Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 274 khách và no member đang online

Google Search

    

truyen-dai

Hai Số Phận - Phần I - Chương 6-9A

Tiểu thuyết nước ngoài

Share

 

CHƯƠNG 6 - PHẦN MỘT - 1906-1923

William Kane lớn rất nhanh. Chú được mọi người chung quanh yêu quý, nhất là những năm đầu chung quanh chú thường chỉ có bà con trong nhà và những người hầu hạ được chọn lọc
Tầng trên gác của ngôi nhà thuộc họ Kane xây theo kiểu thế kỷ mười tám Ở Quảng trường Louisburg trên đồi Beacon đã bị biến thành trung tâm nuôi trẻ, chất đầy các thứ đồ chơi. Bên cạnh đó là một phòng ngủ và phòng khách dành cho cô bảo mẫu mới thuê được về Từ đây xuống đến nhà dưới còn một quãng xa nên Richard Kane không thể hay biết gì về những chuyện như trẻ con mọc răng, tã ướt, hoặc nó khóc bất thường đòi ăn Tiếng khóc đầu tiên, chiếc răng mọc đầu tiên, bước đi đầu tiên, tiếng nói đầu tiên của đứa bé đều được mẹ của Wiìliam ghi vào sổ gia đình cùng với những tiến bộ của nó về chiều cao và cân nặng. Anna ngạc nhiên thấy những con số thống kê này chẳng khác gì lắm với bất cứ đứa trẻ nào mà chỉ đã biết Ở trên đồi Beacon.
CÔ bảo mẫu là một người thuê Ở tận bên Anh mang về CÔ nuôi thằng bé theo một chế độ mà đến một sĩ quan ky binh của nước Phổ cũng phải lấy làm hài lòng. Chiều chiều cứ sáu giờ là bố của William lên thăm. Vì không biết nói chuyện với con như thế nào nên hai bố con chỉ biết nhìn nhau. William nắm chặt lấy ngón tay trỏ cúa bố, ngón tay mà người bố đã dùng để kiểm tra những bảng cân bằng thu chi Ở ngân hàng. Richard nhìn con mỉm cười. Sau năm đầu, thủ tục có hơi thay đổi đi một chút. Thằng bé được đưa xuống nhà dưới để thăm bố. Richard ngồi Ở chiếc ghế da có lưng tựa rất cao nhìn đứa con đầu lòng của mình bò dưới chân bàn ghế, lúc ẩn lúc hiện, khiến
Richard tưởng như con mình rồi sẽ trở thành một Thượng nghị sĩ cũng chưa biết chừng. Mười ba tháng là Wilham đã chập chững biết đi và bám vào đuôi áo eủa bố. Tiếng đầu tiên của nó nói ra là Dada, làm mọi người rất thíeh, kề cả bà nội Kane và bà ngoại Cabot, hai bà là những người đến thăm nó thường xuyên. Các bà không đi theo chiếc xe đẩy William đi quanh Boston, nhưng vào những chiều thứ năm thường bước theo sau cô bảo mẫu trong công viên và nhìn những người trông trẻ khác cũng ra đó. Những trẻ con khác cho vịt ăn Ở những vườn công cộng, nhưng William thì được chơi với thiên nga trong hồ của biệt thự rất sang trong nhà ông Jack Gardner.
Sau hai năm thì các bà nội bà ngoại đều có ý nói khéo rằng đã đến lúc thằng William phải có em đi là vừa. Anne đành nghe theo các cụ và để có mang lần nữa, nhưag được đến tháng thứ tư thì chị rất thất vọng thấy người mình cứ mỗi lúc một ốm yếu nhợt nhạt đi.
Lúc khám thai cho người mẹ, bác sĩ MacKenzie không còn cười vui vẻ được nữa, và đến tuần thứ mười sáu khi Anne bị sẩy thai thì ông ta tuy không ngạc nhiên nhưng cũng không để cho chị đau buồn vô cớ. ông ta nói:
- Anne, cái lý do khiến bà cảm thấy mình không khỏe đó là do huyết áp của bà quá cao, và nếu cứ như thế thì càng có mang nhiều tháng huyết áp càng cao lên nữa. Tôi e rằng các bác sĩ hiện nay chưa có cách gì ngăn được huyết áp cao. Mà chúng tôi thì chỉ có thể biết được là điều đó nguy hiểm cho mọi người, nhất là cho đàn bà có mang.
Anne cố cầm nước mắt và hiểu rằng như thế có nghĩa là trong tương lai mình sẽ không thể có con được nữa.
- Nhưng nếu tôi có mang lần sau thì chắc không thế nữa chứ~ - chị lựa lời hỏi để bác sĩ dễ trả lời
mình hơn.
- Tôi sẽ rất ngạc nhiên nêu như không còn như vậy. Tôi phải lấy làm tiếc mà nói điều này, nhưng tôi thành thật khuyên bà là không nên có mang nữa.
- Nhưng dù có ốm đau vài tháng cũng không sao, nếu như...
- Tôi không nói về chuyện ốm đau đâu, bà Anne. Mà tôi nói là bà không nên mạo hiềm với mạng sống của mình một cách không cần thiết như vậy.
 
Richard và Anne rất lấy làm lo ngại, vì bản thân hai người cũng là con một và hai người đều sớm mất cha. HỌ đã tưởng mình sẽ tạo ra một gia đình tương xứag với quy mô của nhà này và trách nhiệm đối với những thế hệ tiếp theo. Hai bà nội bà ngoại Cabot và Kane đều nói: phận sự của người đàn bà chỉ có thế thôi chứ còn gì khác nữa đâu? Lâu dần, không ai nhắc nhở đến vấn đề đó nữa, và William trở thành trung tâm chú ý của mọi người.
Richard, sau sáu năm có chân trong ban giám đốc đã lên thay thế người cha qua đời năm 1904 làm
chủ tịch Ngân hàng và Công ty Tín dụng Kane và Cabot. Từ đó anh chỉ biết lao vào công việc của ngân hàng. Ngân hàng này có trụ sở tại phố State, một tòa nhà đồ sộ được xây dựng đẹp và chắc chắn, và có chi nhánh Ở New York, l ondon và San Francisco. Cái chi nhánh thứ ba này thành một vấn đề đáng lo ngại cho Richard vào đúng ngày William ra đời, vì nó đã bị sập cùng một lúc với Ngân hàng quốc gia Crocker, Ngân hàng Wells Fargo và California trong vụ động đất lớn năm 1906, không phải sập về mặt tài chính mà sập đúng với nghĩa đen của nó. Richard vốn là một người biết lo toan từ trước nên tài sản của anh được hãng Lloyd s của London bảo hiểm. Đều là những người đứng đắn cả, nên sau vụ đó họ bồi thường cho đến từng xu một, do đó Richard có thể xây dựng lại ngân hàng. Richard phải mất cả một năm vất vả di lại bằng xe lửa giữa Boston với San Francisco, mỗi lượt đi mất bốn ngày trời, để theo dõi giám sát việc xây dựng lại.
Anh cho khánh thành nhà ngân hàng mới trên Quảng trường liên hiệp, tháng mười năm 1907, sau đó lại phải quay sang bờ biền phía đông ngay để giải quyết những vấn đề mới nẩy sinh. Lúc này ở các ngân hàng New York người ta đang rút bớt tiền gửi. Nhiều ngân hàng nhỏ không đối phó nổi với tình hình ấy và bắt đầu phá sản. J.P.Morgan, chủ tịch của một ngân hàng lớn mang tên ông ta và đã nổi tiếng từ lâu, đã mời Richard cùng cộng tác với ông ta để lập một ngân hàng hùn vốn nhằm đối phó với tình hình này.
Richard đồng ý. Thái độ dũng cảm của anh đã có hiệu quả và vấn đề khó khăn đã bị đẩy lùi dần. Tuy .thế, Richard cũng đã phải mất nhiều đêm không ngủ được.
William, trái lại ngủ rất kỹ, không cần biết gì đến những chuyện động đất và ngân hàng sập. Chú còn có việc phải cho những con thiên nga ăn và phải đi đi lại lại Milton, Brookline và Beverley để được gặp những bà con họ hàng quyền quý.
Đầu mùa xuân năm sau đó Richard nhận được một món quà do anh đã đầu tư vốn một cách thận trọng vào cho một người tên là Henry Ford và người này tuyên bố có thể sản xuất ra một loại xe hơi để phục vụ nhân dân. Ngân hàng mời ông Ford đến ăn trưa, và người ta đã vận động Richard mua một chiếc xe mẫu T với các giá cực sang là 850 đô-la. Henry Ford đảm bảo với Richard rằng nếu được ngân hàng ủng hộ ông ta sẽ có thề chỉ trong vài năm giảm giá xe xuống 350 đô-la một chiếc và như vậy thì mọi người đều có thể mua xe được, thế là những người ủng hộ ông ta sẽ thu
được lợi nhuận rất lớn. Richard ủng hộ. ĐÓ là lần đầu tiên anh đưa đồng tiền có hiệu quả vào tay một người có thề hạ giá thành sản phẩm xuống còn một nửa. Richard cũng còn băn khoăn rằng chiếc xe hơi của mình, mặc dầu sơn màu đen ảm đạm như thế, vân có thể chưa được coi là phương tiện chuyên chở xứng đáng với một ông thống đốc và chủ tịch ngân hàng. Tuy nhiên, anh cũng yên tâm thấy những người Ở hai bên đường liếc nhìn và trầm trồ khen ngợi. Với tốc độ mười dặm một giờ, nó còn làm ầm ĩ hơn cả một con ngựa, nhưng dù sao cũng có cái tốt là nó không để lại một đống phân trên đường phố Vemon. Điều duy nhất anh phải cãi cọ với ông Ford là ông ta không chịu nghe lời đề nghị về việc mẫu T của xe hơi không nên chỉ có màu đen mà nên sơn nhiều màu khác nữa. ông Ford nhất định là xe nào cũng chỉ sơn màu đen để
giảm giá bán. Anne nhậy cảm hơn chồng trong cái quan hệ xã hội mà chị nghĩ phải tỏ ra khiêm tốn lễ độ hơn, đã quyết định là chỉ ngồi xe khi nào bên nhà Cabot cũng có xe như mình.
Nhưng William thì rất thích cái "ô-tô" đó. Báo chí đã đặt cho nó cái tên như vậy rồi. Chú thích hơn vì cho rằng bố mua cái xe đó là mua cho chú, để thay vào chiếc xe đẩy không có máy móc gì. Chú cũng thích cả người lái xe hơn là cô bảo mẫu. Người lái xe có đôi mắt kính rất to với chiếc mũ dẹt xuống đầu. Bà nội Kane và bà ngoại Cabot tuyên bố sẽ chẳng bao giờ ngồi vào chiếc xe máy gớm khiếp đó, và đúng là các cụ không chịu ngồi thật.
Tuy vậy bà nội Kane vẫn đòi thông báo là bà có ngồi trong xe hơi đề đi dự tang lễ.
Trong hai năm sau đó, ngân hàng tiếp tục phát triển lớn mạnh. Wilìiam cũng lớn theo với nó. Những người Mỹ lại một lần nữa đầu tư vào những công trình mở rộng và những khoản tiền lớn theo nhau kéo về ngân hàng Kane và Cabot, rồi tiền đó lại tái đầu tư vào những công trình như nhà máy thuộc da Lowell Ở Massachusetts. Richard theo dõi sự lớn mạnh của cả ngân hàng và con trai mình với một tâm lý thỏa mãn tỉnh táo. Vào ngày sinh nhật lần thứ năm
của William, anh rút thằng bé ra khỏi bàn tay quản lý của đàn bà và giao nó cho một ông thày dạy tư và trả lương cho ông ta 450 đô-la một năm. ông thày tên là Munro, một người do Richard đích thân chọn lựa trong số tám người được cô thư ký riêng của anh giới thiệu lên. ông thày Murro được giao nhiệm vụ là phải đảm bảo cho William đến năm mười hai tuổi có thể sẵn sàng vào trường St Paul được. William lập tức yêu thích ngay ông thày Munro, một người chú tưởng là đã già và tài giỏi nhưng thực ra ông thày ấy chỉ mới có hai mươi ba tuổi, đã tốt nghiệp loại ưu về Anh ngữ Ở Đại học Edinburgh.
William học đọc và viết rất nhanh chóng dễ dàng, nhưng chú đặc biệt rất thích thú với những con số. Điều phàn nàn duy nhất của chú là trong tám bài học mỗi tuần chỉ có một bài là toán. Nhưng William cũng đã có thể cho bố chú thấy được là một phần tám thời gian ấy coi như một thứ đầu tư nhỏ cho ai đó một ngày kia sẽ trở thành thống đốc và chủ tịch của một ngân hàng. Để bù vào chỗ thiếu nhìn xa thấy rộng của ông thày, William đem những bài toán chú nhẩm trong đầu ra đánh đố những người khác trong nhà. Bà ngoại Cabot chả bao giờ biết chia số ìẻ ra ìàm bốn mỗi khi trả lời chú chỉ toàn sai, nên bà đành nhận là thằng cháu giỏi hơn bà. Nhưng bà nội Kene thì lại biết chút ít về phân số nên khôn khéo hơn, mặc dầu như vậy cũng không giải quyết được bài toán chia tám chiếc bánh cho chín đứa trẻ như thế nào.
Đến lúc bà chịu thua thì Wilham nói: Bà ơ , bà cử mua cho cháu một cái thước lô-ga-nt, là cháu sẽ không quấy rầy bà nữa. Bà ngạc nhiên không ngờ thằng cháu mình lại sớm tinh khôn đến thế, nhưng bà vẫn cứ mua thước cho nó mặc dù bà chưa biết là nó có dùng được cái đó hay không. ĐÓ cũng là lần đầu tiên trong đờí của bà nội Kane giải quyết vấn đề một cách chóng vánh như vậy. Còn những vấn đề của Richard thì lại bắt đầu chuyển sang phía Đông. Người chủ tịch cbi nhánh ngân hàng của anh Ở London đột nhiên chết tại chỗ
làm việc và Ở đó người ta cần anh có mặt để giải quyết Anh gợi ý với Anne là chị với thằng con William cùng đi với anh sang châu âu. Anh nghĩ có đề thằng bé nghỉ học ít ngày cũng không sao, hơn nữa nó lại còn có thể được thăm tất cả những chỗ mà thày Munro đã dạy nó và thường nhắc đến luôn. Anne chưa được sang châu âu bao giờ nên nghe nói thế rất phấn khởi Chị chất đầy những áo mới hch sự và đắt tiền vào ba chiếc hòm gởi xuống tàu để đem sang mặc Ở Thế giới cũ . William không bằng lòng với mẹ là đã không cho chú mang theo chiếc xe đạp là thứ rất cần thiết đề đi lại của chú. 
 
Gia đình nhà Kena đi xuống New York bằng xe lửa, và từ đó xuống tàu Aquitania để đi Southampton.
Anne lấy làm lạ thấy Ở New York sao có nhiều người mới di cư đến và đẩy xe bán hàng rong thế. Chị chỉ đám ngồi trên toa nhìn xuống thôi. William trái lại, rất ngạc nhiên với thành phố New York mà chú không ngờ to như vậy: Xưa nay chú chỉ cho ngân hàng của bố chú là tòa nhà lớn nhất Ở Mỹ mà có lẽ cũng là lớn nhất thế giới. Chú rất muốn mua chiếc kem có màu đỏ và vàng của một người đang đẩy chiếc xe nhỏ, nhưng bố chú coi như không nghe thấy gì. Vả lại, Richard không bao giờ có tiền lẻ trong túi. William vừa trông thấy chiếc tàu to đã lấy làm thích ngay, và
chú làm bạn ngay với ông thuyền trưởng được, ông ta Chỉ cho chú xem tất cả những cái lý thú nhất trên tàu thủy. Richard và Anne cố nhiên được ngồi cùng bàn với thuyền trưởng, phải xin lỗi là thằng bé đã làm mất thì giờ của ông nhiều quá.
- Không đâu, - ông thuyền trưởng có bộ râu đã bạc trả lời william với tôi đã là bạn thân với nhau rồi đấy Tôi chỉ tiếc là không trả lời được tất cả những câu hỏi của nó về thời gian, tốc độ và cự ly mà thôi. Chính tôi vẫn cứ phải mỗi tối nghe ông kỹ sư thứ nhất giảng giải cho để có thể dự đoán được tình hình ngày hôm sau thì mới sống nổi được.
Sau mười ngày vượt biển, tàu Aquitania đi vào con sông nhỏ để đậu Ở Southampton. William còn luyẽn tiếc không chịu rời tàu. Chú suýt khóc nhưag rồi lại vui ngay vì thấy đã có một xe Rolls-Royce sang trọng với lái xe chờ sẵn Ở dưới bến để đưa họ về London. Ngay lúc đó Richard đã có ngay một quyết định là khi xong việc trở về sẽ cho chở chiếc xe này sang New
York. ĐÓ là một quyết định biểu lộ tính khí của anh hơn bao giờ hết. Anh nói với Anne là muốn để cho Henry Ford được tận mắt trông thấy chiếc xe ấy.
Trong khi Ở London, gia đình Kane bao giờ cũng Ở khách sạn Ritz trong khu Piccadilly, tiện cho cơ quan của Richard trong thành phố. Những lúc Richard bận công việc Ở ngân hàng, Anne tranh thủ đưa Willian đi thăm Tháp London, Cung điện Buckingham và xem cảnh đổi gác. William thấy mọi thứ đều rất "hay" chỉ trừ có ngữ điệu tiếng Anh Ở đây chú thấy hơi khó hiểu.
- Tại sao họ không nói như chúng ta, hả mẹ? – chú hỏi thế, và chú lấy làm lạ thấy mẹ bảo chính ra là câu hỏi phải đặt ngược lại mới đúng, vì "họ" có trước.
Wilham rất thích xem những người lính gác mặc bộ quân phục màu đỏ tươi có những khuy đồng bóng loáng đứng gác Ở bên ngoài Điện Buckingham. Chú muốn nói chuyện với họ, nhưng chỉ thấy họ nhìn thẳng đi đâu mà không chớp mắt nữa kia.
- Chứng ta có thể mang một người về nhà được không mẹ? - chú hỏi.
Không, con ạ, họ còn phải đứng đây để gác cho Vua chứ.
Nhưng ông Vua có nhiều người gác quá, con không có được một người sao?
Richard bỏ ra một buổi chiều "đặc biệt để đưa Aune và Wilìiam sang vùng phía Tây London xem
kịch câm truyền thống của người Anh biểu diễn Ở Quần Ngựa. William xem vừa thích và sợ tưởng như đằng sau mỗi ngọn cây đều có ma quỷ nấp Ở đó. Xem xong, họ lại quay về Fortnum uống trà. Anne và William được nếm món bánh rán bọc kem rất ngon. William rất thích nên mấy ngày sau đó chú được dẫn đến phòng trà Ở Fortnum để tiếp tục ăn món bánh ấy.
William và mẹ chú thấy những ngày nghỉ trôi qua rất nhanh. Riêng Richard thì hài lòng với công việc Ở phố Lombard và lấy làm mừng đã cử được một chủ tịch mới của chi nhánh ngân hàng, do đó trong đầu đã nghĩ đến ngày về. Hàng ngày đều có điện Ở Boston gửi tới khiến anh sốt ruột muốn trở về làm việc Ở nhà ngay. Cuối cùng có một bức điện dài báo cho anh biết
2.500 công nhân Ở nhà máy sợi Lawrence, Massachusetts, nơi ngân hàng đã đầu tư khá nhiều vào đó hiện nay đang đình công. May mà chỉ còn ba ngày nữa anh đã lên đường về nước.
William thì mong về nhà để kể lại cho ông thày Munron nghe mình đã làm những gì Ở Anh, và cũng về với bà nội bà ngoại nữa. Chú đoán các bà mình chưa bao giờ được xem hát Ở ngoài trời với đông đảo công chúng như Ở đây. Anne phấn khởi với chuyến đi không kém gì William, nhưng bây giờ có phải về nhà cũng vẫn thích, vì chị cho là mình đã được dịp khoe với người Anh vốn không ưa lòe loẹt lắm nhữag bộ áo mới và cả sắc đẹp của mình nữa. Trước ngày xuống tàu về William còn được mẹ đưa đến dự bữa tiệc trà Ở Quảng trường Eaton do bà vợ ông chủ tịch mới của chi nhánh ngân hàng đứng ra chiêu đãi. Bà ta cũng có đứa con lên tám tuổi, tên là Stuart. William đã cùng với nó làm bạn được hai tuần rồi, và chơi với nhau khá thân. Bữa tiệc trà không được vui lắm vì Stuart bị ốm. Để chia sẻ nỗi buồn với bạn mình, Wiììiam cũng bảo với mẹ là có lẽ chú sắp ốm. Thế là hai mẹ con trở về khách sạn Ritz sớm hơn dự định. Nhưng Anne cũng không thất vọng lắm, vì về sớm càng có thời gian xem lại những đồ đạc đóng gói gửi xuống tàu. Chị biết William muốn chia sẻ ốm đau với bạn đó thôi. Nhưng đến tối lúc cho William lên giường ngủ, chị bỗng thấy thằng bé cũng có hơi sốt thật, và chị báo cho Richard biết.
CÓ lẽ đó là do phấn khởi sắp được về nhà thôi, - Richard nói, như có vẻ không quan tâm lắm.
- Em cũng mong thế, - Anne đáp, - Em không muốn nó ốm trong sáu ngày đi đường.
- Mai là nó khỏe thôi, - Richard nói và không để ý gì thêm nữa. Nhưng đến sáng hôm sau lúc Anne vào đánh thức con dậy thì thấy người nó có nhiều chấm đỏ và sốt cao hơn trước, có lẽ đến bốn mươi độ. Bác sĩ của khách sạn đến khám bảo là thằng bé bị sởi và dứt khoát không thể cho đi biển được, đó là vì nó và vì cả các hành khách khác nữa. Không có cách nào khác hơn là cứ phải để nó nằm đó cho đến khi khỏi hẳn mới về được. Richard thì không thể nào Ở lại chờ được hai tuần, nên anh quyết định cứ lên đường theo dự kiến. Anne phải miễn cường thay đổi lại. kế hoạch đi đứng William nằng nặc đòi bố cho đi theo, vì Ở đây chờ mười bốn ngày cho con tàu trở lại Southompton thì lâu quá. Nhưng Richard kiên quyết nhất định không chiều con, thuê một cô bảo mẫu đến phục vụ và thuyết phục Wilham là chú đang bị ốm rất nặng không đi đâu được.
Anne cùng đi với Richard xuống Southompton bằng chiếc xe Rolls-Royce mới.
Lúc chia tay, chị mạnh bạo nói một câu, chỉ sợ chồng cho mình là đàn bà hay xúc động quá đáng:
Richard, không có anh, em Ở lại London cô đơn quá
- Thì Ở Boston không có em, anh cũng cô đơn không kém, - anh nói vậy, nhưng đầu óc nghĩ đến những công nhân nhà máy sợi đang đình công.
Aune trở về London bằng xe ìửa, trong bụng nghĩ không biết hai tuần sắp tới Ở London chị sẽ làm gì.
Wilìiam được một đêm ngủ yên hơn và đến sáng hôm sau những vết sởi đã dịu dần. Bác sĩ và y tá vẫn cứ bắt chú phải nằm yên trên giường. Aune tranh thủ rỗi rãi viết những bức thư thật dài về cho gia đình. William phản đối không chịu nằm mãi Ở giường, và đến sáng hôm thử ba chú dậy sớm tìm sang phòng mẹ. Lúc này chú đã gần như trở lại bình thường. Chú trèo lên giường, và đôi tay lạnh của chú làm mẹ tỉnh dậy. Aune yên tâm thấy con đã khỏi bệnh. Chị bấm chuông gọi mang đồ ăn sáng lên cho cả hai mẹ con Ở trên giường, điều mà bố của William trước đây chả bao giờ cho phép làm như thế.
 
 CÓ tiếng gõ cửa nhẹ rồi một người mặc áo vừa đỏ vừa vàng bước vào với chiếc khay bạc to với đủ các món trên đó, trứng, thịt rán, cà chua, bánh mì nướng và mứt hoa quả, chẳng khác nào một bữa tiệc. William nhìn khay thức ăn mà bụng đói như cào. Chú không nhớ là mình đã ăn một bữa thật no vào hôm nào. Anne liếc nhìn vào tờ báo buổi sáng. Thời gian Ở London, Richard thường vẫn đọc Thời báo, vì vậy ban giám đốc khách sạn cho là chị vẫn có yêu cầu đọc tờ báo đó.
- Ô mẹ nhìn này, - William nói và chỉ vào tấm ảnh Ở trang bên trong, - đây là ảnh chiếc tàu của Bố. Tai nạn là cái gì, hả Mẹ?
ảnh con tàu Titanic chiếm hết cả bề ngang của trang báo.
Không cần nghĩ đến người của họ Cabot hay họ Kane phải xử sự như thế nào, Anne bỗng ôm chặt lấy con mà khóc nức nở. Hai mẹ con cứ ôm nhau ngồi trên giường như thế một lúc lâu. William không hiểu đầu đuôi thế nào. Anne biết là hai mẹ con đã mất đi người thân yêu nhất của mình trên đời này. ông Piers Campbell, bố của anh bạn Stuart, đến phòng thượng khách 107 của khách sạn Ritz. ông ta chờ Ở hành lang trong khi người đàn bà góa bận đồ đen vào người. Chị chỉ mang đi theo có một bộ đồ sẫm đó thôi. William cũng được mặc quần áo chỉnh tề. Cho đến lúc này chú vẫn chưa hiểu tai nạn là thế nào. Anne đề nghị ông Piers giải thích như thế nào đó cho đứa con của chị hiểu được. Nhưng William chỉ nói:
Cháu muốn cùng đi tàu với bố cháu, nhưng bố cháu không cho đi. Chú không khóc, vì chú không thể nào tin rằng bố chú lại có thể bị chết được. Thế nào trong số những người sống sót cũng có bố chú.
Suốt đời ông Piers làm một nhà chính trị, nhà ngoại giao, và bây giờ làm chủ tịch ngân hàng Kane và Cabot Ở London, ông chưa hề thấy một người nào còn nhỏ tuổi mà có nhiều nghị lực như vậy. ít người có cá tính như chú nhỏ này. Nhiều năm sau ông vẫn
còn thấy đúng như vậy. Cá tính ấy đã từng có Ở Richard Kane và truyền lại cho đứa con duy nhất của anh. Vào ngày thứ năm của tuần đó, William đã lên sáu tuổi. Nhưng chú không hề mở bất cứ gói quà nào đến tặng chú.
Anne xem đi xem lại rất kỹ những danh sách người còn sống sót được gửi dần từ Mỹ sang. Danh sách nào cũng đều xác nhận là Richard Lowell Kane còn đang mất tích trên biển, coi như đã bị chết đuối. Một tuần sau nữa, ngay cả đến William cũng không còn hy vọng
gì là bố chú còn sống. Anne đau đớn bước lên tàu Aquitania trở về Mỹ. William muốn được ra ngay biển khơi. Chú ngồi hàng giờ trên boong tàu nhìn xuống mặt nước phẳng lặng. Ngày mai con sẽ tìm thấy bố, - chú cứ nói mãi với mẹ như thế. Lúc đầu, bằng một giọng tin tưởng, nhưng dần dần tự chú cũng thấy khó mà tin được.
- William con ạ, chả ai có thề sau ba tuần Ở Bắc Đại Tây Dương này mà còn sống được đâu.
- Cả bố con cũng thế ư?
- Cả bố con cũng thế.
Khi Anne trở về đến Boston, cả bà nội bà ngoại đều đã chờ sẵn chị Ở nhà rồi. Trách nhiệm bây giờ giao lại cho hai bà. Anne để mặc eho hai cụ làm chủ mọi thứ.
 
Chị thấy cuộc đời đối với mình bây giờ chả có ý nghĩa gì mấy nữa. Điều quan trọng là William, mà số phận của chú bây giờ là các cụ nhất định phải nắm lấy. William thì tỏ ra rất lễ độ, nhưng không muốn gần hai bà. Ban ngày, chú yên lặng ngồi học với ông thày Munro, và đến đêm lại khóc trong lòng mẹ.
- NÓ cần phải có những đứa trẻ khác làm bạn mới được - các cụ tuyên bố như vậy, và liền sau đó cho cả ông thày Munro và cô bảo mẫu nghỉ việc, và cho William đến Viện Sayre theo học vì các cụ tin rằng cho nó sống với thế giới thực tế bên ngoài và có thêm nhiều bạn khác thì thằng bé sẽ trở lại bình thường.
Richard đã để lại phần lớn tài sản cho William, với sự ủy nhiệm của gia đình, cho đến khi nào chú hai mươi mốt tuổi. Trong chúc thư của bố chú có một bản phụ lục. Richard muốn rằng con trai mình sau này sẽ xứng đáng là Thống đốc và Chủ tịch của ngân hàng Kane và Cobot. Chỉ có mỗi điểm đó trong chúc thư là William thấy hứng thú, còn những cái khác tất nhiên đều là quyền của chú được hưởng cả. Aune được nhận một số tiền gốc là 500 nghìn đôla với thu nhập hàng năm là 100 nghìn đô-la cho đến chót đời trừ các khoản thuế, và số tiền đó chỉ chấm dứt ngay nếu chị tái giá. Chị cũng được hưởng cả ngôi nhà trên đồi Beacon, biệt thự mùa hè trên BỜ Bắc, ngôi nhà Ở Maine với cả một hòn đảo nhỏ ngoài khơi Mũi Cá Thu, và tất cả những tài sản ấy sau khi chị qua đời sẽ trao lại cho William. Hai cụ nội ngoại mỗi người được hưởng 250 nghìn đô-la cùng những thư dặn lại là nếu Richard chết trước các cụ thì trách nhiệm của các cụ là như thế nào. Toàn bộ tài sản của gia đình do ngân hàng quản lý và được ủy thác cho những cha mẹ đỡ đầu của William. Thu nhập do tất cả những thứ trên đây đem lại được tái đầu tư mỗi năm vào những xí nghiệp đã
săn có.
Cũng phải mất đến một năm trời các cụ mới cảm thấy hết tang tóc, còn Aune thì mặc dầu chị chỉ mới hai mươi tám tuổi nhưng đến bây giờ chị mới thấy mình lần đầu tiên trong đời sống lại được cái tuổi đó.
Các cụ không như Anne, không che giấu nỗi buồn của mình làm gì. William thấy thế không bằng lòng, lên tiếng trách các cụ.
- Bà không nhớ bố cháu hay sao? - chú ngước đôi mắt xanh lên hỏi bà nội Kena khiến bà nhớ đến đứa con trai của mình.
CÓ chứ cháu, nhưng bố cháu không muón cho chúng ta cứ ngồi đó để mà thương thân được. . .
- Nhưng cháu muốn tất cả chúng ta lúc nào cũng phải nhớ đến bố cháu cơ, luôn luôn nhớ đến, - Wilham xẵng giọng nói.
- William này, bây giờ bà sẽ nói với cháu như lần đầu tiên nói chuyện với một nguời lớn nhé. Tất cả chúng ta sẽ luôn luôn có hình ảnh thiêng liêng của bố cháu trong lòng, còn cháu thì cháu sẽ phải làm thế nào cho xứng với điều bố cháu mong muốn Ở cháu.
Bây giờ cháu là người đứng đầu trong gia đình và là người thừa kế một tài sản lớn. Vậy cháu phải chuẩn bị làm thế nào cho xứng đáng với sự thừa kế đó, cũng với tinh thần mà bố cháu đã làm để đến lượt cháu được thừa hưởng như vậy.
William không trả lời. Nhưng như vậy là chú đã hiểu được mình sống có mục đích như thế nào. Trước đây chú không biết. Bây giờ chú sẽ nghe theo lời khuyên của bà nội. Chú học cách sống với nỗi đau buồn của mình nhưng không một lời phàn nàn kêu ca.
Từ đó trở đi, chú chăm chỉ học tập, và chỉ khi nào thấy bà nội Kena có vẻ bằng lòng thì chú mới yên tâm. Chú giỏi tất cả các môn học, và riêng trong môn toán không những chú đứng đầu lớp mà còn vươn tới cả những lớp trên nữa. Bất cứ gì bố chú đã làm được, chú quyết tâm làm được hơn thế. Chú gần gũi với mẹ hơn bao giờ hết, và trở thành hoài nghi đối với tất cả những ai không phải trong gia đình. Cứ như vậy, chú trở thành một đứa trẻ cô đơn, đơn độc, và hóa ra một con người hợm mình.
Các cụ đã tính rằng khi nào William bảy tuổi thì sẽ đến lúc dạy cho nó hiểu biết về giá trị của đồng tiền. Các cụ cho chú bắt đầu được có tiền túi cứ mỗi tuần một đô-la, nhưng bắt chú phải làm bản khai về mỗi đồng xu tiêu vào việc gì. Với chủ trương đó, các cụ tặng chú một cuốn sổ bìa da màu xanh giá 95 xu và trừ ngay vào khoản một đô-la của tuần đầu. Từ tuần thứ hai trở đi, các cụ cứ mỗi sáng thứ bảy lại phát một đô-la cho chú. William đầu tư năm mươi xu vào quỹ tiêu hai mươi xu, đem mười xu cho bất cứ đối tượng từ thiện nào mà chú muốn, còn giữ lại hai mươi xu dự trữ. Cứ đến cuối mỗi quý, các cụ lại rà soát sổ sách và xem chú báo cáo về các khoản chi tiêu như thế nào. Sau ba tháng đầu, William đã hoàn toàn sẵn sàng tự xử lý lấy mọi thứ. Chú đã hiến 1,30 đô-la cho tổ chức Hướng đạo sinh Mỹ mới thành lập, đầu tư 5,55 đô-la và yêu cầu bà nội Kane gửi vào quỹ tiết kiệm theo tài khoản của cha đỡ đầu J.P. Morgan đã quá cố Chú chi 2,60 đô-la không phải thanh toán và để 2,60 đô-la vào quỹ dự trữ. SỔ thu chi của chú khiến cho các cụ rất hài lòng. RÕ ràng William là đứa con của Richard Kane, không còn nghi ngờ gì nữa.
Ở trường, William không có mấy bạn, phần vì chú ngại không muốn chơi với những ai không thuộc gia đình Cabot và Lowell, hoặc đám trẻ thuộc những gia đình giàu có hơn mình. Điều đó khiến chú trở thành một con người hay tư lự. Mẹ chú lo ngại, thâm tâm chỉ muốn chú sống một cuộc sống bình thường, không thích chú lao vào những chuyện sổ sách chi thu hoặc chương trình đầu tư gì hết. Anne muốn William có nhiều bạn trẻ hơn là mấy vị cố vấn già, muốn chú cứ chơi nghịch cho bẩn thỉu và xây xát còn hơn là lúc nào cũng sạch sẽ trắng bong, muốn chú sưu tập ếch nhái và rùa hơn là chú ý đến chứng khoán và báo cáo của công ty, tóm lại muốn chú như tất cả mọi đứa bé khác Tuy nhiên chị không bao giờ dám có can đảm nói với các cụ về những điều chị suy nghĩ, vả lại các cụ cũng chẳng quan tâm gì đến bất cứ đứa trẻ nào khác
Vào ngày sinh nhật thứ chín của chú, William đưa sổ cho các cụ kiểm soát lần thứ hai trong năm. Cuốn sổ bọc da màu xanh cho thấy trong hai năm qua chú đã tiết kiệm được hơn năm đô-la. Đặc biệt chú rất tự hào nêu ra cho các cụ thấy một khoản đã ghi từ lâu đánh dấu "B6", tức là khoản tiền chú đã rút Ở ngân hàng J.P. Morgan ra ngay sau khi chú được tin nhà tài chính lớn này qua đời, vì chú nhớ là ngay những chứng khoán của ngân hàng bố chú đã bị tụt xuống sau khi có tin bố chú mất. Wilham đã tái đầu tư số tiền đó ba tháng sau, và chú cũng như công chúng hiều rằng một công ty bao giờ cũng lớn hơn một cá nhân
Các cụ thấy thế rất cảm động, cho phép William bán chiếc xe đạp cũ của chú đi và sắm chiếc xe mới.
Mua xong, vốn liếng của chú vẫn còn trên 100 đô-la. Bà nội Kane đem số tiền đó của chú đầu tư vào công ty dầu hỏa Standard của bang New Jersey. William biết rằng dầu hỏa là thứ chỉ có mỗi ngày một đắt lên. Chú giữ cuốn sổ thu chi đó rất kỹ và ghi hên tục vào đó cho đến ngày chú hai mươi mốt tuổi. Giá như đến lúc đó các bà nội ngoại của chú còn sống, thì chắc các cụ sẽ làm tự hào về mục cuối cùng ghi vào cột bên phải của cuốn sổ, nhan đề "Tài sản".

CHƯƠNG 7 - PHẦN MỘT - 1906-1923

Wladek là người duy nhất trong những ai còn sống sót được biết kỹ các gian hầm của lâu đài. Hồi còn chơi ú tim với Leon, chú đã từng sống rất nhiều giờ thoải mái tự do trong những gian hầm bằng đá ấy, lúc nào thích thì lên lâu đài, không thì thôi.
Dưới đó có tất cả bốn gian hầm, chia làm hai tầng. Hai ngăn, một lớn một nhỏ, Ở ngang tầm với mặt đất. Ngăn nhỏ liền với tường của lâu đài và có chút ánh sáng rọi xuống qua tấm lưới sắt đặt lẩn vào trong đá Ở phía trên. Đi xuống năm bậc còn có hai căn phòng bằng đá Ở phía trên. Đi xuống năm bậc còn có hai căn phòng bằng đá nữa nhưng quanh năm tối om và không có mấy không khí. Wladek đưa Nam tước vào căn phòng con Ở tầng hầm phía trên. ông cứ ngồi yên trong góc, không động đậy, chỉ nhìn vào khoảng không mà không nói một lời. Chú cử chị Florentyna làm người hầu riêng của Nam tước.
Vì Wladek là người duy nhất dám Ở lại trong cùng ngăn hầm ấy với Nam tước, những người hầu khác không ai hỏi chú là có quyền gì. Thế là mới chín tuổi, chú đứng ra đảm đương trách nhiệm đối với các bạn tù nhân khác Ở đây. Mọi người, vốn hàng ngày rất bình thản nhưng quá khiếp sợ với cảnh tự nhiên bị giam giữ Ở nhà hầm này chẳng lấy gì làm lạ về việc một chú bé chín tuổi nắm vận mệnh của họ. Trong nhà hầm, chú trở thành người chủ của các tù nhân.
Chú chia số người hầu ra làm ba nhóm, mỗi nhóm tám người, cộng tất cả hai mươi bốn, cố xếp cho các gia đình được cùng Ở với nhau một chỗ. Ba nhóm người này luân phiên nhau đổi chỗ, tám giờ đầu trong ngày được lên tầng hầm trên để có ánh sáng, không khí, ăn uống và vận động thân thể. Tốp thứ hai và là phổ biến nhất trong tám giờ đó là làm việc phục vụ bọn chiếm đóng lâu đài, còn tám giờ cuối trong ngày là xuống ngủ Ở tầng hầm dưới. Không ai, trừ Nam tước và Florentyna, có thể biết được Wladek ngủ vào lúc nào, vì cuối mỗi ca chú đều có mặt tại chỗ để giám
sát việc họ luân chuyển. Cứ mười hai tiếng đồng hồ lại chia thức ăn một lần. Bọn lính gác sẽ giao cho chú một bọc sữa dê, bánh mì đen, kê hoặc thỉnh thoảng là một ít lạc. Wladek chia số đó ra làm hai mươi tám phần, bao giờ cũng nhường cho Nam tước hai suất nhưng không đề cho ông ta biết.
Mỗi khi thu xếp xong một ca làm việc rồi, chú trở về chỗ Nam tước Ở căn hầm nhỏ. Lúc đầu, chú chờ đợi Ở Nam tước đôi điều hướng dẫn nào đó, nhưng lâu dần chú thấy cái nhìn của ông cũng dữ dội và lạnh nhạt chả kém gì cái nhìn của bọn lính gác người Đức.
Từ khi bị bắt giam Ở chính lâu đài của mình đến giờ, Nam tước không hề thốt ra một lời nào. Râu của ông đã mọc dài đến ngực. Cáì dáng khỏe mạnh của ông đã bắt đầu hom hem. Cái vẻ tự hào trước kia của ông đã chuyển sang nhịn nhục. Wladek hầu như không còn nhớ lại được cái giọng nói dễ thương của ông trước đây nữa. Chú nghĩ có lẽ không bao giờ còn nghe lại được tiếng nói ấy. Dần dà, chú cũng im lặng, không nói gì, chỉ làm theo những gì Nam tước muốn nhưng không nói thành lời mà thôi.
Trước đây sống trong cảnh an toàn của lâu đài, Wladek không bao giờ nghĩ đến chuyện đã xảy ra ngày hôm trước, vì hàng ngày hàng giờ chú có những việc bận mới. Nhưng bây giờ thì chú cũng không thể nhớ được chuyện gì vừa xảy ra lúc nãy, vì cuộc sống không hề có tí gì thay đổi. Những phút hy vọng biến thành giờ, giờ biến thành ngày, ngày biến thành tháng, và cứ thế trôi đi không để lại dấu vết gì. Chỉ
có thức ăn đưa đến, chỉ có ánh sáng và bóng tối, cho biết là mười hai tiếng đồng hồ đã trôi qua Chỉ có ánh sáng nhiều hay ít, tuỳ Ở trời quang hay có giông bão, rồi đến băng tuyết đóng trên tường hầm, và khi có ánh sáng rọi vào nó lại chảy ra, là báo cho biết từ mùa này chuyển sang mùa khác, mà Wladek thì không thể nào rút được bài học gì của thiên nhiên cả.
Qua những đêm dài, Wladek cảm thấy cái mùi ghê tởm của thần chết đã thấp thoáng ngay Ở nhữag góc xa xa của tường hầm, chỉ đến lúc có chút nắng của buổi sáng chiếu vào, hoặc một làn gió lạnh, hoặc có trận mưa kéo đến thì mới xua tan được nó đi phần nào mà thôi.
Cuối một ngày giông bão liên miên, Wladek và Florentyna lợi dụng trời mưa ra tắm rửa Ở vũng nước hình thành trên nền đá của tầng hầm trên. Cả hai người đều không để ý đến cặp mắt của Nam tước đang trợn trừng lên nhìn Wladek khi chú cởi chiếc sơ mi rách ra cuộn bỏ xuống chỗ nước còn tương đối sạch, và lấy tay kỳ cọ người chú đến trắng bệch. Bỗng nhiên, Nam tước lên tiếng. - Wladek, - tiếng nói nghe không rõ lắm, - ta không nhìn rõ được cháu lắm. Cháu lại đây coi.
Wladek hoảng hồn khi nghe thấy tiếng nói của ông chủ mình, vì đã lâu lắm chú chỉ thấy ông im lặng. Thậm chí chú không nhìn về phía có tiếng nói nữa. Chú chợt nghĩ ngay đó là cái điềm báo trước một tình trạng điên dại đã từng xảy đến với hai người hầu già trước đây
-Lại đây, cháu.
Wladek sợ hãi bước đến trướe mẳt Nam tước. ông nheo đôi mắt và giơ tay ra sờ vào người chú. ông lần ngón tay trên ngực Wladek rồi nhìn chú rất kỹ.
Wladek, cháu có thể giải thích cho ta biết tại sao lại có chút khiếm khuyết trên cơ thể cháu thế này không?
- Không, thưa ông, - Wladek lúng túng nói. - Từ khi cháu sinh ra đã thế rồi. Mẹ nuôi cháu thường nói đó là dấu Đức Chúa Cha đã để lại trên người cháu.
- Những người đàn bàn ngốc thế. Đây là cái dấu của chính cha đẻ của cháu.
- Nam tước nhẹ nhàng nói, rồi im lặng mấy phút. Wladek vẫn cứ đứng trước mặt ông, không động đậy.
Nam tước lại lên tiếng, lần này giọng dứt khoát hơn.- Ngồi xuống, cháu.
Wladek tuân theo lời ông ngay. Lúc ngồi xuống, một lần nữa chú lại đề ý cái vòng bạc đeo lủng lẳng Ở cổ tay Nam tước. Chút ánh sáng từ khe tường rọi vào khiến cho huy hiệu Rosnovski của ông lóe lên trong bóng tối của căn hầm.
- Ta không biết bọn Đức có ý muốn giam giữ chúng ta Ở đây bao nhiêu lâu nữa. Lúc đầu ta nghĩ cuộc chiến tranh này chỉ mấy tuần lễ. Nhưng ta nhầm. Bây giờ chúng ta phải xét đến khả năng nó sẽ còn tiếp tục một thời gian rất lâu nữa. Vì nghĩ như vậy, cho nên chúng ta phải biết sử dụng thời gian một cách có tính chất xây dựng hơn, mà ta thì biết mình cũng sắp chết rồi.
- Không, không, - Wladek lên tiếng ngăn lại, nhưng Nam tước vẫn nói tiếp, coi như không nghe thấy chú.
- Còn đời cháu thì bây giờ mới bắt đầu. Do đó, ta sẽ tiếp tục làm cái việc dạy dỗ cho cháu.
Ngày hôm đó, Nam tước không nói thêm gì nữa. Hình như ông đang suy ngẫm về ý nghĩa lời tuyên bố eủa mình. Thế là Wladek đã có được một ông thầy học mới. Do hai người không có sách vở và phương tiện viết lách gì, nên Nam tước nói câu nào là bắt chú phải nhắc lại câu đó. ông dạy chú những đoạn thơ dài của Adam Mickiewicz và Jan Kochanowski cùng những phần trích từ Aeneid. Trong cái lớp học đơn giản ấy Wladek đã được biết thế nào là địa lý, toán, và chú nắm thêm được bốn ngoại ngữ nữa là Nga, Đức, Pháp và Anh. Nhưng thú vị nhất đối với chú là những lúc chú được học về sử. Đó là. sử của đất nước hàng trăm năm bị chia cắt, của những hy vọng bất thành về một nước Ba lan thống nhất, của nỗi lo âu của những người dân Ba lan khi Napoleon thất bại thảm hại trước quân Nga năm 1812. Chú được học về những chuyện dũng cảm của những thời quang vinh đã qua do Vua Jan Casimir đánh lui người Thụy Điển Ở Czestochowa và hiến dâng đất nước này cho Đức mẹ đồng trinh, về chuyện Hoàng tử Radziwill, một người rất nhiều quyền thế, một đại địa chủ và một nhà săn bắn nổi tiếng, đã lên ngôi và thiết triều của mình Ở lâu đài lớn gần Warsaw như thế nào. Bài học cuối mỗi ngày của Wladek là về lịch sử gia đình của dòng họ Rosnovski. Chú được nghe nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiều lần về tổ tiên vẻ vang của Nam tước đã phục vụ trong quân ngũ năm 1794 dưới quyền Tướng
Dabrowski, rồi năm 1809 dưới quyền chỉ huy của chính Napoleon, và sau đó được Hoàng đế thưởng công, cấp đất và ban danh tước. Chú cũng được biết là ông nội của Nam tước đã từng có chân trong Hội Đồng Warsaw, rồi sau đó bố đẻ của Nam tước cũng có một vai trò trong việc xây dựng đất nước Ba-lan mới.
Wladek cảm thấy rất hạnh phúc việc Nam tước đã biến căn hầm nhỏ này thành một lớp học.
Lính gác đứng ngoài cửa hầm cử bốn giờ lại một lần đổi phiên. Chúng bị cấm không được nói chuyện với tù nhân. Thoáng nghe nhữag mẩu chuyện giữa chúng với nhau, Wladek có thể biết được về diễn tiến của chiến tranh, về những việc chúng tiến hành Ở Hindenburg và Ludendorff, về cách mạng nồi lên Ở nước Nga và nước này đã rút khỏi chiến tranh bằng Hòa ước Brest-Litovsk.
Wladek bắt đầu nghĩ rằng con đường thoát duy nhất của tất cả những người Ở dưới hầm này là chỉ có chết. Trong hai năm sau đó, cánh cửa dẫn xuống địa ngục đã mở ra chín lần, và Wladek cũng tự hỏi nếu như mình không được tự do thì tất cả những kiến thức chú được trang bị này sẽ coi như vô ích.
Nam tước tiếp tục dạy cho chú mặc dầu tai và mắt ông đã dần dần kém đi. Mỗi ngày Wladek lại phải ngồi xích lại gần ông thêm một ít. Florentyna, người vừa là chị vừa là mẹ lại vừa là bạn gần gũi nhất của chú, đã phải rất vất vả đối phó với tình trạng Ô uế trong căn hầm. Thỉnh thoảng bọn lính gác đem đến cho một chậu cát hoặc một ít rơm rạ để trải lên nền nhà. Như vậy cũng đỡ được hôi thối trong vài ngày. Chuột bọ chạy ra chạy vào chỗ tối nhặt nhạnh những mẩu bánh hay mầu khoai rơi vãi, nhưng chúng cũng đem theo đủ các thứ bẩn thỉu với bệnh tật. Mùi nước tiểu với phân của cả người lẫn súc vật hòa vào nhau xông lên . sặc sụa đến không thở được Wladek lúc nào cũng thấy mình như người ốm, chỉ muốn nôn mửa. Chú rất thèm khát làm sao được sạch sẽ trở lại. Chú ngồi hàng giờ nhìn lên trần hầm nhớ lại những bồn nước tắm bốc hơi và có cả xà phòng của cô bảo mẫu mang đến cho Leon với chú sau một
ngày họ chơi đùa thỏa thích. Chỗ đó cũng Ở trong lâu đài này, cách chỗ chú đang ngồi không xa lắm, nhưng chuyện ấy đã từ bao giở bao giờ rồi.
Đến mùa xuân 1918, chỉ còn mười lăm trong số hai mươi sáu người bị giam cùng với Wladek là còn sống. Nam tước vẫn được mọi người đối xử như với một ông chủ, còn Wladek thì được coi như người quản lý của ông Wladek cảm thấy rất buồn cho Florentyna mà chú rất yêu quý. Florentyna đến giờ đã hai mươi tuổi rồi. CÔ đã hoàn toàn thất vọng về cuộc đời mình và cô tin rằng những ngày còn lại của đời mình sẽ chỉ là sống trong những căn hầm này thôi. Trước mặt cô, Wladek không bao giờ tỏ ra đã mất hết hy vọng, nhưng dù bây giờ chỉ mới mười hai tuổi chú cũng đã bắt đầu tự hỏi không biết mình còn có dám tin Ở tương lai nữa không.
Một buổi chiều, vào đầu mùa thu, Florentyna đến bên Wladek lúc đó đang Ở căn hầm lớn phía trên.
- Nam tước gọi chú đấy
wladek đứng ngay dậy, đưa suất ăn của mình cho người hầu lớn tuổi rồi xuống gặp Nam tước. ông đang đau nặng. Wladek nhìn thấy ông đã hốc hác đi ghê gớm, hầu như chỉ còn xương với da. Nam tước đòi uống nước. Florentyna đem đến cho ông lưng bơ nước vẫn treo bên ngoài tường đá. Uống xong rồi, ông từ từ nói với một giọng hổn hền.
Wladek, cháu đã trông thấy nhiều cái chết rồi, nên trông thấy một người chết nữa cũng vậy thôi. Ta thú thật là bây giờ có chết ta cũng không sợ nữa.
- Không, không, không thể thế được, - Wladek kêu lên, ôm lấy ông già. - Chúng ta sắp gần đến ngày thắng rồi. Nam tước đừng bỏ đi. Bọn lính cho cháu biết là chiến tranh sắp kết thúc và chúng ta sắp được thả ra rồi.
- Chúng hứa như vậy từ nhiều tháng nay rồi, Wladek. Ta không thể tin chúng được nữa. Dù sao ta cũng không muốn sống trong cái thế giới mà chúng tạo ra đâu. - ông ngừng lại nghe chú khóc. Nam tước nghĩ giá nước mắt ấy mà uống được cũng đỡ, nhưng ông nhớ ra nước mắt là rất mặn nên cười khẩy với mình. - Cháu đi gọi ông quản gia và người hầu bàn của ta đến đây, Wladek.
Wladek làm theo nhưng trong bụng không hiểu sao lại đi gọi những người đó.
Hai người hầu đang ngủ say được đánh thức dậy đến đứng trước mặt Nam tước. Sau ba năm bị bắt giam, đối với họ chỉ có việc ngủ là dễ làm nhất. HỌ vẫn còn mặc bộ đồng phục thêu hoa, nhưng những màu xanh và vàng của nhà Rosnovski mà họ . tự hào mặc trên người mình bây giờ không còn ra màu gì nữa. HỌ đứng yên lặng nghe ông chủ nói.
HỌ đã đến đây chưa, Wladek? - Nam tước hỏi.
- Dạ, đã. ông không nhìn thấy nữa sao? - Wladek bây giờ mới hiểu ra là Nam tước đã mù hẳn rồi.
- Bảo họ đến gần đây để ta sờ vào người họ. Wladek đưa hai người đến gần Năm tước sờ vào mặt.
- Hãy ngồi xuống đây, - Nam tước nói. - Các anh có nghe được ta nói không, Ludwik, Alfors?
Dạ có.
Tên ta là Nam tước Rosnovski. - Thưa ngài, chúng tôi biết, - người quản gia đáp.
- Đừng ngắt lời ta, - Nam tước nói. - Ta sắp chết rồi.
Chết đã thành chuyện bình thường nên hai người không có phản ứng gì.
Ta không thề làm được bản di chúc mới Ở đây vì không có giấy bút hay mực gì hết. Vì vậy ta làm bản di chúc đó trước mặt các người Ở đây, hai anh hãy làm chứng cho ta, theo luật cổ của nước Ba-lan đã thừa nhận như vậy. Hai anh hiểu ta nói gì không?
Dạ, híểu, - hai người cùng đáp.
- Đứa con đầu lòng của ta là Leon đã chết rồi, - Nam tước ngừng lại một lát. - Vì vậy, ta để lại toàn bộ đất đai tài sản của ta cho đứa nhỏ có tên là Wladek Koskiewicz.
Wladek đã nhiều năm không nghe nói đến tên họ của mình nên chú chưa hiều ngay được ý nghĩa những lời Nam tước vừa nói.
- Và để chứng minh cho quyết định của ta, - Nam tước nói tiếp - ta giao cho nó cái vòng tay của gia đình.
ông già từ từ giơ cánh tay phải lên, rút chiếc vòng ra khỏi cổ tay và đưa nó ra phía trước cho Wladek.
Chú im lặng. không biết nói gì. Nam tước chỉ nắm chặt lấy chú, đưa ngón tay sờ lên ngực chú để biết chắc đó là Wladek.
- Con ta, - ông thốt lên và lồng chiếc vòng bạc vào cổ tay chú bé .
Wladek khóc và suốt đêm nằm trong cánh tay Nam tước cho đến lúc chú không còn nghe tiếng tim ông đập nữa và cảm thấy những ngón tay ôm vào người chú đã cứng ra. Đến sáng, xác Nam tước được bọn lính gác đem ra bên ngoài, và chúng cho phép Wladek được đem ông chôn lên cạnh mộ con trai ông, Leon, Ở trong sân nhà thờ, gần tháp chuông. Wladek lấy tay không bới đất. MỘ nông choèn. Lúc đặt xác Nam tước xuống, chiếc áo sơ mi rách của ông bật tung ra. Wladek nhìn vào ngực Nam tước. ông chỉ có một bên vú
Thế là Wladek Koskiewicz, mười hai tuổi, thửa kế 30 000 mẫu đất, một lâu đài, hai trang viên, hai mươi bảy ngôi nhà nông thôn, một bộ sưu tập tranh quý giá nhiều bàn ghế đồ đạc châu báu khác, trong khi đó chú sống Ở căn hầm bằng đá dưới đất. Từ hôm đó trở đi, tất cả những người bị bắt giam còn lại đều coi như ông chủ có đầy đủ quyền hành đối với họ. Giang sơn của chú bây giờ là bốn căn hầm. Hầu hạ thì có mười ba kẻ ốm yếu với một người duy nhất còn lại cho chú yêu quý là Florentyna.
Chú trở về với nếp sống tưởng như vô tận Ở dưới hầm cho đến cuối mùa đông năm 1918. Vào một ngày ấm áp, khô ráo, bỗng có một loạt tiếng súng nổ vang gần đó và nghe như có vật lộn gì Ở phía trên. Wladek tin chắc là quân đội Ba lan đã về cứu sống và bây giờ chú sẽ có thể đàng hoàng đòi họ nhận quyền thừa kế của mình. Bọn lính gác người Đức không còn đứng ngoài cửa hầm nữa. Các tù nhân lặng lẽ ngồi xích lại gần nhau Ở tầng hầm phía dưới. Wladek đứng một mình Ở cửa ra vào, xoay chiếc vòng bạc Ở cổ tay với một vẻ đắc thắng, và chờ người đến giải phóng.
Những người thắng tràn quả đã đến. Nhưng họ nói bằng thứ tiếng Xla-vơ khàn khàn, thứ tiếng mà hồi đi học chú đã được biết và nghe còn sợ hơn cả tiếng Đức nữa. Wladek và tất cả bị lôi ra bên ngoài ngồi chờ. HỌ bị khám xét lục soát một lần nữa rồi lại bị tống trở lại các căn hầm. Bọn mới chiếm đóng Ở đây không hề biết rằng chú bé mười hai tuổi này chính là người chủ của tất cả những gì đang diễn ra trước mắt họ. HỌ không nói tiếng Ba lan. Nhưng những gì họ nói chú đều hiều hết: ai chống lại hòa ước Brest-Litovsk là giết luôn, phần đất Ba lan này là thuộc về họ, còn những ai không chống lại cũng cho tất cả về Trại 201 để sống nốt những ngày cuối cùng. Bọn Đức chỉ chống lại qua loa rồi bỏ chạy, rút về sau đường ranh giới mới. Wladek và mọi người lại chờ xem sẽ còn những gì xảy ra, không biết số phận của mình thế nào.

 

 

CHƯƠNG 8 - PHẦN MỘT - 1906-1923

Tháng Chín, William trở lại Viện Sayre để tiếp tục học với tâm lý ổn định và sẵn sàng hòa với mọi người hơn. Chú lập tức tìm cách ganh đua với những người lớn tuổi hơn mình. Với bất cứ môn học gì, nếu chú thấy mình không giỏi hơn người thì không yên tâm. Những người cùng lớp với chú xem ra không ai địch nổi được chú. Dần dần Wilham hiểu ra là phần lớn những ai xuất thân từ hoàn cảnh quyền quý như chú thì đều không có gì để kích thích đua tranh được, mà muốn có được địch thủ thì phải tìm được những ai so với chú nhỏ hơn và có ít điều kiện học hành hơn kia.
Năm 1915, trong trường có một phong trào sưu tập nhãn diêrn. William đứng ngoài quan sát phong trào này một cách rất thích thú nhưng không tham gia.
Chỉ trong mấy ngày, những nhãn diêm bình thường đã trao tay với giá mười xu một nhãn, thứ nào hiếmcó giá tới năm mươi xu. William nghiên cứu tình hình đó rồi quyết định sẽ không làm chuyện sưu tập mà làm viêc kinh doanh.
Vào ngày thứ bẩy sau đó, chú đến nhà hàng Leavitt và Peirce, một trong những nhà buôn thuốc lớn nhất Boston, và ngồi cả một buối chiều ghi lại tên và địa chỉ của những nhà sản xuât diêm chủ yếu trên thế giới, đặc biệt ghi tên những nước nào không tham gia chiến tranh. Chú bỏ ra năm đô la mua giâý, phong bì và tem, viết thư cho tất cả những chủ tịch hay giám đốc công ty mà chú đã có trong danh sách. Thư
chú viết rất đơn giản, nhưng cùng đã phải viết đi viết lại đến bẩy lần.
Thưa ông Chủ tịch,
Tôi là một nguời rât thích sưu tập các thứ nhãn diêm, nhưng tôi không có tiền để
mua tất cả mọi thứ diêm đượC. Tiền túi của tôi mỗi tuần có một đô-la thôi, nhưng tôi
xin gửi kèm theo đây chiếc tem ba-xu để chứng thực rằng việc sưu tập nhãn diêm
của tôi là nghiêm túc. Tôi xin lỗi đã làm ông phải phiền lòng, nhưng tôi chỉ có thể
tìm được tên ông để viết thư này.
Kính thư,
William Kane (9 tuổi)
T.B. Nhãn diêm của ông là một trong
những thứ tôi thích nhất.
Trong vòng hai tuần, William có được 55 phần trăm thư trả lời và có được 78 loại nhãn diêm khác nhau. Hầu hết những người trả lời thư cho chú đều gửi lại chiếc tem ba xu, mà William cũng dự kiến trước là họ sẽ làm như vậy.
Trong bẩy ngày sau đó, William dựng lên một thị trường về nhãn diêm Ở ngay trong trường. Chú luôn luôn nghĩ xem cái gì có thể bán được thì mới mua. chú để ý thấy có một số bạn học không quan tâm mấy đến loại nhãn diêm hiếm, mà chỉ xem nó đẹp hay
không thôi. Thế là với những người này, chú đem những nhãn đẹp đổi lấy nhãn hiếm để bán lại cho những ai sưu tập công phu hơn. Sau hai tuần mua bán, chú cảm thấy thị trường đã đạt đến một đỉnh cao vì chú tính nếu mình không cẩn thận thì sắp đến
những ngày nghỉ lễ là sẽ không mấy ai quan tâm đến chuyện này nữa. Chú bèn nghĩ ra một cách quảng cáo, thuê in một loạt giấy thông báo, mỗi tờ mất nửa xu, và chú để tờ giấy đó vào từng chỗ ngồi của các lớp, báo cho biết chú sẽ tổ chức bán đấu giá tất cả 211 nhãn diêm chú đã sưu tập được. Cuộc bán đấu giá tiến hành trong phòng tắm rửa của trường vào giờ ăn trưa. SỐ người tham gia còn đông hơn cả những trận đấu khúc côn cầu trong trường.
Kết quả là William đã thu được 57,32 đô-la, so với số tiền đầu tư ban đầu của chú đã lãi được 51,32 đô-la. William gửi 25 đô-la vào ngân hàng với lãi suất 2,5 phần trăm, mua chiếc máy ảnh 10 đô-la, đem 5 đô-la biếu cho Hội Thiên Chúa những người trẻ tuổi lúc này đang mở rộng hoạt động cứu trợ cho những người mới nhập cư, mua một ít hoa tặng mẹ, còn mấy đô la cất vào túi. Thị trường nhãn diêm bị xẹp xuống trước khi kết thúc khóa học. ĐÓ là một trong những cơ hội đầu tiên William học làm chủ được tình hình thị trường. Bà nội bà ngoại của chú nghe kể lại chuyện này rất lấy làm tự hào về chú. Các cụ thấy rất giống như trường hợp các cụ ông ngày xưa đã làm
giàu trong thời kỳ hỗn độn của năm 1873.
Đến kỳ nghỉ hè, William nghĩ có lẽ có một cách khác đem lại lãi suất nhiều hơn cho số vốn chú gửi ngân hàng tiết kiệm. Trong ba tháng sau đó, chú nghe bà nội Kane đem tiền bỏ vào những chứng khoán do tờ Nhật báo phố Wall quảng cáo. Chú đã bị mất quá nửa số tiền thu được do kinh doanh nhãn diêm, vì vậy bây giờ chú chỉ tin vào những lời khuyên về chuyên môn của tờ báo trên đây, hoặc cùng lắm là dựa vào những thông tin chú thu nhặt được Ở ngoài đường phố.
Tức mình vì bị mất đi 20 đô-la, William quyết định trong những ngày nghỉ lễ Phục sinh thế nào cũng phải tìm cách thu hồi lại. Chú tính xem trừ những buổi chiêu đãi và các việc khác mà mẹ chú cần chú tham gia, còn lại chú chỉ có mười bốn ngày được hoàn
toàn tự do. Chừng đó thôi là đủ cho chú có thể tính chuyện làm ăn được. Chú đem bán hết những cổ phần còn lại trong tờ Nhật báo phố Wall, được 12 đô-la. Với số tiền này, chú mua một mảnh gỗ, hai bộ bánh xe, trục, và một sợi dây thừng, tất cả hết 5 đô-la sau khi đã mặc cả nhiều lần. Rồi chú đội một chiếc mũ vải và mặc bộ quần áo cũ đã chật và ra ga xe lửa địa phương kiếm ăn. Chú đứng Ở ngoài cửa ra vào, trông có vẻ đói và mệt, chờ một số hành khách bước ra ngoài và nói với họ rằng những khách sạn chính Ở Boston đều gần ga xe lửa, không cần phải thuê tắc xi hoặc xe cộ gì khác, mà chú sẵn sàng chở hành lý cho họ với 20 phần trăm giá tắc xi thôi. Chú còn thuyết phục họ là đi bộ cho khỏe người. Cứ như thế làm mỗi ngày sáu
tlếng chú đã có thể kiếm được suýt soát 4 đô-la. Năm ngày trước khi kỳ học mới bắt đầu, chú đã có thể phục hồi được những khoản bị mất và còn kiếm thêm được 10 đô-la lợi nhuận. Nhưng đến đây chú gặp phải một vấn đề. Những tay lái xe tắc xi đã bắt đầu khó chịu với chú. William bèn nói với họ là chú chỉ mới có chín tuổi, nhưng chú sẵn sàng rút lui khỏi chỗ này nếu mỗi người giúp cho chú 50 xu để chú bù vào cái tiền chú đã phải mua vật liệu để làm lấy chiếc xe chở đồ. HỌ đồng ý ngay. Thế là chú lại kiếm được thêm 8,50 đô-la nữa. Trên đường trở về nhà trên đồi Beacon, William bán lại chiếc xe đó với giá 2 đô-la cho một bạn học lớn hơn chú hai tuổi, anh bạn kia tưởng có thể kiếm ăn bằng chiếc xe đó được, nhưng những tay lái xe tắc xi không cho, vả lại trời mưa suốt những ngày còn lại trong tuần.
Ngày trở về trường học, William lại gửi tiền vào ngân hàng với lãi suất 2,5 phần trăm. Trong suốt năm học sau đó, chú không có điều gì đáng lo ngại vì tiền tiết kiệm của chú vẫn tiếp tục tăng lên. Việc con tàu Lusitania bị đắm vào tháng năm 1915 và lời tuyên chiến của Tổng thống Wilson đối với Đức năm 1917 không làm cho William bận tâm. Chú cam đoan với mẹ chú là chẳng có gì và chẳng có ai đánh nổi nước Mỹ đâu. William còn bỏ ra 10 đô-la mua công trái Tự do để chứng minh nhận định của chú là đúng.
Đến ngày sinh nhật lần thứ mười một của William, cuốn sổ thu chi riêng của chú cho thấy chú đã thu được lợi nhuận 412 đô-la. Chú mua tặng mẹ chiếc bút máy và tặng hai cụ bà nội ngoại hai chiếc trâm cài áo mua Ở hàng vàng bạc địa phương. Chiếc bút máy có nhãn hiệu Parker, còn hai chiếc trâm được gói vào những hộp đồ trang sức đặc biệt gửi về tận nhà cho hai cụ. Không phải là chú có ý lừa dối gì các cụ bằng
những thứ bao bì rất đẹp ấy, mà chính là chú đã rút được kinh nghiệm hồi bán nhãn diêm, biết rằng bao bì càng đẹp càng dễ bán sản phẩm. Các cụ thấy hộp đồ mang nhãn hiệu Shreve, Crump và Low, lấy làm hãnh diện về những chiếc trâm của mình và luôn luôn cài trên áo.
Các cụ theo dõi từng bước cúa William và quyết định rằng đến tháng Chín năm tới sẽ chuyển chú lên học Ở trường St Paul, Ở Concord ban New Hamphires như trước đây đã dự kiến. Chú lại được hưởng học bổng cho môn toán, đỡ được khoản 300 đô-la một năm cho gia đình mà thực ra điều đó không cần thiết. Vì vây mặc dầu William nhận học bống nhưng các cụ vẫn trả lại tiền cho nhà trường để "nhường cho những đứa trẻ ít may mắn hơn". Anne không thích chuyện William phải xa mẹ để vào trường nội trú, nhưng các cụ đã muốn như vậy, hơn nữa, chị biết rằng trước đây Richard cũng đã muốn như vậy. chị thêu tên đánh dỉấu vào những đồ dùng của William, giầy dép, quần áo, và cuối cùng chị đích thân sửa soạn hòm xiểng cho chú, không nhờ ai giúp đỡ. Khi William sắp sửa lên đường, mẹ chú hỏi chú cần bao nhiêu tiền túi cho học
kỳ sắp tới
- Con không cần, - chú trả lời gọn.
William hôn vào má mẹ. Chú không hiểu được mẹ chú sẽ nhớ chú như thế nào.
Chú đi xuống đường, mặc chiếc quần dài đầu tiên trong đời, tóc cắt rất ngắn, tay xách chiếc va-li nhỏ, và tiến đến chỗ anh lái xe Roberts. Chú ngồi lên phía sau chiếc xe Rolls Royce. Chiếc xe đưa chú đi. Chú không ngoái cổ lại. Mẹ chú cứ vẫy tay mãi rồi khóc.
William cũng muốn khóc, nhưng chú biết giá bố còn sống thì bố sẽ không bằng lòng như vậy. Điều đầu tiên Wilham Kane thấy rất lạ là Ở trường này, tất cả những học sinh khác không ai cần biết rằng chú là ai. Ở đây không còn những cái nhìn trầm
trồ hoặc im lặng thừa nhận sự có mặt của chú nữa. Một đứa nhiều tuổi hơn hỏi tên chú là gì, nhưng sau khi chú nói tên rồi, không thấy nó tỏ vẻ xúc động gì hết. Thậm chí có đứa gọi chú là Bill. Chú đã phải cải chính ngay và giải thích rằng xưa kia không ai gọi bố chú là Dick cả
CƠ ngơi mới của chú là một căn phòng nhỏ với những giá sách bằng gỗ, hai chiếc bàn, hai ghế, hai giường với một chiếc ghế dài bọc da đã hơi cũ. Bàn ghế và chiếc giường kia là của một cậu học sinh khác từ New York đến, có tên là Matthew Lester. BỐ cậu ta là Chủ tịch công ty Lester Ở New York, cũng là một gia đình ngân hàng cũ.
William đã sớm quen ngay với những giờ giấc hàng ngày Ở trường. Bẩy rưỡi sáng ngủ dậy, tắm rửa, ăn sáng Ở phòng ăn lớn với cả trường, 220 học sinh hối hả với những món trứng, thịt rán và cháo kê. ăn sáng xong vào nhà thờ, rồi vào lớp, trước bữa ăn trưa có ba tiết mỗi tiết 50 phút, sau bữa ăn trưa có hai tiết nữa, rồi tiếp theo đó là bài học nhạc mà William rất ghét vì chú không thể nào hát được cho đúng nốt và chú
cũng không hề có ý muốn học chơi bất cứ một thứ nhạc cụ nào. Bóng đá vào mùa thu, khúc côn cầu và bóng quần vào mùa đông, chèo thuyền và quần vợt vào mùa xuân, ngoài những thứ đó ra, chú không còn mất thời giờ làm gì khác. Vì là học lớp chuyên toán nên mỗi tuần William lại có ba buổi được phụ đạo đặc biệt do ông thày thuê riêng tên là G. Raglan phụ trách. Bọn trẻ cho ông thày này một biệt danh, gọi là
ông "Xấu tính".
Trong năm học đầu, William tỏ ra rất xứng đáng với học bổng của chú, luôn luôn dẫn đầu Ở tất cả các môn và cả trong lớp chuyên toán. Chỉ có anh bạn mới, Matthew Laster, là đối thủ thực sự với chú, vì hai người cùng Ở một phòng với nhau. Trong khi theo học chính quy như vậy, William vẫn tỏ ra mình là một nhà tài chính. Mặc dầu chuyến đầu tư đầu tiên của chú không thành công, chú vẫn không từ bỏ niềm tin
của mình là thế nào rồi cũng thu về được món tiền lớn, và chú cho rằng giành được nó trên thị trường chứng khoán mới là quan trọng. Chú theo dõi tờ Nhật báo phố Wall và báo cáo của các công ty. Mới mười hai tuổi, chú đã bắt đầu thí nghiệm làm những cuộc đầu tư vào một hồ sơ giả. Chú ghi lại tất cả những cuộc mua bán giả, cái tốt và cái không tốt lắm, vào một cuốn sổ khác màu, rồi đến cuối tháng đem so sánh những dự tính của mình với thị trường xem sao. Chú không theo những chứng khoán đã có trong danh sách, mà tập trung vào một số những công ty vô danh nào đó không có khả năng mua vào nhiều hơn những cổ phần họ có được. Wilham tự quy ước cho mình bốn điều trong đầu là: bội số thu nhập thấp, tỷ lệ phát triển cao, cơ sở tài sản mạnh và triển vọng kinh doanh thuận lợi. Chú thấy ít có chỗ nào cổ phần đáp ứng được đầy đủ những tiêu chuẩn chú đặt ra như vậy Nhưng chú tính nếu mình đã làm thì phải trông thấy lợi nhuận mới được.
Đến lúc chú thấy rằng chương trình đầu tư ma của mình đã có thể liên tục thắng được những chỉ tiêu Dow Jones, thế là William biết rằng đã có thể bỏ tiền ra đầu tư được rồi. Chú bắt đầu với 100 đô-la và luôn luôn cải tiến phương pháp của mình. Chú theo sát lợi nhuận và giảm bớt hao hụt. Một khi chứng khoán tăng lên gấp đôi, chú đem bán ngay một nửa cổ phần, giữ lại nguyên một nửa không suy chuyển và kinh doanh phần chứng khoán còn lại của chú, coi như đó là một phần thưởng của lãi suất. Một số những công ty chú phát hiện ra lúc đầu, như Eastman Kodak và I.B.M sau trở thành nhữag công ty đứng đầu Ở quy mô toàn quốc. Chú cũng ủng hộ cả công ty Sears, một công ty kinh doanh hàm thụ, vì chú cho rằng càng về sau này nó sẽ là một khuynh hướng phổ biến trong cách mua bán.
Vào khoảng cuối năm học đầu tiên Ở trường, chú đã trở thành cố vấn cho nửa số nhân viên và một số phụ huynh học sinh về chuyện làm ăn. William Kane thấy mình Ở trường rất hạnh phúc. William đi học Ở St. Paut nên Ở nhà chỉ còn có một mình Aune Kane đơn độc với hai bà nội và ngoại giờ đã mỗi lúc một già thêm. Chị lấy làm buồn thấy mình đã ngoài ba mươi rồi, và cái tươi đẹp của tuổi trẻ trước đây bây giờ đã biến đi đâu mất. Chị bắt đầu liên hệ lại với những bạn cũ do cái chết của Richard
làm cho đứt đoạn. John và Milly Preston, mẹ đỡ đầu của William, lại mời chị đi ăn và đi xem hát, lần nào cũng chú ý kéo thêm một người đàn ông để cho Anne có bạn. Những người mà vợ chồng Preston mời đi theo thường là những người mà Anne thấy khủng khiếp, và chị cười thầm với mình mỗi khi họ tỏ ra muốn ve vãn.
Cho đến một hôm vào tháng giêng 1919, sau ngày William về nghỉ đông và đã trở lại trường, Anne được mời đến dự bữa ăn thân mật bốn người. Milly thú thật với chị là họ chưa hề gặp người khách này bao giờ, chỉ biết đó là Henry Osborue và nghe như trước đây cùng học với John Ở Harvard.
Milly nói trên điện thoại:
- Thực ra John không biết rõ lắm về anh ấy, có điều John bảo anh ta khá đẹp trai.
Về điều này, cả Anne và Milly đều công nhận ý kiến của John là đúng. Lúc Anne đến, anh ta đang ngồi bên lò sưởi. Anh ta đã đứng ngay dậy để chờ Milly giới thiệu. Người cao lớn, tóc đen, mắt đen, dong dỏng và có dáng thể thao. Anne cảm thấy hài lòng
được ngồi nói chuyện buổi tối với một người đàn ông trẻ đẹp và có vẻ cương nghị, còn Milly thì cũng bằng lòng với ông chồng đang bước vào tuổi trung niên so với anh bạn học cũ kia. Henry Osborne phải đeo tay vào một sợi băng gần che lấp chiếc ca-vát Harvard trên ngực.
- Anh là thương binh ư? - Anne hỏi với giọng thương cảm.
Không, tội bị ngã cầu thang ngay sau cái tuần Ở mặt trận phía Tây về, - anh ta cười nói.
ĐÓ là một trong những bữa ăn khá hiếm đối với Anne, vì thời gian trôi đi một cách vui vẻ nhẹ nhõm. Henry Osbome trả lời tất cả nhữag gì Anne tò mò muốn hỏi. Sau khi rời trường Harvard, anh ta làm việc cho một công ty quản lý nhà đất Ở Chicago là nơi
anh ta sinh trưởng. Chiến tranh nổ ra, anh không thể không tham gia. Anh có cả một kho chuyện lý thú về Châu âu và về cuộc đời anh đóng vai một trung úy đứng ra bảo vệ danh dự của nước Mỹ Ở trận Mame. Từ sau khi Richard mất đi, Milly và John chưa từng thấy Anne cười nhiều như thế bao giờ, và lúc Henry đề nghị đánh xe đưa chị về nhà thì họ mỉm cười nhìn nhau ra vẻ hiểu ý.
Bây giờ sau khi đã trở về với đất của những anh hùng này, anh định sẽ làm gì đây? - Anne hỏi trong khi Henry Osbome đánh chiếc xe Stutz ra ngoài và đi vào phố Charles.
- Tôi chưa định gì hết, - anh ta đáp. - May mà tôi còn một ít tiền riêng nên chưa vội lao vào chuyện gì hết. CÓ thể tôi sẽ tiến hành đặt ngay công ty nhà đất của tôi Ở Boston này. Từ hồi Ở trường Harvard, tôi vẫn luôn luôn cảm thấy gần gũi với thành phố này.
- Vậy anh không quay về Chicago nữa ư ?
- Không, tôi chả còn gì Ở đó. Cha mẹ tôi đã chết cả, và tôi lại là con một, vì vậy tôi có thể lại bắt đầu Ở bất cứ chỗ nào cũng được. Quay phía nào đây?
- Ô rẽ sang phải Ở ngã tư đầu, - Aune nói.
- Chị Ở trên đồi Beacon ư?
- Vâng. Khoảng hơn một trăm thước phía bên phải trên đường Chesnut, có ngôi nhà đỏ Ở góc quảng trường Louisburg ấy.
Henry Osborne đỗ xe lại và đưa Anne đến tận cửa nhà Chào và chúc ngủ ngon xong, anh ta đi ngay mà Anne chưa kịp cảm ơn. Chị nhìn theo xe anh ta từ từ đi xuống đồi Beacon, biết rằng thế nào cũng còn gặp lại: Ngay sáng hôm sau, chị lấy làm sung sướng tuy không ngạc nhiên lắm thấy anh ta gọi điện thoại lại cho chị.
- Dàn nhạc giao hưởng Boston, Mazart với một nhân tài mới rất ầm ĩ, Mahler, vào thứ hai tới, mời chị đi được không.
Anne bối rối thấy mình mong cho chóng đến thứ hai. Hình như đã lâu lắm chị mới thấy có một người mà chị cho là hấp dẫn theo đuổi chị. Henry Osbonle đến rất đúng giờ hẹn. Hai người bắt tay nhau hơi ngượng ngập. Chị mời anh ta uống một cốc wisky.
- Ờ trên quảng trường Louisburg này cũng thú vị lắm nhỉ. Chị thật là một người may mắn.
Vâng, có lẽ thế. Thực ra tôi cũng không để ý lắm. Tôi sinh trưởng trên Đại lộ Commonwealth kia. Tôi thì lại cho là Ở chỗ này hơi bí.
Tôi đang nghĩ nếu tôi quyết định Ở lại Boston thì có thể mua một ngôi nhà Ở ngay trên đồi này.
Người ta không có sẵn nhà bán như vậy nhiều lắm đâu, - Anne nói. - Nhưng có thể anh sẽ may mắn mua được. Ta đi thôi chứ) Đi nghe hòa nhạc mà đến
muộn và phải giẵm lên chân người khác để vào chỗ
lgồi của mình thì chán lắm.
Henry liếc nhìn đồng hồ tay.
- Vâng, tôi cũng thấy thế. Vả cũng còn phải xem nhạc trưởng bước vào nữa chứ. Tuy nhiên, chị không phải lo giẵm lên chân ai trừ chân tôi, vì chúng ta ngồi đầu hàng ghế.
Sau buổi hòa nhạc thú vị ấy, Henry cầm tay Anne dẫn chị vào nhà hàng Ritz, và anh ta cho điều đó là tự nhiên. Từ sau khi Richard mất, chỉ có William là người đã cầm tay chị nhưng phải nói mãi chú mới làm vì chú cho rằng như thế là có tính đàn bà. Lại một lần nữa, thời gian trôi qua nhanh, không biết đó là do rnón ăn ngon hay do có Henry cùng đi? Lần này, anh ta kể những chuyện về Harvard làm cho chị cười, và những kỷ niệm về chiến tranh khiến chị phải khóc.
Mặc dầu chị rất biết rằng trông bề ngoài anh ta trẻ hơn chị, nhưng đời anh ta đã trải qua rất nhiều sự kiện nên ngồi trước mặt anh ta, chị cảm thấy mình bé nhỏ và ngây thơ hơn nhiều. Chị nói lại cho anh ta biết về cái chết của chồng chị, và lại khóc. Anh ta cầm lấy tay chị. Chị nói về đứa con trai của mình với một niềm kiêu hãnh và trìu mến. Anh ta nói là vẫn mong muốn có một đứa con trai. Henry rất ít nói đến Chicago hay đời sống gia đình riêng của mình, nhưng Anne biết chắc là anh ta thấy thiếu gia đình lắm.
Đêm đó đưa chị về nhà, anh ta nán ngồi lại uống rượu một lát rồi lúc ra về hôn vào má chị. Trước khi ngủ, Anne ôn lại trong đầu từng phút hai người đã sống với nhau.
Ngày thứ ba, họ lại cùng nhau đi xem hát. Thứ tư, họ rủ nhau lên thăm ngôi nhà nghỉ hè của Anne Ở BỜ Bắc. Thứ năm, rủ nhau về nông thôn Massachusetts phủ đầy băng tuyết. Thứ sáu, đi mua đồ cổ và thứ bẩy thì làm tình với nhau. Sau ngày chủ nhật, hai người hầu như không rời nhau nữa. Milly và John Preston hoàn toàn sung sướng thấy việc giới thiệu của mình như thế là đã rất thành công. Milly đến khắp nơi Ở Boston khoe với mọi người rằng chính chị đã làm cho hai ngườl gắn bó với nhau được.
Không ai ngạc nhiên đối với việc hai người tuyên bố đính hôn với nhau mùa hè năm đó, trừ có một người là William. Chú đã tỏ ra không thích Henry ngay từ cái hôm Anne, với một vẻ ngần ngại, đã giới thiệu hai người với nhau. Câu chuyện đầu tiên diễn ra dưới dạng Henry thì hỏi rất nhiều, tỏ ra muốn thân mật, nhưng Wilham thì toàn trả lời nhát gừng, ra vẻ không ưa anh ta. Từ đó William vẫn cứ như thế. Anne
cho rằng chẳng qua con mình ghen đó thôi, vì sau Richard qua đời chỉ có William là người thân yêu nhất. Hơn nữa, William ìuôn luôn cho rằng sau khi bố chú mất đi, trên đời này không thể có ai thay thế vào được nữa. Anne cố thuyết phục Henry rằng với thời gian rồi William sẽ thay đổi tính nết và thái độ lạnh nhạt của chú.
Anne Kane trở thành bà Henry Osborne vào tháng mười năm đó Ở nhà thờ lớn của giáo phái E-pi-xcô-panli St. Paul, đúng vào lúc lá vàng bắt đầu rụng, tức là khoảng hơn chín tháng kể từ ngày họ mới gặp nhau. William giả vờ ốm để khỏi đến dự đám cưới, và chú cũng quyết định Ở lại trường luôn. Các cụ bà nội ngoại đều có tham dự nhưng không giấu được sự bất bình của các cụ đối với việc Anne tái giá, nhất là lại đi lấy một người có vẻ trẻ hơn chị rất nhiều. Bà nội Kane nói: - Thế nào rồi cũng kết thúc bằng một tai họa.
Đôi vợ chồng mới ngay ngày hôm sau đáp tầu đi Hy Lạp cho đến tận giữa tháng chạp mới trở về căn nhà đỏ trên đồi, vừa đúng lúc để đón Wilham về nghỉ những ngày lễ Giáng sinh. William khó chịu thấy ngôi nhà đã trang hoàng lại, hầu như không còn dấu vết gì của cha chú nữa. Qua lễ Giáng sinh, thái độ của William đối với ông bố dượng vẫn không tỏ ra dịu đi chút nào, mặc dầu Henry đã tặng chú chiếc xe đạp mới và chú cũng hiểu đó là một thứ hối lộ. Henry Osbome vẫn kiên nhẫn chịu đựng thái độ ấy và không thèm nói gì nữa. Anne lấy làm buồn thấy ông chồng mới tuyệt vời của mình không tỏ ra cố gắng tranh thủ cảm tình gì của con mình nữa.
William cảm thấy bực dọc về chuyện ngôi nhà của mình bị người khác xâm chiếm, chú thường biến đi đâu chơi cả ngày. Khi Anne hỏi chú đi đâu, chú chỉ ậm ừ hoặc không nói gì. Các cụ bà cũng thấy vắng chú nhưng không hỏi. Những ngày nghỉ lễ Giáng sinh vừa hết là William trở lại trường ngay. Thấy chú đi, Henry cũng không lấy gì làm buồn. Còn Anne thì lấy làm lo ngại đối với cả chồng và con.

CHƯƠNG 9(A) - PHẦN MỘT - 1906-1923

Dậy đi! Bé con? Dậy đi!
Một tên lính thúc báng súng vào cạnh sườn Wladek. Chú giật mình ngồi dậy, nhìn nấm mộ của chị chú, cả Leon và của Nam tước. Rồi chú ngước nhìn tên lính. Chú không còn giọt nước mắt nào nữa.
- Tôi sẽ sống. Anh không giết tôi được, - chú nói bằng tiếng Ba-Lan. - Đây là nhà của tôi. Các anh đang Ở trên đất của tôi.
Tên lính nhổ toẹt vào Wladek một cái và đẩy chú về bên bãi cỏ đang có tất cả đám người hầu Ở đó, người nào cũng mặc bộ áo ngủ màu xám trên lưng đều có ghi số. Vừa trông thấy thế Wladek đã khiếp sợ. Chú biết là mình sẽ không tránh khỏi số phận ấy. Tên lính dẫn chú về phía sau lâu đài và bảo quỳ xuống.
Chú nghe có tiếng dao trên đầu và thấy mớ tóc đen rậm của chú rụng xuống cỏ. Chỉ độ mươi nhát như thế là họ đã cạo sạch tóc trên đầu chú, chẳng khác gì người ta cắt lông cừu. Sau đó chú được lệnh mặc vào người bộ đồng phục mới, tức bộ áo ngủ màu xám gồm
một chiếc sơ mi rộng thùng thình và một chiếc quần. Wladek cố giấu chiếc vòng bạc đeo Ở cổ tay. Rồi chú được dẫn ra nhập bọn với đám người hầu Ở phía trước lâu đài
HỌ đứng chờ trên bãi cỏ. Bây giờ không ai còn tên gì nữa, chỉ có số. Wladek bỗng nghe xa xa có tiếng ồn rất lạ tai. Chú quay về hướng có tiếng ghê rợn ấy. Một chiếc xe từ ngoài cổng sắt lớn tiến vào. Xe này có bốn bánh, không có ngựa hay bò kéo mà nó di chuyển được Tất cả tù nhân đều nhìn vào đó mà không tin Ở mắt mình. Khi chiếc xe đó dừng lại, bọn lính kéo đám tù nhân đến gần và bắt trèo lên xe. Rồi chiếc xe không có ngựa kéo ấy quay đầu đi ra ngoài những hàng cổng sắt. Không một ai dám mở miệng nói gì.
Wladek ngồi phía sau xe, đăm đăm nhìn lại tòa lâu đài của chú cho đến lúc không còn thấy những tháp gôtích trên nóc nó nữa.
Chiếc xe không có ngựa kéo chạy về phía làng Slonim. Wladek vừa không hiểu sao chiếc xe đó chạy được vừa không biết nó đưa mọi người đi đâu. Chú bắt đầu nhận ra những con đường chú đã từng đi học trước đây. Ba năm sống dưới hầm lâu đài khiến chú không còn nhớ được những con đường ấy đi đến tận nơi nào. Đi được mấy dặm thì chiếc xe dừng lại và mọi người bị xua xuống. Ra đây là nhà ga xe lửa.
Wladek chỉ mới trông thấy chỗ này một lần trong đời, tức là khi chú cùng Leon ra đón Nam tước Ở Warsaw về . Chú còn nhớ là khi họ bước vào sân ga thì người
lính gác Ở đó đã giơ tay chào. Lần này không có ai chào, và tù nhân thì chỉ được uống sữa dê, ăn . súp củ cải và bánh mì đen. Wladek lại được đứng ra nhận thức ăn về đem chia cho mười ba người còn lại với chú. Chú ngồi trên một chiếc ghế gỗ và đoán rằng họ đang chờ một chuyến xe lửa. Đêm đó, mọi người nằm ngủ trên đất nhìn trời sao. Nếu so với căn hầm thì đây đã là thiên đường rồi. Chú cảm ơn Chúa là mùa
đông này không lấy gì làm rét lắm.
Đến sáng hôm sau, mọi người vẫn chờ đợi. Wladek hướng dẫn mọi người vận động một chút, nhưag chỉ được vài phút thì phần lớn đã gục xuống. Chú bắt đầu nhẩm trong bụng để nhớ tên những người cho đến hôm nay còn sống sót. Tất cả còn lại có mười hai người đàn ông, hai người đàn bà, trong số hai mươi bảy người đã bị giam trong hầm trước đây. Cả ngày hôm ấy họ vẫn cứ phải ngồi chờ chuyến xe lửa mà không thấy nó đến. CÓ một chuyến tàu đến nhưng chỉ thả thêm lính xuống đây, rồi lại đi mà không chở đám người của Wladek. HỌ lại ngủ một đêm nữa trên đất.
wladek nằm nhìn lên trời sao trong bụng nghĩ không biết có thể làm thế nào để trốn đi được. Trong đêm, một trong số mười ba người của chú bỏ chạy sang bên kia đường xe lửa, nhưng chưa sang được đến nơi đã bị lính bắn chết. Wladek chăm chăm nhìn vào chỗ đồng bào của chú vừa ngã xuống. Chú sợ không dám cbạy ra cứu vì rất có thể lại cùng chịu số phận ấy Sáng hôm sau, bọn lính gác cứ để xác chết đó nằm
trên đường để đe những người khác đừng có bắt chước chạy mà chết.
Không ai nói gì về chuyện đã xảy ra, nhưng suốt ngày hôm đó mắt Wladek không rời được người đã chết. Người đó chính là Ludwik, một trong hai người đã đến làm chứng lúc Nam tước dặn dò. để lại gia tài cho Wladek.
Vào buổi tối ngày thứ ba, một chuyến xe lửa khác từ từ lăn bánh vào ga. Một chiếc đầu tầu rất to chạy bằng hơi nước kéo theo một lô toa chở hàng và chở hành khách. Những toa chở hàng chất đầy rơm và hai bên sườn có viết chữ Gia Súc. Một số toa khác đã chở toàn những tù nhân mà Wladek trông họ cũng nhem nhuốc như đám người của chú vậy. Chú và tốp người của chú bị vứt ìên một trong những toa đó để bắt đầu một cuộc hành trình. Phải chờ mấy tiếng đồng hồ nữa đoàn tàu mới bắt đầu ra khỏi ga và đi về một hướng mà Wladek đoán là hướng Đông vì mặt trời đang lặn
phía sau.
Cứ ba toa lộ thiên thì có một lính gác ngồi bắt tréo chân Ở toa trên có mái. Suốt dọc đường tưởng như không bao giờ hết ấy, thỉnh thoảng lại có tiếng súng bắn trên tàu, khiến Wladek nghĩ có muốn chạy trốn cũng vô ích.
Lúc tàu đỗ lại Ở Minsk, họ được cho ăn một bữa đầu tiên gồm bánh mì đen, nước uống, lạc và kê. Rồi lại đi tiếp CÓ khi họ đi đến ba ngày trời mà chẳng thấy một ga nào. Rất nhiều người trên tàu này bị đói lả và chết. HỌ bị vứt xuống đường trong khi tàu đang chạy. Khi tàu dừag lại, có khi họ phải chờ đến hai ngày đề nhường đường cho tàu khác đi về phía Tây.
Những chuyến tàu ấy thường là chở đầy lính. Wladek hiểu ra là tàu chở quân đội bao giờ cũng được ưu tiên đi trước. Trong đầu Wladek lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện trốn, nhưng có hai điều khiến chú chưa dám thực hiện tham vọng ấy. Thứ nhất là chú thấy hai bên đường tàu chỉ toàn là rừng thẳm không biết đến đâu mới hết, và thứ hai là tất cả những người còn sống sót Ở nhà hầm ra đây đều chỉ biết dựa vào chú. Chính Wladek là người lo ăn uống cho họ và cố động viên cho họ còn muốn sống. Chú là người trẻ nhất trong cả bọn và cũng là người cuối cùng tin Ở cuộc sống.
Từ đây trở đi, đêm nào cũng rất lạnh, có khi lạnh tới 30 độ dưới không. HỌ phải nằm sát vào nhau trên sàn để người nọ truyền hơi ấm sang cho người kia.
Wladek thầm đọc lại những đoạn Aeneid để cố ngủ cho được. Nếu một người muốn giở mình thì tất cả những người khác đều phải đồng ý giở mình một lượt mới được. Wladek nằm Ở đằng đầu và cứ qua mỗi giờ đồng hồ, chú đoán như vậy vì chỉ có thể căn cứ vào bọn lính đổi gác, thì chú lại ìấy tay gõ vào thành xe và mọi người lại cứ thế trở mình quay sang phía kia.
Một đêm, có một người không trở mình được nữa. HỌ báo cho Wladek biết và chú báo lại cho tên lính gác biết. ĐÓ là một người đàn bà trong nhóm, và bà ta đã chết. Phải bốn người mới nhấc được xác bà ta lên và vứt xuống cạnh đường trong khi tàu vẫn đang chạy.
Tên lính gác còn bắn theo xác chết một loạt đạn nữa đề biết chắc rằng đó không phải là người định trốn.
Đi quá Minsk hai trăm dặm, họ đến một thị trấn tên là Smolensk. Ở đây họ được ăn súp củ cải nóng hơn với bánh mì đen. Trong toa xe của Wladek có thêm mấy tù nhân nữa, và mấy người này nói cùng một thứ tiếng với bọn lính gác. Người cầm đầu nhóm
mới này hình như cũng cùng tuổi với Wladek. Wladek với mười một người còn lại trong nhóm, mười đàn ông, một đàn bà, đã thấy nghi ngờ ngay bọn mới lên này. HỌ chia toa xe ra làm hai nửa, mỗi nhóm Ở một bên toa.
Một đêm trong khi Wladek đang nằm thức và ngắm nhìn trời sao, chờ cho người nóng lên, chú bỗng thấy tên cầm đầu của nhóm người mới lên Ở Smolenski bò đến chỗ người nằm ngoài của nhóm chú, tay hắn cầm một sợi dây thừng. Chú trông rõ thấy
hắn luồn sợi dây vào cổ Alfons lúc này đang ngủ. Alfons là người hầu cận của Nam tước trước đây. Wladek biết rằng nếu mình nhổm dậy ngay thì hắn sẽ nghe thấy và chạy về đầu toa bên kia, vì thế chú khẽ bò dọc theo nhóm người của chú. HỌ biết chú bò qua mình nhưng không ai lên tiếng. . Đến cuối hàng, chú nhảy chồm lên người tên kia. Mọi người trong toa thức dậy ngay. Ai nấy kéo dồn về một đầu toa, trừ có
Alfons nằm lại đó không động đậy. Tên cầm đầu đám Smolenski cao lớn và nhanh
nhẹn hơn Wladek. Nhưng vật nhau trên sàn toa thì cũng như nhau cả. Cuộc đấu diễn ra đến mấy phút.
Bọn gác nhìn cười và đánh cuộc xem ai được. Một tên thấy đánh nhau mà không có máu thì không thích, bèn quẳng một chiếc lưỡi lê xuống giữa sàn tàu. Cả hai tranh nhau giành lấy lưỡi lê sáng loáng. Tên Smolenski vớ được trước. Hắn đâm một nhát vào cạnh chân Wladek tóe máu. Bọn người Smolensk thấy thế hoan hô. Nhát đâm thứ hai trượt qua tai Wladek cắm xuống sàn tàu. Hắn chưa kịp rút lười lê lên được thì
Wladek đã dùng hết sức mình thúc một cái thật mạnh vào dái hắn. Hắn ngửa người ra sau và phải rời tay khỏi lưỡi lê, wladek chồm lên, nắm lấy cán lưỡi lê và đè lên người tên Smolenski, thọc một nhát vào miệng hắn. Hắn thét lên một tiếng làm náo động cả đoàn tàu . Wladek rút lưỡi lê ra rồi lại liên tiếp thọc xuống mấy nhát nữa cho đến khi tên kia hết cựa quậy.
Wladek quỳ lên người hắn thở dốc rồi lát sau nhấc người hắn lên vứt ra ngoài tàu. Chú nghe rõ tiếng xác hắn rơi đánh huych xuống cạnh đường tàu và cả tiếng
súng của bọn gác bắn theo.
Wladek loạng choạng đi đến chỗ Alfons còn nằm đó. Chú quỳ xuống bên cạnh. Anh ta đã chết thật rồi. Thế là người làm chứng thứ hai của chú cũng chết nốt.
Bây giờ còn có ai tin được Wladek là người Nam tước đã chọn ra để thừa kế gia sản của ông nữa? Cuộc đời thế là không còn mục đích gì nữa rồi.
Chú cúi gục xuống, nắm chặt hai tay vào cán và xoay mũi lưỡi lê vào bụng. Bỗng một tên lính gác nhảy xuống giằng lưỡi lê ra khỏi tay chú.
Ô không được, không được, - hắn càu nhàu.
"Chúng tao cần có những người sống như mày Ở trong trại giam. Đừng hòng chúng tao làm mọi việc, nghe không".
 
Wladek ôm hai tay lên đầu. Bây giờ chú mới thấy đau buốt Ở chỗ chân bị lưỡi lê đâm lúc nãy. Chú đã mất hết cả gia tài, để bây giờ cầm đầu luôn cả lũ người Smolenski kia nữa. Cả toa tàu bây giờ là giang sơn của chú, và chú phải quản hai chục tù nhân. Chú lập tức chia họ ra để mỗi người Ba-lan bao giờ cũng nằm kề với một người Smolenski, và như vậy giữa hai nhóm không còn có chuyện lục đục với nhau được nữa.
Wladek bỏ thì giờ ra đề học cái ngôn ngữ quái lạ của họ. Mãi sau chú mới biết đó chính là tiếng Nga, rất khác với thứ tiếng Nga cổ điển mà Nam tước đã dạy cho chú. Và bây giờ thì chú biết là đoàn tàu đi về hướng nào.
Ban ngày, chú lấy ra hai người Smolenski để dạy tiếng của họ cho chú. Khi nào hai người đó mệt quá rồi, chú lại lấy hai người khác, cứ thế cho đến lúc cả bọn người đó mệt rũ.
Dần dần chú đã có thể nói chuyện dễ dàng với bọn người mới phụ thuộc vào chú. Chú phát hiện ra một số trong bọn đó là lính Nga, sau khi về nước bị đi đày ngay về cái tội đã để cho bọn Đức bắt làm tù binh. SỐ còn lại là người Bạch Nga, toàn là dân làm ruộng, làm mỏ và lao động bình thường nhưag đều là những người rất chống đối cách mạng.
Đoàn tàu đi tiếp đến những vùng đất trơ trụi mà Wladek chưa hề thấy bao giờ. HỌ đi qua những thị trấn chú cũng chưa từng nghe nói đến bao giờ, như Omsk, ovosibirsk, Krasnoyarsk. Chỉ những nghe đến tên thôi chú cũng đã thấy sợ. Cuối cùng, sau hai tháng trời và qua hơn ba ngàn dặm họ đến được Irkutsk, và đến đây là hết đường sắt.
HỌ bị xua ra khỏi tàu, được cho ăn uống và được phát những đôi giày bằng da thô, và những chiếc áo choàng rất nặng. HỌ phải tranh nhau để giành lấy áo ấm nhưng cũng chẳng có thứ áo nào chống nổi cái lạnh mỗi lúc một ghê gớm hơn.
Lúc sau thấy xuất hiện những chiếc xe không có ngựa kéo, giống như loại xe Wladek đã thấy lúc rời khỏi lâu đài. HỌ quẳng xuống một loạt những dây xích. Các tù nhân bị khóa một tay vào dây xích dài ấy mỗi bên hai mươi lăm ngưởi. Bọn lính gác trèo lên
xe, còn đám tù nhân đi theo với dây xích buộc vào xe.
HỌ cứ đi bộ như thế liền trong mười hai tiếng đồng hồ, được nghỉ lại hai tiếng rồi lại đi tiếp. Sau ba ngày. Wladek tưởng mình sẽ chết vì lạnh và mệt, nhưng ra khỏi những vùng có dân cư rồi, họ chỉ phải đi ban ngày, còn ban đêm được nghỉ. Một bếp lưu động của tù nhân trong trại cứ sáng ra và tối trước khi nghỉ cho họ ăn xúp củ cải và bánh mì. Wladek hỏi những tù nhân trong trại thì được biết rằng tình hình Ở đó
còn tệ hơn.
Trong tuần đầu, họ không được tháo ra khỏi xích nhưng dần dà thấy không ai có thể nghĩ đến trốn chạy được nữa, họ được tháo xích vào ban đêm để ngủ. Tù nhân phải tự đào lấy hố trong tuyết để tìm chỗ ấm. Đôi khi vào những ngày nắng ráo họ tìm được một khu rừng để ngả lưng, nằm ngổn ngang khắp chỗ. HỌ vẫn tiếp tục đi qua những hồ nước rất rộng và những con sông băng giá. HỌ đi mãi về phía bắc, gió càng
lạnh, tuyết càng dầy. Chỗ chân bị thương của Wladek luôn luôn đau buốt, nhưng đến giờ thì hai tai và các đầu ngón tay bị giá lạnh còn buốt hơn nữa. Chung quanh là cả một khoảng mênh mông trắng toát, không có dấu hiệu gì của sự sống và thứ gì ăn được.
Wladek biết rằng ban đêm có trốn đi đâu thì cũng sẽ chỉ chết mòn vì đói. Những người già yếu ốm đau thì đêm đêm chết dần, và như thế họ cũng còn là may mắn. Còn những người không may, không bước đi được nữa, thì được tháo ra khỏi xích và bỏ lại một mình trong bãi tuyết vô tận. Những người còn sống sót với dây xích lại đi tiếp, đi mãi về phía bắc, cho đến lúc Wladek hoàn toàn không còn khái niệm gì về thời gian nữa, chỉ còn biết tay mình vẫn bị khoá vào xích. Chú cũng không còn nhớ là mình đã đào hố vào trong tuyết đề ngủ đêm và sáng hôm sau tỉnh dậy như thế nào nữa. Những ai không còn biết được như vậy coi như đã sắp đào mồ để chôn chính mình rồi. Sau một chặng dài chín trăm dặm, những người nào còn sống sót thì được dân Ostyak đem xe trượt do hươu kéo ra đón. Ostyak là dân du mục trên thảo nguyên Nga. Bây giờ tù nhân lại bị xích vào những xe trượt ấy và được dẫn đi tiếp . Gặp một trận bão tuyết lớn đoàn tù phải dừng lại mất gần hai ngày. Wladek tranh thủ nói chuyện được với một tay Ostyak trẻ trên chiếc xe trượt mà chú đang bị xích vào đó. Chú dùng thứ tiếng Nga cổ với giọng Ba lan để nói lõm bõm với anh ta được ít câu. Chú phát hiện ra một điều là dân Ostyak cũng rất ghét những người Nga Ở phía nam, vì họ đối đãi với dân này tồi tệ chẳng khác gì với các tù nhân. Dân Ostyak do đó cũng có phần
nào cảm tình với những người tù tội nghiệp không có tương lai này. HỌ gọi tù nhân ìà những người bất hạnh.
* *
Chín ngày sau, trong ánh sáng mờ mờ của đêm mùa đông Bắc cực, họ đến được Trại 201. Wladek không thể nào ngờ được rằng mình còn có cái may mà trông thấy chỗ này. Trước mắt chú là một dãy những căn lều bằng gỗ và một khoảng không gian mênh mông trống rỗng. Những căn lều cũng đánh số như tù nhân vậy. Lều của Wladek số 33. Giữa căn lều có một chiếc lò nhỏ đen sì. Chung quanh là những dãy
giường ván có đệm rơm Ở trên với chiếc chăn mỏng.
Trong đêm đầu không có mấy tù nhân ngủ được. Tiếng gào tiếng khóc trong Lều 33 có khi còn to hơn cả tiếng gầm rú của chó sói Ở bên ngoài.
Sáng hôm sau, ngay từ lúc mặt trời chưa mọc, họ đã bị tiếng gõ vào thanh sắt tam giác đánh thức dậy.
Sương giá đóng đầy cả hai mặt cửa sổ khiến Wladek nghĩ thế nào mình cũng chết rét. ăn sáng chỉ được kéo dài mười phút trong một gian chung lạnh buốt với một bát cháo kê hơi âm ấm trong có vài miếng cá mòi và một cọng rau cải nổi lềnh bềnh. Những người mới đến bỏ xương cá lên bàn, nhưng những tù nhân đã quen với cảnh Ở đây rồi thì ăn hết xương và cả mắt cá nữa.
ăn sáng xong, họ được giao nhiệm vụ. Wladek trở thành anh chặt củi. Anh được dẫn đi bảy dặm đến một khu rừng hoang và được lệnh mỗi ngày phải chặt được một số cây nhất định. Tên lính gác bỏ anh lại đó với nhóm sáu người và suất ăn của họ gồm có một ít cháo kê vàng nhạt nhẽo và bánh mì. Bọn lính gác không sợ có tù nhân nào dám trốn, vì đến được thị trấn gần đó nhất cũng phải một nghìn dặm và dù có biết hướng đi cũng không đi nổi.
Đến cuối ngày tên lính gác sẽ quay lại đếm số củi đã chặt được. Anh ta cũng đã nói trước với tù nhân là nếu chặt không đủ số củi quy định thì anh ta sẽ giữ thức ăn lại đến hôm sau mới phát. Nhưng lúc anh ta quay lại thì đã bảy giờ tối, chỉ còn thu thập được cho đầy đủ tù nhân thôi, chứ không nhìn được xem họ đã chặt bao nhiêu củi. Wladek bày cho những người trong nhóm biết cách để một phần thời gian buổi chiều quét dọn tuyết trên đống củi đã chặt hôm trước và xếp vào cùng với củi chặt hôm sau. Cách đó của anh rất có hiệu quả, vì vậy nhóm của Wladek không ngày nào bị cắt suất ăn cả. Đôi khi họ cố gắng đem theo một ít củi về trại bằng cách buộc nó vào chân Ở trong quần, để đến đêm có thể cho vào lò mà sưởi.
Nhưng họ cũng phải rất cẩn thận vì mỗi lần ra vào đều bị khám xét kỹ lưỡng. Nếu chẳng may bị bắt mang theo gì trong người, họ có thể bị phạt ba ngày không được ăn.
 
Qua mấy tuần nữa, cái chân củạ Wladek bị cứng ra và rất đau. Anh mong cho có những ngày cực rét, vì khi nào thời tiết xuống tới 40 độ dưới không thì họ không phải đi làm Ở ngoài trại, mặc dầu ngày Ở nhà ấy sẽ phải thế bằng một ngày chủ nhật khác, mà chủ nhật thì họ thường được phép nằm nghỉ cả ngày trên giường
Một buổi tối trong khi Wladek đang vác củi, anh bỗng thấy chân mình đau nhức không thể chịu nổi. Nhìn xuống vết sẹo do tên Smolenski gây ra, anh thấy nó sưng vù lên và bóng đỏ. Đêm đó anh giơ vết thương cho tên lính gác xem. Hắn bảo anh đến sáng mai sớm phải báo cho bác sĩ của trại biết. Wladek ngồi suốt đêm áp chân vào gần lò. Chung quanh lò toàn những ủng ướt. Lửa trong lò quá yếu nên không
làm cho anh bớt đau tí nào.
Hôm sau Wladek dạy sớm hơn bình thường một giờ vì anh nghĩ nếu không gặp được bác sĩ trước giờ làm việc thì sẽ lại phải để đến hôm sau nữa. Nếu để qua một ngày nữa thì Wladek không thể chịu đau nổi.
Anh đến báo cáo với bác sĩ, ghi tên và số tù của anh. Pierre Dubien hóa ra là một ông già dễ tính. ông ta hói đầu, hơi gù lưng. Wladek nghĩ có lẽ ông ta còn già hơn cả Nam tước trước khi qua đời. Bác sĩ khám chân Wladek và không nói gì.
- Vết thương có việc gì không, thưa bác sĩ? - Wladek hỏi.
Anh nói tiếng Nga được à?
- Thưa được.
- Mặc dầu, anh sẽ bị thọt, nhưng chân anh rồi sẽ khỏi. Nhưng khỏi để làm gì? Để suốt đời đi chặt củi ư?
- Không, thưa bác sĩ, cháu có ý muốn trốn và trở về Ba-lan, Wladek nói.
Bác sĩ chằm chằm nhìn anh.
Nói khẽ chứ, ngốc Ở đâu... Đến bây giờ thì anh biết là không trốn được chứ. Chính tôi đã bị bắt Ở đây mười lăm năm nay rồi, và không một ngày nào là tôi không nghĩ đến trốn. Nhưng không có cách nào được. Chưa hề có ai trốn mà lại sống được, mà chỉ nói đến chuyện trốn không thôi cũng đã bị phạt giam mười ngày dưới xà-lim, mà Ở đó thì ba ngày người - ta mới cho anh ăn một lần, còn lò thì đốt chỉ đủ để tan giá Ở trên tường thôi. Qua được cái đoạn trừng phạt ấy mà anh còn sống là may lắm rồi đấy.
- Cháu sẽ trốn, nhất định trốn, - Wladek nhìn ông già nói.
Bác sĩ nhìn vào mắt Wladek và mỉm cười.
- Này anh bạn ơi, chớ có nhắc đến chuyện trốn nữa, kẻo họ có thể giết anh đấy. Anh trở về làm việc đi, cố giữ cho cái chân tiếp tục vận động, rồi mỗi sáng đến
đây cho tôi xem.
Wladek trở về rừng chặt củi, nhưng anh thấy bây giờ mình chỉ kéo được gỗ đi mấy bước thôi. Chân đau đến mức anh tưởng như nó sắp rụng ra. Sáng hôm sau trở lại chỗ bác sĩ, ông ta khám chân anh cẩn thận hơn.
- Chà, gay go đây, - bác sĩ nói. - Anh bao nhiêu tuổi rồi?
- CÓ lẽ cháu mười ba rồi, - Wladek nói. Năm nay là năm bao nhiêu ạ?
Một nghìn chín trăm mười chín, - bác sĩ đáp.
Vâng, mười ba. Còn ông bao nhiêu? - Wladek hỏi. ông ta nhìn xuống đôi mắt xanh của cậu thanh niên, hơi lấy làm ngạc nhiên về câu hỏi.
- Ba mươi tám, - ông khẽ nói. - ôi lạy Chúa, - Wladek nói.
- Nếu anh bị tù mười lăm năm thì cũng sẽ già như tôi thôi, - bác sĩ nói với một giọng bình thản.
Nhưng tại sao ông lại Ở đây chứ? - Wladek nói. Tại sao đã bao nhiêu lâu thế mà họ không để cho ông đi?
Tôi bị bắt Ở Moscow năm 1904, ngay sau khi, tôi có danh nghĩa bác sĩ. Tôi làm việc cho sứ quán Pháp Ở đó HỌ bảo tôi là gián điệp, nên bỏ tôi vào tù Ở Moscow. Tôi nghĩ cho đến sau cách mạng cũng vậy.
HỌ tống tôi vào cái địa ngục này đây. Ngay cả đến những người Pháp cũng quên rằng tôi còn sống. Cả thế giới chả ai tin được là có một chỗ như thế này. Ở cái Trại Hai-Không-Một này chưa từng có ai Ở cho đến hết hạn được, vì vậy tôi sẽ chết Ở đây như một người khác mà thôi. CÓ điều chưa chết ngay được đâu.
- Không, ông không nên mất hy vọng, Bác sĩ ạ.
- Hy vọng ? Tôi đã mất hết hy vọng từ lâu rồi. CÓ lẽ anh thì không, nhưng anh nên nhớ là đừng có nhắc đến hy vọng ấy với bất cứ ai. Ở đây có những tù nhân họ chỉ nghe nói thế là đi báo cáo ngay, để nhận về một phần thưởng hoặc đó là thêm một miếng bánh hoặc một chiếc khăn mà thôi. Bây giờ thế này nhé. Wladek, tôi sẽ cho anh làm việc phụ bếp trong một tháng, và suốt thời gian đó sáng nào anh cũng phải
đến báo cáo. ĐÓ là cơ hội duy nhất để anh khỏi mất cái chân kia, mà tôi có cưa chân của anh đi thì cũng chẳng sung sướng gì. Ở đây chúng tôi không có những dụng cụ giải phẫu tốt lắm đâu, - ông vừa nói vừa nhìn
lên một con dao to.
Wladek rùng mình sợ hãi.
Bác sĩ Dubien viết tên Wladek lên một mẩu giấy. Sáng hôm sau Wladek xuống trình diện dưới nhà bếp.
Anh được giao việc rửa bát đĩa trong nước lạnh cóng và chuẩn bị thức ăn không cần phải ướp lạnh. Sau một thời gian phải chặt củi suốt ngày, anh thấy đây là một sự thay đổi đáng mừng. Được ăn thêm súp cá, thêm bánh mì đen, và nhất là được Ở trong nhà ấm áp. CÓ hôm anh được nhà bếp chia cho một nửa quả trứng mà không ai biết rằng đó là trứng con gì. Chân anh đã dần dần khỏi, tuy phải hơi chịu thọt một chút. Bác sĩ Dubien không thể có được thứ thuốc gì tử tế mà chữa cho anh, chỉ biết theo dõi từng ngày vậy thôi.
Ngày giờ trôi qua, bác sĩ trở thành người bạn của Wladek, thậm chí còn tin Ở hy vọng của tuổi trẻ đối với tương lai. Mỗi sáng hai người thường nói chuyện với nhau bằng các thứ ngôn ngữ, nhưng người bạn mới kia thích nhất là được nói tiếng Pháp vì đó là tiếng mẹ đẻ.
- Trong bảy ngày nữa, Wladek, anh sẽ phải trở lại với nhiệm vụ Ở trong rừng. Bọn lính gác sẽ khám phá cái chân của anh, và tôi sẽ không thể giữ anh Ở lại trong bếp nữa. Vậy anh nghe kỹ tôi nói đây nhé, vì tôi đã có một kế hoạch cho anh trốn đi.
Cùng trốn, bác sĩ. - Wladek. - Chúng ta cùng trốn.
- Không, chỉ mình anh thôi. Tôi nhiều tuổi rồi, không đi được xa như thế, mặc dầu hơn mười lăm năm nay lúc nào tôi cũng mơ đến chuyện trốn. Tôi sẽ chỉ làm vướng chân anh thôi. Biết có ai trốn đi được là tôi đủ hài lòng rồi, và anh là con người đầu tiên tôi gặp khiến tôi tin rằng anh có thể thành công được.
Wladek yên lặng ngồi trên sàn nghe bác sĩ nói kế hoạch của ông.
- Trong mười lăm năm qua, tôi đã dành dụm được hai trăm rúp. Đây là tiền làm "ngoàì giờ" nhưng không phải như một tù nhân Nga đâu. - Wladek nhăn nhó cười. - Tôi giấu tiền trong một chai thuốc. CÓ bốn tờ mỗi tờ năm mươi rúp. Khi nào anh đi thì phải
khâu tiền đó vào trong áo. Tôi sẽ làm việc đó cho anh.
- áo nào? - Wladek hỏi.
Tôi có một bộ quần áo và một sơ mi trước đây mười hai năm đã mua lại được của một tên lính gác, và hồi đó tôi còn tin Ở chuyện trốn được. BỘ quần áo không mới lắm, nhưng có thể phục vụ cho mục đích của anh được.
Mười lăm năm dành dụm được hai trăm rúp, một chiếc sơ mi và một bộ quần áo, thế mà bác sĩ sẵn sàng chỉ trong chốc lát hy sinh tất cả những cái đó cho wladek. Suốt đời mình, Wladek sẽ chẳng còn bao giờ được thấy một hành động quên mình như thế nữa.
- Thử năm tới sẽ là cơ hội duy nhất của anh, - bác sĩ nói tiếp. - Tù nhân mới sẽ đến Irkutsk bằng xe lửa. Bọn ìính gác bao giờ cũng lấy bốn người của nhà bếp để tổ chức những chuyến xe thức ăn cho bọn người mới đến.
Tôi đã thu xếp với "bếp trưởng" - ông ta buồn cười với cái từ đó để anh được lên xe thức ăn. Tôi đem một ít thuốc đánh đổi cho anh ta đấy. Không khó khăn gì lắm đâu. Thực ra không ai muốn đi một chuyến đến tận đó rồi lại quay về đây, nhưng anh thì
chỉ đi một lượt ra đến đó thôi. Wladek vẫn nghe rất kỹ.
- Ra .đến ga, anh hãy chờ cho đến khi nào tàu chở tù nhân vào ga. Một khi họ đã xuống sân ga cả rồi thì anh chạy qua đường sắt rồi nhảy lên chuyến tàu sẽ đi Moscow, mà chỉ sau khi tàu chở tù nhân đến rồi thì tàu đó mới khởi hành được vì bên ngoài ga chỉ có một đường tàu thôi. Anh phải mong làm sao cho đến lúc có hàng trăm tù nhân mới chạy đi chạy lại như thế thì bọn gác mới không để ý đến chuyện anh biến mất được. Từ lúc đó trở đi là tuỳ anh định liệu. Nên nhớ rằng nếu chúng trông thấy anh là chúng bắn liền chứ không cần hỏi han gì hết. Tôi chỉ có thể giúp anh được một điều này nữa. Mười lăm năm từ khi tôi bị đưa đến đây, tôi đã vẽ trong đầu óc một bản đồ con đường đi từ Moscow đến Thổ nhĩ kỳ. CÓ lẽ đến bây giờ nó
không còn chính xác nữa nhưng có thể đáp ứng cho mục đích của anh được. Anh phải tìm hiểu cho chắc chắn xem người Nga họ đã chiếm đóng Thổ-nhĩ-kỳ chưa. CÓ Trời mà biết được cho đến nay họ đã làm những gì. Theo tôi biết thì có thể họ cũng đã kiểm soát được cả nước Pháp nữa.
Bác sĩ bước vào phòng thuốc và lấy ra một cái chai lớn trông như đựng một chất gì đó màu nâu. ông mở nút và lấy ra một tấm da khô đã cũ. Nét mực đen qua năm tháng đã bị nhạt màu, mang chữ "Tháng mười 1904". Trên mảnh da vẽ con đường từ Moscow đến Odessa và từ Odessa đi Thổ nhĩ kỳ, tất cả 1.500 dặm đường đi đến tự do.
Trong tuần này, mỗi sáng anh cứ phải đến đây và chúng ta sẽ lại bàn thêm về kế hoạch này. Nếu như không thành công thì đó không phải là do thiếu chuẩn bị.
Mỗi đêm, Wladek thức giấc nhìn ra ánh sáng mờ mờ ngoài cửa sổ, thử nghĩ trước những tình huống bất ngờ xem mình sẽ đối phô như thế nào. Đến sáng, anh lại đem bàn thêm với bác sĩ. Vào tối thứ tư trước ngày WTladek định trốn, bác sĩ gấp mảnh bản đồ đó làm tám, cùng để với bốn tờ bạc 50 rúp vào một gói nhỏ và ghim nó vào bên trong tay áo của bộ đồ. Wladek cởi bỏ quần áo cũ, mặc chiếc sơ mi vào người rồi lại mặc quần áo tù ra ngoài. Lúc anh mặc lại thì cặp mắt của bác sĩ bỗng trông thấy chiếc vòng bạc của Nam tước
Từ khi mặc áo tù, anh vẫn luôn luôn đeo nó lên trên khuỷu tay vì sợ bọn lính gác trông thấy sẽ cướp mất của quý duy nhất còn lại đó của anh.
Cái gì thế? - bác sĩ hỏi. - Trông rất đẹp đấy
- Đây là quà tặng của cha tôi, - Wladek nói. Tôi có thể tặng lại ông để tỏ lòng cảm tạ của tôi được không? Anh trút chiếc vòng xuống cổ tay và đưa cho bác sĩ.
Bác sĩ nhìn chiếc vòng bạc một lúc lâu rồi cúi đầu nói:
Không nên. Thứ này chỉ có thể thuộc về một người thôi. - ông im lặng nhìn anh. - Hẳn cha anh là một người cao quý lắm.
Bác sĩ đeo trả lại chiếc vòng bạc vào cổ tay Wladek, rồi bắt tay anh nồng nhiệt.
- Chúc anh may mắn, Wladek. CÓ lẽ chúng ta không bao giờ còn gặp nhau nữa.
HỌ ôm chầm lấy nhau và bước ra ngoài. Anh cầu cho đây là đêm cuối cùng của mình Ở trong lều trại giam. Anh không sao ngủ được suốt đêm đó, chỉ sợ một trong những tên lính gác phát hiện ra bộ quần áo dưới áo tù Tiếng chuông buổi sáng vừa vang lên, anh đã mặc xong quần áo và xuống bếp sớm. Tù nhân bếp trưởng đẩy Wladek đi lên trước khi bọn lính gác đến kiểm soát xe thức ăn. TỔ phục vụ chọn ra có bốn
người tất cả. Wladek là trẻ nhất trong đám.
Tại sao lại thằng này? - một tên gác chỉ tay vào Wladek hỏi:
Wladek như chết đứng và khắp người lạnh run. Kế hoạch của bác sĩ thế là hỏng, và phải ba tháng nữa mới lại có một đợt tù nhân nữa đến trại. Đến lúc đó thì anh sẽ không còn Ở bếp nữa.
NÓ nấu bếp rất giỏi, - tù nhân bếp trưởng nói. - NÓ được rèn luyện trong lâu đài của một Nam tước đấy Chỉ có nó mới nấu ăn được ngon lành cho lính gác thôi.
À thế đấy, - tên lính gác nói, nghi ngờ không bằng tham ăn. Vậy thì nhanh lên.
 Cả bốn người chạy ra xe, rồi đoàn xe lên đường. Cuộc hành trình lại một lần nữa chậm chạp, vất vả, nhưng lần này ít nhất Anh không phải đi bộ và cũng Cả bốn người chạy ra xe, rồi đoàn xe lên đường. Cuộc hành trình lại một lần nữa chậm chạp, vất vả, nhưng lần này ít nhất anh không phải đi bộ và cũng không lạnh chết người vì bây giờ đang là mùa hè. Wladek làm việc cật lực đề chuẩn bị thức ăn. Anh không muốn để ai chú ý đến mình. Suốt dọc đường anh chỉ nói vài câu với bếp trưởng là Atanislaw. Cuối cùng, sau khi họ đã đến được Irkutsk tính ra hết gần mười sáu ngày. Chuyến tàu chờ đi Moscow đã nằm sẵn Ở ga. NÓ đã đến đây mấy tiếng đồng hồ rồi nhưng không thể bắt đầu cuộc hành tnnh quay trở về Moscow chừng nào chuyến tàu chở tù nhân mới chưa đến được. Wladek cùng với mấy người làm bếp ngồi chờ Ở sân ga bên này, ba người không quan tâm đến gì khác chung quanh, còn một người chú ý theo dõi đoàn tàu Ở bên kia sân ga. CÓ nhiều cửa lên tàu, nhưng Wladek đã ngắm trước một cửa để đến lúc là anh sẽ nhảy lên đó.
Anh có định trốn không? Atanislaw chợt hỏi.
Wladek toát mồ hôi nhưng không trả lời.
- Đúng là anh định trốn rồi - Atanisla chăm chăm nhìn anh.
Wladek vẫn không nói gì.
ông bếp già vẫn nhìn anh thanh niên mười ba tuổi, rồi ông ta gật đầu ra vẻ tán thành. Giá như anh có cái đuôi thì nó đã vẫy ngay rồi.
-Chúc anh may mắn. Tôi sẽ cố làm cho họ không để ý đến chuyện anh vắng mặt, được chừng nào hay chừng đó .
Atanislaw nắm lấy tay anh. Wladek nhìn thấy đòàn tàu chở tù nhân Ở ngoài xa đang từ tử tiến đến chỗ họ ngồi. Anh cảm thấy căng thẳng, tim dồn dập, mắt theo dõi cử chỉ của từng tên lính. Anh chờ cho đến khi đoàn tàu kia dừng hẳn, nhìn theo đám tù
nhân trên tàu đổ xuống sân ga. HỌ có hàng trăm người, dáng mệt mỏi, không tên không tuổi. Trong lúc sân ga .đang bề bộn một đống người và bọn lính gác bận rộn, Wladek chui xuống dưới gầm đoàn tàu chở tù nhân rồi nhẩy lên đoàn tàu sẽ đi Moscow. Không một ai trên tàu để ý đến anh lúc đó vào phòng vệ sinh Ở cuối toa. Anh cài cửa lại rồi đứng bên trong chờ, bụng lâm râm cầu nguyện, chỉ sợ có ai gõ cửa. Wladek cứ đứng như thế không biết bao nhiêu lâu rồi mới thấy đoàn tàu bắt đầu lăn bánh ra khỏi ga. Thực ra, chỉ có mười bảy phút.
- Thế là xong, thế là xong, - anh thốt lên. Anh nhìn qua khung cửa sồ con của buồng vệ sinh, thấy nhà ga nhỏ dần và xa dần, đám tù nhân mới đã bị xích tay vào nhau sắp sửa lên đường về Trại 201, và bọn lính gác thì vừa cười vừa xích họ lại. Không biết sẽ có bao nhiêu người sống sót khi về đến trại? Bao nhiêu người sẽ làm mồi cho chó sói? Bao lâu nữa thì họ biết là thấy thiếu anh?
Wladek ngồi trong buồng vệ sinh thêm mấy phút nữa, không dám động đậy và không biết bây giờ mình phải làm gì. Bỗng có tiếng đập cửa. Wladek nghĩ ngay, không biết đó là tên ìính gác hay người soát vé? Bao nhiêu hình ảnh diễn ra trong óc anh, mỗi hình ảnh một ghê sợ hơn. Anh thấy cần phải sử dụng buồng vệ sinh một lần xem sao. Tiếng đập cửa vẫn tiếp tục.
- Nhanh lên, nhanh lên, - một giọng Nga ồm ồm lên tiếng.
Wladek không chần chừ được nữa. Nếu là một tên lính thì anh sẽ không có lối thoát. Cửa sổ nhỏ thì đến một chú bé tí hon cũng không chui lọt qua được.
Nhưng nếu không phải là một tên lính thì việc anh Ở lâu trong này chỉ càng khiến người ta chú ý. Anh cởi bỏ bộ áo tù, cuộn nó lại thành một túm nhỏ rồi vứt ra ngoài cửa sổ. Sau đó lấy ra một chiếc mũ mềm để sẵn trong túi bộ đồ đội lên đầu bị cạo trọc và mở cửa bước ra. Một người đàn ông sốt ruột đẩy cửa bước vào Wladek chưa ra khỏi thì thấy ông ta đã tụt quần ngồi xuống.
Ra đến hành lang rồi, Wladek thấy mình bơ vơ ghê gớm, lại thêm khiếp sợ đối với bộ đồ lạc hậu mình đang mặc trên người, khác nào như một quả táo nằm giữa đống cam. Anh lập tức lại đi tìm ngay một chỗ nào khác có buồng vệ sinh. Tìm được một chỗ không có người, anh chui tọt ngay vào đó, khóa cửa lại, rồi tháo gỡ mấy tờ bạc 50 rúp giấu Ở trong tay áo ra. Anh giấu trở lại ba tờ, rồi quay ra hành lang. Anh tìm đến một toa nào đông người nhất rồi rúc vào ngồi trong một góc toa. Mấy người ngồi giữa toa đang đánh súc sắc ăn vài rúp Wladek đã quen chơi trò này với Leon Ở lâu đài và lần nào cũng được, nên anh rất muốn nhập vào đám người kia nhưng lại sợ đánh được thì họ chú ý đến mình ngay. HỌ vẫn ngồi đánh rất lâu, và Wladek dần dần nhớ lại những thủ thuật của mình. Anh chợt thấy thèm đem 200 rúp của mình ra mà sử dụng lúc này.
Một tay chơi bị thua khá nhiều bỗng rút ra và ngồi xuống bên cạnh Wladek, miệng chửi thề.
- SỐ ông không may rồi, - Wladek lên tiếng. Anh cũng muốn nói lên xem giọng mình thế nào.
- A, đúng là không may, - tay kia nói. - Ngày nào tớ cũng đánh được với bọn nông dân ấy, nhưng tớ cạn mất tiền rồi.
- ông có muốn bán cái áo của ông không? - Wladek hỏi.
Tay chơi này là một trong số ít hành khách trên toa khoác chiếc áo lông cừu dầy đẹp và ấm như vậy.
ông ta nhìn cậu thanh niên.
- Cậu không mua nổi đâu. - Wladek nghe giọng nói của ông ta thì biết là mình sẽ có thể mua được. - TỚ sẽ đòi bảy mươi lăm rúp.
Tôi trả ông bốn chục, - Wladek nói.
- Sáu chục, - tay chơi kia nói.
Năm chục, - Wladek nói.
- Không. Sáu chục là ít nhất thì tớ mới bán được. Chiếc áo này giá hơn một trăm rúp kia đấy, - tay chơi nói.
áo cũ rồi, - Wladek nói và nghĩ bụng sẽ lấy tiền trong tay áo ra cho đủ, nhưng rồi anh lại thôi vì sợ làm người ta chú ý đến mình. Anh đành chờ một dịp khác vậy. Wladek không muốn tỏ ra mình có thể mua được chiếc áo. Anh sờ tay vào cái cổ và nói với một giọng khinh khỉnh? - ông bạn ơi, đắt quá đấy. Thôi, năm chục rúp, không thêm một xu nào nữa. - Wladek đứng dậy làm như sắp bỏ đi chỗ khác.
Khoan, khoan, - tay chơi kia nói. - TỚ để cho cậu năm chục rúp vậy.
Wladek móc túi lấy ra tờ bạc năm mươi rúp và tay chơi kia cũng cởi tấm áo đổi lấy tờ bạc đỏ đã cũ. Chiếc áo đối với Wladek quá rộng và dài gần chấm đất, nhưng chính anh đang cần như thế để che bộ đồ bên trong hơi lộ liễu. Anh nhìn tay chơi trở lại chỗ đánh bạc và thấy ông ta lại thua nữa. Từ ông thày mới trước đây, anh đã học được hai điều, đó là: chớ bao giờ đánh bạc trừ phi anh có thủ thuật giỏi và chắc ăn, và khi đã mặc cả đến mức nhất định nào đó thì nên bỏ đi là vừa.
Wladek bỏ sang ngồi toa khác, trong bụng cảm thấy yên tâm hơn với chiếc áo mới mua được. Anh bắt đầu nhìn ngắm toa tàu đề tìm hiểu. Hình như các toa chia làm hai hạng, hạng phổ thông trong đó hành khách chỉ có đứng hoặc ngồi trên những dẫy ghế gỗ, và hạng đặc biệt trong đó anh rất lạ thấy chỉ có một người đàn bà ngồi mà thôi. Bà ta cỡ trung niên và ăn mặc có vẻ sang trọng hơn mọi hành khách khác trên tàu Bà ta mặc chiếc áo xanh thẫm và quàng một tấm khăn trên đầu. Wladek nhìn bà ta ngập ngừng. Bà ta mỉm cười, khiến anh yên tâm bước vào trong toa.
Tôi ngồi được không?
- Xin mời, - người đàn bà nhìn anh nói.
Wladek không nói gì nữa. Anh đề ý nhìn người đàn bà và những đồ đạc chung quanh. Bà ta có nước da nhợt và hơi nhăn nheo, to béo quá khổ, có lẽ vì ăn nhiều. MỚ tóc ngắn và đen, mắt nâu, có thể như đã từng một thời hấp dẫn. Bà có hai chiếc túi to bằng vải để Ở giá trên đầu với một chiếc va-li con để bên cạnh.
Mặc dầu đang trong hoàn cảnh nguy hiểm như vậy, nhưng Wladek thấy mình đã mệt quá không chịu nổi nữa. Anh đang nghĩ không biết mình có dám ngủ đi Ở đây không, thì nguời đàn bà lên tiếng.
Anh đi đâu?
Câu hỏi bất chợt làm Wladek giật mình.
Moscow, - anh nói và nín thở.
- Tôi cũng đi Moscow, - bà ta nói.
Wladek bắt đầu cảm thấy toa xe nảy vắng vẻ quá và lấy làm chột dạ về điều mình vừa nói ra, dù chỉ là một câu. Anh nhớ là bác sĩ đã dặn: "Chớ nói chuyện với ai. Nhớ đấy đừng có tin ai hết.
Nhưng Wladek cũng yên tâm thấy bà ta không hỏi gì thêm nữa. Anh vừa cảm thấy thế thì người soát vé đến. Wladek bắt đầu toát mồ hôi, mặc dầu lúc đó thời tiết là hai mươi độ âm. Người soát vé cầm lấy tấm vé của người đàn bà, xé một đoạn rồi trả lại cho bà ta và quay sang Wladek.
- Vé, anh bạn, - ông ta nói gọn lỏn, bằng một giọng trầm buồn.
Wladek không biết nói gì, chỉ sờ vào túi áo để tìm ít tiền.
- NÓ là con tôi, - người đàn bà nói ngay.
Người soát vé quay lại nhìn bà ta, rồi lại nhìn Wladek, cúi đầu chào bà ta rồi bỏ đi không nói câu gì.
Wladek ngước nhìn bà ta.
Cảm ơn bà - anh khẽ nói, và không biết làm gì hơn nữa.
- Tôi đã trông thấy anh chui dưới gầm đoàn xe tù,- người đàn bà bình thản nói. Wladek cảm thấy rụng rời, - Nhưng tôi không tố cáo anh đâu. Tôi cũng có một người anh em họ Ở trong cái trại khủng khiếp ấy, và tất cả chúng tôi ai cũng biết về những trại ấy đều sợ rằng sẽ có một ngày mình phải vào đấy. Anh mặc đồ gì dưới chiếc áo này? 
Wladek định bụng chạy ra ngoài cởi chiếc áo lông, nhưng nếu chạy ra ngoài kia thì trên tàu không còn chỗ nào khác mà trốn được. Anh đành chỉ cời khuy ngoài.
- Thế này cũng không có gì đáng ngại lắm đâu, - bà ta nói.
- Vậy còn bộ áo tù anh để đâu?
- Tôi vứt ra ngoài cửa sổ.
- Mong rằng họ không tìm thấy nó trước khi anh đến Moscow.
- Anh có chỗ nào Ở Moscow không?
Anh lại nghĩ đến lời dặn eủa bác sĩ là đừng có tin ai, nhưng anh nghĩ tin bà này thôi.
Tôi không có chỗ nào cả.
Vậy anh có thể Ở với tôi đến khi nào anh tìm được một chỗ khác. Chồng tôi là trưởng ga Ở Moscow, và toa xe này chỉ giành cho những quan chức chính phủ thôi - bà ta giải thích. - Nếu anh lại nhầm một lần như thế nữa thì họ cho anh ngồi xe trở về Irkutsk ngay.
Bây giờ tôi có nên đi không? - Wladek hồi hộp.
Không, vì người soát vé đã trông thấy anh rồi. Lúc này anh Ở đây với tôi thì được yên. Anh có giấy tờ gì không?
- Không. Giấy tờ như thế nào?
Từ sau cách mạng, mỗi người công dân Nga đều phải có giấy chứng minh để người ta biết mình là ai, Ở đâu làm gì, nếu không sẽ phải ngồi tù cho đến khi có được những giấy tờ ấy. Nếu không có được thì sẽ ngồi tù mãi, - bà ta thủng thẳng nói. - Vậy đến Moscow, anh phải đi sát bên tôi, và nhớ là đừng có mở miệng.
- Bà đối với tôi tốt quá, - Wladek nói với vẻ ngờ vực
- Bây giờ Nga hoàng đã chết rồi, trong chúng ta đây chẳng có ai yên thân được đâu. Tôi may mắn mà lấy được một người có thế, - bà ta nói tiếp. - Còn không có người công dân nào Ở nước Nga này, kể cả các quan chức chính phủ, mà lại không sống trong nỗi lo sợ là có thể bị bắt và đưa vào trại giam. Tên anh là gì?
- Wladek.
- Tốt. Bây giờ anh ngủ đi, Wladek, vì trông anh mệt mỏi lắm. Đường thì còn rất xa, mà anh thì cũng chưa an toàn được đâu.
Wladek ngủ ngay.
 
Lúc anh tỉnh dậy thì mấy tiếng đồng hồ đã trôi qua nhưng trời bên ngoài đã tối. Anh nhìn người đàn bà đã che chở cho mình, bà ta mỉm cười nhìn lại.
Wladek thầm mong có thể tin được bà ta, đừng có nói với các quan chức rằng anh là ai. Hay là bà ta đã nói rồi? Bà ta lấy ra ít. thức ăn trong gói đưa cho Wladek. Anh yên lặng ăn. Tàu dến ga sau, hầu hết hành khách bước xuống. Một số xuống hẳn, một số chỉ đề ruỗi chân ruỗi tay, nhưng phần lớn là tìm xem có gì uống được không.
Người đàn bà trung niên đứng dậy nhìn Wladek nói:
- Đi theo tôi.
Anh đứng dậy theo bà ta xuống sân ga. Bà ta đem anh nộp lại chăng? Nhưng không, bà ta giơ tay ra và anh cầm lấy tay bà như bất cứ đứa trẻ mười ba tuổi nào đi theo mẹ vậy. Bà đi đến một nhà vệ sinh có chữ để dành cho phụ nữ. Wladek ngập ngừng đứng lại. Bà cứ bảo anh vào. Vào đến bên trong rồi, bà bảo Wladek cời bỏ quần áo ra. Anh ngoan ngoãn nghe theo. Từ sau khi Nam tước qua đời, anh chưa nghe theo ai như vậy. Trong khi anh cởi quần áo, bà mở vòi nước gần đó Một làn nước vừa lạnh vừa đục chầm chậm chảy ra. Bà thấy kinh tởm, nhưng với Wladek thì nước này còn khá hơn nhiều so với nước trong trại giam. Người đàn bà bắt đầu lấy mảnh giẻ ướt lau những vết xây xát trên người anh. Bà nhăn mặt khi trông thấy vết thương xù xì Ở chân. Wladek đau nhưng không xuýt xoa tí nào, và bà lau rất nhẹ.
- Về đến nhà, tôi sẽ chữa chạy cho anh tử tế, - bà nói. - Còn Ở đây hãy tạm thế này đã.
Bà trông thấy chiếc vòng bạc Ở tay anh. Bà đọc những chữ trên đó rồi nhìn kỹ Wladek, và hỏi:
- Cái này có phải của anh không? Anh lấy nó của ai thế ?
Wladek hơi giận.
- Tôi không lấy của ai. BỐ tôi cho tôi trước khi ông chết.
Bà ta lại chăm chăm nhìn anh, nhưng cái nhìn lần này khác. Không biết đó là sợ hay tôn kính? Bà ta cúi đầu nói :
- Anh phải cẩn thận đấy, Wladek. Người ta có thể giết anh vì cái của quý này đấy.
 
Sau khi đã hoàn thành chuyến đi một ngàn dặm đến Moscow, Wladek coi như đã tin hẳn Ở người đàn bà và mong chóng được trông thấy ngôi nhà của bà ta.
Tàu đến ga vào đầu buổi chiều. Mặc dầu đã trải qua một đoạn đường dài như thế. Wladek vẫn thấy khiếp sợ không hiều rồi tình hình sẽ ra sao. Anh chưa được thấy một thành phố lớn nào bao giờ, nói gì đến thủ đô của toàn nước Nga. Anh cũng chưa được thấy nhiều người như thế bao giờ, và ai cũng đi lại vội vã Người đàn bà hiểu được tâm trạng anh lúc này.
Đi theo tôi, đừng nói gì và đừng có bỏ mũ ra.
Wladek lấy hai cái túi của bà Ở trên giá xuống, kéo chặt cái mũ lên đầu lúc này đã lởm chởm ít tóc đen, rồi bước theo bà xuống sân ga. Một đống người đang nối nhau Ở trước thang chắn để chờ ra khỏi một cánh cửa rất nhỏ.
HỌ ùn lại vì mỗi người phải xuất trình giấy tờ cho lính gác. Bước đến gần cái thang chắn ấy, Wladek thấy tim mình đập thình thình như trống trận.
Nhưng đến lượt họ thì nỗi sợ lại tan bỉến đi rất nhanh. Người lính gác chỉ liếc nhìn vào giấy tờ của người đàn bà.
- Đồng chí, - anh ta nói và giơ tay chào. Rồi nhìn Wladek.
Con tôi, - bà nói.
À vâng, mời đồng chí. - Anh ta lại chào.
Thế là Wladek đã Ở Moscow.
Mặc dầu đã đặt hết lòng tin vào người đồng hành mới này, linh tính đầu tiên của Wladek là muốn bỏ chạy. Nhưag với 150 rúp thì không thể sống được nên anh quyết định hãy chờ đã, để khi nào có dịp sẽ chạy.
Một chiếc xe ngựa đã chờ sẵn Ở ngoài ga để đưa người đàn bà với đứa con mới của bà ta về nhà. ông trưởng ga không có đấy, nên bà đã tranh thủ xếp ngay một cái giường cho Wladek nằm. Rồi bà đun nước đổ vào một chiếc thùng kẽm lớn và bảo anh ngồi vào đó. Đây là lần tắm đầu tiên của anh sau hơn bốn năm, trừ lần hụp xuống sông trước đây. Bà lại đun thêm nước nóng nữa và bảo anh tắm với xà phòng. Bà cọ lưng cho anh.
Nước tắm dần dần đục ngầu. Wladek lau khô người rồi, bà bôi thuốc lên chân tay cho anh và băng bó vào những chỗ bị nặng. Bà nhìn vào bộ ngực chỉ có một bên vú và lấy làm lạ. Anh mặc vội quần áo và theo
bà vào bếp. Bà đã chuẩn bị một bát súp nóng với đậu. Wladek háo hức ăn như ăn tiệc. Hai người không ai nói gì. Anh ăn xong rồi, bà khuyên anh tốt nhất là lên giường ngủ một giấc. .
- Tôi không muốn cho ông nhà.tôi trông thấy anh trước khi tôi cho ông ấy biết tại sao anh Ở đây - bà giải thích. - Anh có muốn Ở đây với chúng tôi không, Wladek, nếu chồng tôi đồng ý?
Wladek gật đầu cảm ơn.
- vậy anh đi ngủ ngay đi, - bà nói.
 
 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top