đau khổ thầm nghĩ rằng Jerzy còn đẹp trai hơn mình rất nhiều. Anh đi theo Jerzy đưa cô gái trở về khu phụ nữ.

Sau đó Jerzy quay lại nhìn anh với vẻ hơi khó chịu. - Cậu tìm một cô gái khác cho cậu chứ? Cô này là của tớ.

Wladek không sẵn sàng thừa nhận là anh chẳng hiểu kiếm riêng cho một một cô gái bằng cách nào. Anh ra điều coi khinh.

- Ôi chao, sang đến Mỹ thì còn ối thì giờ đi tìm gái.

- Tại sao phải chờ sang đến Mỹ? Ngay trên tàu này muốn bao nhiêu mà chả được?

- Cậu làm thế nào? - Wladek hỏi, muốn biết Nhưng không dám nhận là mình dốt về môn này.

- Chúng ta còn hơn mười hai ngày nữa trong cái hầm này, và mười hai ngày đó tớ sẽ có mười hai người đàn bà cho mà xem, - Jerzy khoe khoang.

Cậu có thể làm gì với mười hai người đàn bà? - Wladek hỏi.

- Ngủ với họ, chứ còn làm gì nữa? - Wladek ngỡ ngàng không hiểu.

ôi lạy Chúa, - Jerzy thốt lên. - Chẳng lẽ một người như cậu đã sống được với bọn Đức, thoát khỏi tay bọn Nga, đã giết một người khi mình mới mười hai tuổi và suýt bị bọn Thổ Nhĩ Kỳ dã man đem chặt tay, thế mà lại chưa biết đàn bà là gì ư?

Anh ta cười to đến nỗi những người khác ở các giường chung quanh phải lên tiếng bảo im đi. Jerzy tiếp tục nói thầm với Wladek. - Đã đến lúc cậu phải học thêm cho biết. Ít ra tớ cũng có được một cái để dạy cho cậu. - Anh ta thò đầu xuống giường dưới nói, mặc dầu không nhìn thấy rõ mặt Wladek trong bóng tối - Zaphia là một cô gái dễ thông cảm đấy. Tớ có thể nói là sẽ thuyết phục cô ta mở rộng kiến thức thêm cho cậu. Để rồi tớ thu xếp.

Wladek không nói gì.

Cũng không ai nhắc đến chuyện ấy nữa, nhưng hôm sau thì Zaphia tỏ ra chú ý đến Wladek. Lúc ăn, cô ta đến ngồi bên cạnh Wladek và họ nói chuyện với nhau hàng giờ về cuộc sống và những hy vọng của mình. Cô ta là một cô gái mồ côi ở Poznan, bây giờ đi sang với bà con họ hàng ở Chicago. Wladek thì bảo Zaphia là anh sang New York và có lẽ sẽ cùng ở với Jerzy.

- Tôi mong là New York rất gần Chicago, Zaphia nói.

- Thế thì sẽ có thể đến thăm tôi khi nào tôi làm thị trưởng, - Jerzy huênh hoang nói.

Cô ta cười khẩy.

- Anh còn Ba Lan lắm, Jerzy ạ. Anh cũng không nói được tiếng Anh tử tế như Wladek.

Tôi sẽ học, - Jerzy nói với vẻ tin tưởng, - Và tôi sẽ bắt đầu bằng cách đặt tên Mỹ cho mình. Từ hôm nay trở đi tôi sẽ là George Navak. Thế là không có khó khăn gì nữa. Mọi người ở Hoa Kỳ sẽ nghĩ tôi là người Mỹ. Còn cậu, Wladek Khôngskiequicz, cậu thế nào? Cậu giữ cái tên đó thì chả làm gì được mấy đâu, phải không?

Wladek nhìn anh chàng mới có cái tên là George kia và thầm bực mình với tên của chính mình. Không thể lấy ngay được cái tên mà anh có quyền hưởng gia tài kia, anh nghĩ bụng cái tên Khôngskiequicz thật là rắc rối mà còn bất hợp pháp nữa.

- Tớ sẽ tìm cách sau, - Anh đáp. - Nếu cậu muốn, tớ có thể giúp cậu học tiếng Anh được.

Còn tớ sẽ giúp cậu tìm ra một cô gái. - Zaphia cười khúc khích.- Anh chả cần đâu, anh ấy đã tìm được một cô rồi.

Jerzy bây giờ có tên là George và anh ta đòi họ phải gọi bằng tên đó, cứ mỗi tối sau khi ăn xong lại chui vào một chiếc xuồng phao có bạt che ở trên để hú hí với một cô gái. Wladek rất muốn biết anh ta làm gì trên đó, vì những người đàn bà mà George chọn và rủ lên đó không những bẩn thỉu mà còn xấu xí nữa.

Một tối sau bữa ăn, khi George đã biến đi rồi, Wladek với Zaphia ngồi trên boong tàu nói chuyện. Cô ta quàng tay ôm lấy anh và bảo anh hôn. Anh kề íniệng vào môi cô ta, nhưng người anh cứng quèo, lúng túng không biết làm thế nào. Anh ngạc nhiên thấy cô ta lùa đầu lưỡi vào miệng mình. Lát sau hết sửng sốt rồi, anh thấy miệng cô ta há ra một cách rất khêu gợi và anh thấy người rạo rực hẳn lên. Anh ngượng, muốn ngồi lui lại nhưng cô ta không hề chú ý trái lại cứ áp người vào sát anh đưa đẩy và cầm tay anh kéo xuống dưới. Cơ thể anh giần giật rất khó chịu. Cô ta ngừng hôn và thủ thỉ vào tai anh.

- Anh muốn em cới quần áo không, Wladek?

Anh không biết thế nào trả lời.

- Thôi có lẽ để đến mai. - Cô ta nói và đứng dậy bỏ đi.

Anh lật đật đi về giường mình, trong bụng nghĩ đến hôm sau sẽ quyết tâm hoàn thành cái việc mà Zaphia đã bắt đầu. Anh vừa đặt lưng xuống và nghĩ xem sẽ thực hiện cái việc đó như thế nào thì bỗng có một bàn tay to túm lấy tóc anh kéo từ trên giường xuống sàn tàu. Trong khoảnh khắc, sự kích thích tình dục trong anh tan biến mất. Hai người đàn ông anh chưa thấy bao giờ đứng lù lù ở đó. Họ kéo anh vào một góc xa và bắt đứng dựa vào tường. Một bàn tay to bịt chặt lấy miệng anh trong khi một lưới dao kề vào cổ họng.

- Cấm không được kêu, - Tên cầm dao ấn lưỡi dao vào da thịt anh, nói khẽ. - Chúng tao chỉ cần cái vòng bạc ở cổ tay mày thôi.

Mất chiếc vòng bạc này sẽ chẳng khác gì như bị chặt bàn tay, Wladek nghĩ mà khiếp sợ. Anh chưa biết làm thế nào thì một trong hai tên đó đã kéo tuột được chiếc vòng ra khỏi cổ tay anh. Anh không rõ mặt chúng vì ở chỗ này tối quá. Anh đang lo như thế là vĩnh viễn mất chiếc vòng thì bỗng có một người nào đó nhảy lên lưng tên cầm dao. Wladek lợi dụng cơ hội đấm một nhát vào mặt tên đang ghì anh vào tường.

Những người ngủ quanh đó thức dậy xôn xao. Hai tên kia vội bỏ trốn nhưng George đã kịp đâm một nhát dao vào cạnh sườn một tên.

Cho chúng mày chết nhé, - Wladek hét lên và đứng lại.

- Tớ đến vừa kịp, - George nói. - Chúng nó chưa quay lại ngay đâu. - Anh ta nhìn xuống chiếc vòng bạc nằm lăn lóc trên sàn đầy những mùn cưa. - Hay thật,- Anh ta trịnh trọng nói. - Sẽ còn có nhiều người muốn cướp cái của quí ấy của cậu đấy.

Wladek nhặt chiếc vòng lên đeo vào tay.

- Suýt nữa thì cậu mất hẳn cái vòng này đấy nhé.- George nói. - May cho cậu là tối nay tớ về hơi muộn.

Tại sao cậu về hơi muộn? Wladek hỏi. - George khoe khoang:

- Tớ nổi tiếng rồi. Thực tình là tối nay tớ vớ được một thằng ngốc mò đến chiếc xuồng của tớ. Hắn đã tụt quần rồi. Tớ trông thấy thế bèn bảo hắn đừng có nằm với cô gái mà tuần trước tớ định nằm nhưng không dám vì cô ta có bệnh giang mai. Thế là hắn vội vã mặc quần vào bỏ đi ngay.

- Cậu làm gì trong xuồng ấy? Wladek hỏi.

- Thì ngủ với họ chứ làm gì nữa, sao cậu hỏi ngốc thế?

- Nói rồi George lăn ra ngủ.

Wladek nằm nhìn lên trần, tay mân mê chiếc vòng bạc. Anh suy nghĩ về câu George vừa nói, và tự hỏi không biết mình sẽ ngủ với Zaphia như thế nào đây.

Sáng hôm sau tàu gặp một cơn bão. Tất cả các hành khách đều bị cấm không được lên trên boong.

Mùi hôi thối cộng thêm với hệ thống sưởi trong tàu càng nồng nặc lên như sói vào tận trong óc Wladek.

- Thế là hỏng cả việc của tớ, không thực hiện được đủ một tá. George phàn nàn.

Cơn bão tan đi, hầu hết các hành khách kéo lên khoang trên. Wladek và George vội chen trong đám đông chui lên hít thở ít không khí trong lành. Nhiều cô gái nhìn George mỉm cười, nhưng Wladek thấy họ không để ý gì đến anh. Một cô gái tóc đen, má đỏ hồng lên vì gió biển, qua mặt George cười với anh ta. Anh ta quay sang Wladek.

Wladek nhìn cô ta xem cô ta chú ý đến George như thế nào.

Tối nay nhé, - George chờ cô ta bước đến gần mới nói cho cô ta đủ nghe. Cô ta làm như không nghe thấy gì vẫn bước đi nhanh hơn trước một chút.

- Wladek, cậu ngoái lại xem cô ta có quay nhìn tớ không.

- Wladek ngoái lại, và ngạc nhiên đáp.

Có cô ta có nhìn.

- Thế là tối nay cô ta thuộc về tớ. - George nói. - Cậu đã có được Zaphia chưa?

- Chưa, - Wladek đáp. - Tối nay.

- Đã đến lúc rồi há? Đến New York thì cậu sẽ không bao giờ còn được gặp lại cô ta nữa.

Đúng như George nói, bữa tối hôm đó anh ta đã kéo theo được một cô gái tóc đen. Wladek và Zaphia không nói gì, quàng tay vào người nhau và đi lên boong trên dạo bước quanh tàu. Wladek liếc nhìn sang thấy nét nghiêng của Zaphia rất xinh. Anh nghĩ bụng, và quyết định phải làm ngay chứ không để lúc khác nữa. Anh dẫn cô ta đến một góc tối và bắt đầu hôn cô ta như hôm qua cô ta đã hôn mình. Cô ta lui lại một chút và tựa vai vào lan can. Wladek tiến theo. Cô ta cầm tay anh kéo xuống ngực. Anh sờ vào đó và không ngờ nó êm ái như vậy. Cô ta cởi vài khuy áo và đưa tay anh luồn vào bên trong. Anh thấy cảm giác đầu tiên sờ vào da thịt thật là ngon lành khó tả.

- Lạy Chúa Tay anh lạnh thế!- Zaphia nói.

Wladek ghì chặt cô ta vào người, thở dốc. Cô ta cùng đưa đẩy với anh một lúc rồi lui ra nói:

- Ở đây không được, chúng mình phải đi tìm một cái xuồng. Họ ngó nhìn vào ba chiếc xuồng đầu đều có người bên trong. Cuối cùng thấy một chiếc xuồng không bèn chui ngay vào dưới mái vải bạt. Trong bóng tối của chiếc xuồng Zaphia làm gì đó một lát với đám quần áo của cô ta rồi kéo Wladek nằm đè lên người mình.

Wladek loay hoay không biết làm thế nào thì cô ta bỗng ngừng hôn và khẽ bảo anh.

- Cởi quần ra chứ.

Anh cảm thấy mình như một thằng ngốc, vội làm theo, nhưng rồi chưa kịp hành động gì thì đã rùng mình rồi người anh nhủn ra. Anh chợt hiểu là khủyu tay và đầu gối của mình đang tì vào những đầu mẩu gỗ trong xuồng và rất đau.

- Đây là lần đầu tiên anh làm tình với một cô gái phải không? - Zaphia hỏi và muốn anh lại nằm lên người cô ta nữa.

- Không, tất nhiên không phải, - Wladek nói.

- Anh có yêu em không, Wladek - Có anh có yêu, - Wladek nói. - Và khi có nơi ăn chốn ở New York rồi, anh sẽ đến tìm em ở Chicago.

- Em muốn thế lắm, Wladek, - Cô ta nói và cài lại khuy áo.

- Và em cũng yêu anh nữa.

- Cậu có ngủ với cô ta không? - Wladek vừa về thì George đã hỏi ngay.

- Có - Thích không?

- Thích, - Wladek đáp bâng quơ rồi ngủ ngay. Đến sáng hôm sau, họ bỗng thức dậy nghe tiếng xôn xao trong hành khách. Ai cũng mừng đây là ngày cuối cùng trên con tàu Mũi tên đen. Một số người đã lên boong tàu từ trước lúc mặt trời mọc, hy vọng được nhìn thấy đất liền trước mọi người. Wladek gói ghém đồ đạc cho vào chiếc va- li mới, mặc bộ đồ duy nhất vào người, đội mũ vào, rồi lên đứng trên boong cùng với George và Zaphia. Ba người dõi nhìn vào đám sương mù trên mặt biển, im lặng chờ để được trông thấy đất Hoa Kỳ.

- Kia kìa!- Một hành khách reo lên, tiếp theo đó là cả đám người trên boong vui mừng trông thấy dải đất màu xám của đảo Long island từ từ hiện ra trong buổi sáng mùa xuân.

Những chiếc tàu con tiến đến bên tàu Mũi tên đen dẫn nó đi vào giữa Brooklyn vào đảo Staten để vào bến New York. Pho tượng Thần Tự Do đứng sừng sững trên nền trời trước khu Manhattan và giơ ngọn đuốc lên cao khiến mọi người trên tàu nhìn bằng con mắt kinh ngạc.

Cuối cùng, tàu bỏ neo gần những ngôi nhà có tháp cao xây gạch đỏ trên đảo Ellis. những hành khách có phòng riêng trên tàu xuống trước. Mãi đến hôm nay Wladek mới trông thấy những người đó. Anh đoán có lẽ họ Ở một tầng riêng trên tàu và có những phòng ăn riêng. Hành lý của họ đã có người đến mang vác. Họ được những người đứng sẵn dưới bến đón mừug.

Wladek biết là mình sẽ chẳng có được cái cảnh ấy. Sau khi một số người có đặc quyền ấy đã xuống tàu rồi, thuyền trưởng nói trên loa rằng mọi hành khách khác chưa được rời tàu và phải chờ nhiều giờ nữa.

Tiếng phàn nàn thất vọng vang lên và Zaphia ngồi bệt xuống boong tàu khóc. Wladek đến khuyên nhủ cô ta.

Lát sau có một viên chức mang cà- phê đến, một người nữa mang những biển số đến đeo vào cổ mỗi hành khách. Wladek mang số B.127. Anh nhớ trước đây đã có một lần phải đeo số rồi. Sao bây giờ cũng lại thế nữa? Mỹ cũng như các trại giam ở Nga chăng?

Cho đến tận giữa buổi chiều họ cũng chẳng được cho ăn uống gì, và cũng không ai nói cho biết là thế nào nữa. Họ được đưa xuống bến bên phía đảo Ellis.

Rồi đàn ông tách riêng khỏi đàn bà, được đưa vào những căn khác nhau. Wladek hôn Zaphia và cứ giữ cô ta đứng lại trong hàng. Một viên chức đi qua đó thấy thế tách họ ra.

Cứ đi đã ông ta nói. - Rồi sẽ cho hai người lấy nhau, chẳng bao lâu nữa đâu.

Wladek thấy Zaphia đi mất hút, còn anh và George bị đẩy lên phía trước. Đêm đó họ ngồi trong một căn nhà cũ ẩm ướt, không sao ngủ được trong khi những người phiên dịch đi đi lại lại giúp cho một số người nhập cư còn lớ ngớ chưa biết gì. Họ giúp qua loa thôi nhưng thái độ cũng nhã nhặn.

Đến sáng, họ được đưa đi khám sức khỏe. Chặng đầu là khó nhất. Người ta bắt Wladek phải leo lên một thang gác thật dốc. Ông bác sĩ mặc bộ đồng phục màu xanh bảo Wladek lên xuống hai lần và nhìn kỹ cách đi đứng của anh.

Wladek cố hết sức không tỏ ra mình hơi bị thọt.

Cuối cùng ông bác sĩ hài lòng. Sau đó người ta bảo anh cởi bỏ mũ, và cổ áo cứng, để xem kỹ mặt mũi tóc tai, tay và cổ. Người đến sau Wladek có môi trên bị sứt thế là bị Ông bác sĩ ách lại, đánh dấu phấn lên vai phải anh ta và chỉ ra đứng ở đầu nhà. Khám thân thể xong, Wladek cùng với George lại nối vào một đoàn người xếp hàng dài bên ngoài phòng gọi là kiểm tra công cộng. Mỗi người vào trong phòng đó chừng năm phút để họ phỏng vấn. Ba giờ đồng hồ sau đến lượt George được gọi vào. Wladek nghĩ bụng không biết người ta sẽ hỏi gì mình.

Lúc George bước ra, anh ta nhìn Wladek mỉm cười.

- Dễ thôi, cậu cứ đi thẳng vào đó, - Anh ta nói.

Wladek cảm thấy hai bàn tay mình ướt mồ hôi khi anh bước vào phòng.

Anh bước theo người viên chức vào một phòng nhỏ chung quanh không có gì trang trí. Có hai người xét hỏi ngồi sẵn đó và đang hí hoáy viết gì lên những tờ giấy có vẻ là giấy khai đặc biệt.

- Anh nói được tiếng Anh không?- Người thứ nhất hỏi.

- Thưa ông có, tôi nói được, - Wladek trả lời, nghĩ bụng dọc đường giá tập nói nhiều thì hơn.

Tên anh là gì?

- Wladek Khôngskiequicz, thưa ông.

- Họ đưa cho anh một cuốn sách to màu đen.

- Anh có biết cái này là gì không.

- Thưa có, đây là Kinh Thánh.

- Anh có tin ở Chúa không Thưa có, tôi có tin.

- Anh hãy để tay lên Kinh Khánh và thề sẽ trả lời thành thật những câu hỏi của chúng tôi.

quladek đưa tay trái cầm cuốn Kinh Thánh, đặt bàn tay phải lên đó và nói:

- Tôi hứa sẽ nói sự thật.

- Wốc tịch anh là gì?

- Ba Lan.

- Ai trả tiền cho anh đi qua đây?

- Tôi tự trả bằng tiền tôi kiếm được trong Lãnh sự quán Ba Lan ở Constantinople.

Một trong hai người nhìn vào giấy tờ của Wladek, gật đầu rồi hỏi tiếp.

- Anh có đến một nhà nào không?

Thưa có. Tôi sẽ đến ở nhà ông Peter Novak. Ông ấy là chú của bạn tôi. Ông ấy ở New York.

- Tốt. Anh có việc gì làm không?

- Thưa có. Tôi về làm trong lò bánh mì của ông Novak.

- Anh đã bị bắt bao giờ chưa?

Wladek chợt nghĩ đến Nga. Điều đó không tính. Thổ Nhĩ Kỳ.... Không, anh sẽ không nhắc đến làm gì.

- Không, thưa ông, chưa bao giờ.

Anh có phải là người vô chính phủ không - Không, thưa ông. Tôi ghét họ lắm.

- Anh có tuân theo luật pháp của Hoa Kỳ không - Có thưa ông.

Anh có tiền gì không - Có thưa ông.

- Cho chúng tôi xem nào?

Vâng, thưa ông. - Wladek để lên bàn mấy tờ giấy bạc và một ít tiền lẻ.

- Cảm ơn, - Người xét hỏi nói. - Anh có thề cất tiền vào túi đi Người thứ hai nhìn Wladek.

Hai mươi mốt cộng với hai mươi bốn là bao nhiêu?

- Bốn mươi lăm, - Wladek không ngập ngừng nói ngay.

Con bò cái có mấy chân.

Wladek không tin ở tai mình.

- Bốn, thưa ông, - Anh đáp và không biết có phải câu hỏi đó là cái bẫy không Con ngựa có mấy chân?

- Bốn, thưa ông, - Wladek đáp, trong bụng vẫn ngờ ngợ.

- Đang đi trên một chiếc thuyền con ngoài biển, nếu phải vứt đồ đi cho nhẹ thì anh sẽ vứt gì, bánh mì hay tiền bạc?

- Vứt tiền, thưa ông, - Wladek đáp.

- Tốt. - Người xét hỏi cầm lên một tấm thẻ có đề chữ "Chấp nhận" và đưa cho Wladek. - Sau khi anh đổi tiền rồi thì đưa tấm thể này trình cho viên Sĩ quan Nhập cư. Anh nói đầy đủ tên cho ông ta biết, và ông ta sẽ đưa cho anh thẻ đăng ký. Rồi họ sẽ cho anh giấy nhập cảnh. Nếu trong năm năm anh không phạm tội gì và qua được buổi? kiểm tra đọc và viết tiếng Anh, tán thành ủng hộ Hiến pháp, thì anh sẽ được phép xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Chúc anh may mắn.

Wladek. - Xin cảm ơn ông.

Ra quầy đổi tiền, Wladek đưa cả số tiền mười tám tháng dành dụm ở Thổ Nhĩ Kỳ cùng với ba tờ bạc 50 rúp còn lại cho họ. Họ trao lại cho anh 47,20 đô la đổi tiền Thổ Nhĩ Kỳ sang, còn những tờ rúp thì họ bảo anh là không có giá trị. Anh nghĩ đến bác sĩ Dubien với mười lăm năm dành dụm của ông.

Bước cuối cùng là ra gặp Sĩ quan Nhập cư. Ông ta ngồi sau một chiếc bàn ngay bên cửa ra vào có thang chắn, dưới bức chân dung Tổng thống Harding.

Wladek và George cùng bước đến.

Tên họ? - Ông sĩ quan hỏi George.

- George Novak, - Anh ta trả lời gọn. Ông sĩ quan viết lên một tấm thẻ.

Địa chỉ? - Ông ta hỏi.

- 286, phố Broome, New York bang New York.

viên sĩ quan đưa tấm thẻ cho George.

Đây là giấy chứng nhận nhập cư của anh, 21871, Geotge Novak. Hoan nghênh anh đến Hoa Kỳ, George. Tôi cũng là người Ba Lan. Rồi anh ở đây sẽ thích.

Chúc mừng anh, và chúc anh may mắn.

George mỉm cười và bắt tay viên sĩ quan, rồi đứng sang một bên chờ Wladek. Viên sĩ quan nhìn Wladek.

Wladek đưa cho ông ta tấm thể có chữ "Chấp nhận".

- Tên họ? - Viên sĩ quan hỏi.

Wladek ngập ngừng.

- Tên anh ìà gì?- Ông ta nhắc lại to hơn, có vẻ hơi sốt ruột. Wladek không sao nói ra được. Anh ghét cái tên nông dân kia hết sức.

- Tôi hỏi lần nữa, tên anh là gì?

George nhìn Wladek. Những người khác xếp hàng phía sau cũng nhìn anh. Wladek vẫn. chưa nói. Viên sĩ quan bỗng nắm lấy cổ tay anh, nhìn kỹ vào dòng chữ trên chiếc vòng bạc, viết vào tấm thẻ rồi đưa lại cho Wladek.

- 21872, Nam tước Abel Rosnovsk Hoan nghênh đến Hoa Kỳ. Chúc mừng và chúc anh may mắn, Abel.
 
 
 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top