Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 736 khách và no member đang online

Google Search

    

Share

Na Lan "trộm" ca-nô phóng về bờ hồ phía Giang Kinh, cố ý "phơi" ca-nô ở chỗ rất dễ thấy. Rồi mai phục trong bóng tối để xem xem ai sẽ đến nhận ca-nô.

 

Lúc chạy ca-nô, cô phát hiện ra chiếc máy bộ đàm nhưng không dám bật, vì sợ lộ mình. Cô đoán rằng dù chủ ca-nô là ai, chắc chắn đã nhận được cuộc gọi di động của ba gã thộn đang kẹt trên đảo, và sẽ chú ý đứng bên hồ để theo dõi. May sao hồ Chiêu Dương không hề nhỏ với chu vi hơn chục cây số, cho nên cô không lo khi mình lên bờ sẽ bị tóm luôn.

 

Nhưng cũng không ngờ có người đến nhận ca-nô nhanh như vậy. Cách giải thích duy nhất là hệ thống định vị vệ tinh trên ca-nô đã phát tín hiệu cầu cứu chủ nhân.

 

Chiếc xe tải nổ máy, Na Lan ra khỏi gốc cây đang ẩn nấp rồi chạy lên mấy bước, lom khom nhìn biển số xe gắn máy phía sau, thấy rất rõ: "Jiang-4280". Đây là một đầu mối rất trực tiếp. Khuya khoắt, lại ở nơi vắng vẻ, không rõ mình có thể bắt tắc-xi để bám theo chiếc xe tải hay không, nhưng đã có biển số xe này rồi, lát nữa sẽ tìm cách gọi điệm báo với Ba Du Sinh.

 

Cô chạy theo xe tải một quãng, nó rẽ lên đường nhựa bằng phẳng rồi bắt đầu tăng tốc. Bóng chiếc xe chạy xa dần, cô sốt ruột nhìn khắp xung quanh xem có thể gặp vận may hay không.

 

Chắc là cô được bù đắp sau một đêm chạy trốn gian khổ, nên một chiếc tắc-xi hòm màu trắng đỗ ngay bên cạnh cô, nó không e ngại gì người đẹp đang lem luốc bơ phờ này. Na Lan không nghĩ nhiều, mở cửa xe bước lên, nói với lái xe: "Anh giúp tôi đuổi theo chiếc xe tải đang kéo chiếc ca-nô kia, nó sắp mất hút đến nơi!"

 

Lái xe chỉ im lặng rồ máy phóng đi.

 

Na Lan cảm thấy như bỗng rơi xuống sông băng.

 

Có tiếng động từ hàng ghế phía sau, cô ngoảnh lại thì thấy hai bóng đen! Dại quá, sao mình lại tin vào vận may?

 

"Các người là ai? Đưa tôi đi đâu? " Na Lan cố trấn tĩnh. Ít ra bọn họ cũng chưa tấn công cô ngay, nếu không chẳng phải chờ lâu làm gì.

 

Một gã đáp: "Cô Na Lan đừng căng thẳng. Người ta đem ca-nô đến mời, cô không bận tâm. Chúng tôi chỉ đi chiếc xe cà tàng đến thì cô lên luôn, khiến chúng tôi hơi khó làm việc, sư phụ sẽ rất không vui. Và, nếu muốn hại cô, thì chúng tôi đâu cần trao đổi với cô làm gì cho mệt? Chúng tôi không trói không bịt mắt cô, thì cô cần gì lo lắng? ".

 

Xem ra, những người này không cùng bọn với những kẻ chạy ca-nô đuổi bắt cô, và bọn lái chiếc xe tải kia.

 

Lạ thật, mình tài cán gì mà lại được "trọng thị" thế này? "Sư phụ" là ai? Na Lan thấy chóng mặt ù tai.

 

Họ vừa nói đã rất rõ ràng, mình hỏi thêm nữa cũng vô ích, cứ ngậm miệng chi xong.

 

Nhưng cô không dễ chấp nhận lùi bước: "Các anh không muốn biết kẻ đi ca-nô đuổi tôi là ai à? ".

 

"Chúng tôi đâu cần biết những ân oán cá nhân của cô!" Người ngồi phía sau cười nhạt. "Tôi hiểu ý cô, thực ra chúng tôi cũng rất tò mò về những kẻ truy bắt cô, đâm xe vào hai người. Chúng tôi đang điều tra nhưng không chắc sẽ có kết quả. Ví dụ, chiếc xe tải kia 90% khả năng là đeo biển số giả, chiếc ca-nô thì ngay biển số cũng không có. Chiếc xe tải kia sẽ chạy đi đâu? Chúng tôi chán sống rồi thì mới chạy theo nó. Tại sao? Vì, nếu bọn họ đủ trình độ chuyên nghiệp thì sẽ không chỉ đưa một xe tải đến, chắc chắn họ phải có lực lượng hộ vệ." Anh ta gõ gõ vào cửa kính xe, Na Lan nhìn qua cửa kính, trong màn đêm vẫn thấy vài chiếc xe chạy ngược chạy xuôi. "Bất cứ chiếc xe nào ngoài kia cũng có thể là xe hộ vệ cho chiếc xe tải."

 

"Rất kính nể các anh. Bọn họ mất cả đêm mà không "mời" được tôi, nhưng các anh lại "vồ" được quá dễ dàng[1]!"

 

[1] Nguyên văn: chim sẻ rình phía sau. Ý của một câu thành ngữ "Bọ ngựa rình ve sầu, chim sẻ rình phía sa" (để mổ bọ ngựa).

 

"Mỗi người đều có cách nghĩ khác nhau. Nếu cô hiểu sư phụ chúng tôi hơn nữa, sẽ thấy sư phụ không bao giờ hấp tấp, luôn hành động rất chín chắn. Chính sư phụ cho chúng tôi biết, với tính cách của cô, cô sẽ không nhanh chân bỏ chạy mà cô sẽ tìm cách điều tra rõ về hung thủ, cô sẽ chờ chủ ca-nô xuất hiện. Cho nên bọn tôi mới có thu hoạch này." Người ấy không giấu vẻ đắc ý.

 

Na Lan băn khoăn, vì chưa biết ở Giang Kinh này mình lại có một "tri âm" kỳ cựu bí hiểm.

 

Trời tối đen nên Na Lan không thể nhận ra xe chạy qua những chỗ nào, cô cảm thấy xa lạ. Thế mới biết Giang Kinh rộng thật, mình đã sống ở đây bốn năm mà chỉ mới đi lại trong một khu vực nhỏ. Nhưng cảm thấy hình như xe chạy không quá xa hồ Chiêu Dương. Khi xe chạy chậm dần, cô nhìn qua cửa kính, thấy đúng là như thế.

 

Xe chạy đến một cổng sắt, bên cổng có bốt gác bảo vệ, không đèn, nhưng nhìn thấy một bóng đen đang đứng đó vẫy tay với anh lái xe. Cửa sắt từ từ mở ra. Xe tiếp tục chạy vào. Bên trái là một mặt nước rộng vô tận. Chắc là hồ Chiêu Dương.

 

Xe dừng trước một biệt thự. Dù trời tối Na Lan vẫn nhận ra nó không như những biệt thự mô phỏng kiểu châu Âu mới xây những năm gần đây, mà là ngôi biệt thự cổ khá lâu đời na ná biệt thự ở vùng tô giới[2] cũ mà người ta vẫn thấy. Cô ngắm nhìn một lát. Người ngồi hàng ghế sau đã xuống xe, nói: "Nhà đẹp đấy chứ? Vào thập kỷ 30, đây là nơi nghỉ ngơi của quan chức ngoại giao Anh. Sư phụ chúng tôi nhờ ông Tư Không Trúc môi giới, đã mua lại được của chủ nhân người Hồng Kông."

 

[2]Tô giới: một số khu vực mà "Tây" được quyền thuê của TQ hồi đầu thế kỷ 20, để sinh sống, kinh doanh theo hiệp định giữa các chính phủ. Họ tự quản và có quyền lợi hợp pháp.

 

Na Lan xuống xe, dưới đất đã đặt sẵn một đôi dép lê, nó giúp cô bớt đi phần nào cái vẻ hoang dã của cô gái trong bộ lạc nguyên thủy.

 

Tường ngoài nhà gắn chiếc đèn bát giác bị gỉ sét lem nhem, ánh sáng lờ mờ. Lúc này Na Lan mới nhìn rõ người vẫn nói chuyện với cô: tuổi ngoài bốn chục, mái tóc phẳng vuốt ra mé sau, trán hói đến đỉnh đầu, trang phục thoáng rộng, cử chỉ lịch sự, nói năng chỉn chủ, khiến Na Lan liên tưởng đến Phàn Uyên.

 

Chờ khi gặp vị "sư phụ" tồi thì cô mới hiểu rõ tại sao mình có cái cảm giác này.

 

Dường như ông ta đã chờ Na Lan rất lâu. Lúc cô vào gặp, ông đang ngồi ở phòng khách uống trà, đọc một cuốn sách khâu bằng chỉ[3]. Chắc ông rất sợ lạnh, vì đang giữa mùa hè mà chiếc quạt trần bên trên chỉ quay lờ đờ, lại mặc bộ áo ngủ tơ tằm tương đối dày. Tiếc rằng bộ áo dài sang trọng ấy cũng không che nổi thân hình gầy guộc và nét già nua khô héo. Khỏi phải nghi ngờ, thân hình thật của ông già hơn hình ảnh trên báo chí, trên ti-vi không chỉ là chục tuổi.

 

[3] Khâu thủ công, "sách cổ".

 

"Na Lan, ngồi đi. Uống trà nhé? " Ông gỡ cặp kính viễn xuống, chăm chú nhìn cô, ánh mắt ông dịch chuyển theo cô bước đến chiếc ghế gỗ chạm trổ công phu rồi ngồi xuống.

 

Ông khẽ thở dài.

 

"Con bé hồi nhỏ, hồi học cấp II thì phải, có lần sắp đi thi bơi, nó tự ý ra hiệu cắt ngắn mái tóc đi… trông rất giống. Về sau nó lại để tóc dài, cho đến khi sắp tốt nghiệp đại học, nó lại mê bơi lội, rồi lại cắt tóc ngắn… giống thật! Đúng là rất giống!" Chắc vì muốn giấu đi nỗi bi thương chợt dâng lên, ông nhấp một ngụm trà, bàn tay cầm chén trà run run.

 

Ông Quảng Cảnh Huy không có vẻ một nhân vật số một của Lĩnh Nam uy danh lẫy lừng.

 

"Thưa Quảng lão tiên sinh, cháu hiểu tâm trạng của bác…"

 

"Tôi biết cô cũng từng gặp nỗi bất hạnh." Ông lại nhấp ngụm trà nữa, hình như Na Lan đến, khiến ông bỗng thấy khát nước hơn. "Nhưng, ta nên chỉnh lại cái câu cũ rích trong Anna Karenina: mỗi người đều có nỗi bất hạnh khác nhau, cảm nhận của chúng ta khi mất người thân sẽ khác nhau một trời một vực."

 

Na Lan không thể không công nhận rằng lời của ông Cảnh Huy không có ý khái quát cho tất cả. Chẳng khác gì hiệu ứng Domino, ông mất cô con gái, rồi lại mất tiếp người vợ, ông đã mất cả gia đình.

 

"Cháu xin nói là, Diệc Tuệ mất tích chưa có kết luận rõ ràng, và vẫn có rất nhiều người chưa từ bỏ hy vọng tìm thấy cô ấy…"

 

Ông Cảnh Huy không tỏ ý gì, chỉ cười nhạt: "Nhưng tôi nghe nói có người đã xóa nó khỏi ký ức, rồi mải mê với cả đàn gái đẹp." Dù nhắc đến Tần Hoài đầy tai tiếng ê chề, ông vẫn trấn tĩnh như thường, thật hiếm có. Ông luôn cho người khác có ấn tượng ông không bao giờ nổi giận cả. Danh hiệu "nhân vật số một của Lĩnh Nam" đâu phải đơn giản mà có được!

 

Na Lan hiểu ngụ ý sâu xa của ông: thế mà cô lại dan díu với cái gã vong ân bội nghĩa ấy! Cô bèn hỏi thẳng: "Bác đã quan tâm cháu, bác cử người đi tìm cháu ngay trong đêm, chắc bác cũng biết cháu thực ra chỉ muốn điều tra rõ sự thật về vụ Diệc Tuệ mất tích…"

 

"Vì thế mà cô chạy đến tận quê tôi ư? "

 

Thì ra ông ta đã biết tất cả. Na Lan sững sờ. Nếu lại biết chuyện Phàn Uyên đào ngôi mộ giả của Quảng Diệc Tuệ, liệu ông ta có thể bình thản như vậy không?

 

"Vâng. Cũng có một nguyên nhân nữa, là Ninh Vũ Hân…"

 

"Cô gái vẫn dập dìu với Tần Hoài."

 

"Cô ấy chết rất ly kỳ khó hiểu."

 

Ông Cảnh Huy đặt chén trà xuống, người hơi rướn về phía trước: "Cô không nhận ra các chuyện Diệc Tuệ mất tích, Ninh Vũ Hân bỏ mạng, những ai gần Tần Hoài đều gặp vận không may… cả chị gái em gái anh ta nữa, lẽ nào đều là ngẫu nhiên? ".

 

"Lúc đầu cháu chủ động tiếp cận Tần Hoài, chính là vì những nguyên nhân này."

 

"Tôi nghĩ, cô còn chưa nói tiếp 'về sau' thì sao? "

 

"Về sau, cháu tin rằng anh ấy vô tội. Nỗi nhớ thương Diệc Tuệ của anh ấy thật khó bề hình dung nổi…"

 

"Đủ rồi đấy!" Ông Cảnh Huy bỗng đứng lên, phong độ của nhân vật tầm cỡ chợt tan biến. Ông cũng biết nổi giận khi nghe những câu biện hộ cho Tần Hoài. "Dù cô cực thông minh thì cô vẫn là đồ trẻ con. Cô không hiểu rằng người đời đang dành quá nửa thời gian để diễn kịch! Trò chuyện, hỏi thăm, quan tâm, từ thiện… đủ trò, tôi nhìn thấy đủ rồi, đều là diễn kịch cả!"

 

Ông Cảnh Huy đùng đùng nổi giận khiến Na Lan phát hoảng, nhưng cô vẫn nói: "Ý bác là, không thể tin tình cảm chân thành? "

 

Ông Cảnh Huy vịn vào lưng ghế, ánh mắt bỗng đầy vẻ ưu tư thương xót: "Tôi không muốn một cô gái nào lại theo chân Diệc Tuệ nữa."

 

"Nhưng cháu vẫn không hiểu, Diệc Tuệ là mất tích…"

 

"Cô vẫn còn ngây thơ lắm! tôi chưa bao giờ đọc các loại số liệu thống kê nhưng cũng hiểu: một người vốn đang bình thường, mất tích quá ba năm có nghĩa là gì."

 

"Nhưng không có nghĩa là mọi người nên hoàn toàn bỏ cuộc. Cháu nghĩ rằng bác chuyển về Giang Kinh ở, cũng vì đang tìm kiếm cô ấy, phải không ạ? "

 

Ông Cảnh Huy lại ngồi xuống, nâng chén trà lên: "Có rất nhiều thứ, chúng ta ngỡ rằng đã hiểu cả rồi, hoặc đã suy luận ra rồi, nhưng khi tiếp cận sự thật thì lại không phải thế. Cho nên, sự thật cũng là thứ vô thường, diện mạo luôn luôn thay đổi."

 

Na Lan cảm thấy cơ bản đã hiểu ra: "Ý bác là, chỉ một mình cháu thì rất khó tìm hiểu sự thật, vì có rất nhiều sự biến đổi trong đó? "

 

Ông Cảnh Huy mỉm cười, nét cười rất khó nắm bắt: "Cô chỉ cần đối xử thật tốt với chính mình, cô sẽ có tiền đồ rộng mở. Thật thế!"

 

Na Lan như bừng tỉnh: "Thì ra, đêm nay bác có ý gọi cháu đến nhằm nói với cháu rằng hãy gạt bỏ ý định điều tra chuyện Diệt Tuệ mất tích, cái chết của Vũ Hân, cứ để bác và các cộng sự giải quyết? "

 

"Cô tổng kết còn rõ ràng mạch lạc hơn cả tôi nói!"

 

"Nhưng…"

 

"Nhưng tôi biết cô sẽ không từ bỏ!" Ông lại thở dài. "Tuy nhiên, tôi phải có trách nhiệm của người bề trên, cần nói gì tôi vẫn phải nói. Cô không đủ sức điều tra ra nguyên nhân của các chuyện bất hạnh đã đành, nhưng dù tra ra được thì cũng là tự đào mồ chôn mình mà thôi! Rất nhiều chuyện ẩn chứa bên trong, nếu nói 'đáng sợ' thì không có gì là quá lời cả." Na Lan rùng mình khi nghe ông nói hai chữ "đào mồ". Ông có ngụ ý ám chỉ gì chăng?

 

"Cảm ơn bác đã nhắc nhở. Có lẽ… cháu cần ít thời gian để cân nhắc." Cô cần thời gian để ngẫm nghĩ những lời của ông Cảnh Huy.

 

"Còn việc này nữa cô khỏi cần tốn thì giờ để nghĩ: tôi hy vọng cô hãy giã từ Tần Hoài, tránh càng xa càng tốt."

 
 
 

Chương 37: Tiều tụy khốn đốn

 

Khám Cửu Kha, tựa như bản sao Phàn Uyên thời trung niên, là thân tín của ông Quảng Cảnh Huy. Anh ta nói mình cực mê sách, có giao lưu mới biết anh ta từng đọc các tác phẩm quen thuộc của các bậc thầy lừng danh như Dover hay Jung Carl đã đành, ngay sách tâm lý học của Adler và Bandura[1] rất ít người biết, anh ta cũng đọc. Khám Cửu Kha lái du thuyền chở Na Lan sang đảo Hồ Tâm, không cần cô chỉ đường, anh ta dừng đúng bến tàu. Rõ ràngkhông phải anh ta mới "viếng thăm" đảo lần đầu.

 

[1] Tên các giáo sư, nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Đức, Mỹ thế kỷ 18, 19.

 

Sớm tinh mơ, một màn sương mỏng bao phủ mặt hồ, dường như báo trước mùa thu sắp đến gần. Na Lan cảm thấy những sự việc xảy ra đêm qua cũng đưa cô vào một vùng sương khói mờ ảo. Lúc sắp xuống thuyền, cô hỏi: "Bác ấy sẽ không trách anh đưa tôi sang đảo Hồ Tâm chứ? "

 

Khám Cửu Kha cười: "Sư phụ chỉ dặn tôi đưa cô đến bất cứ đâu mà cô muốn. Tôi không biết hai vị nói những chuyện gì nhưng tôi xin nhắc cô một điều: dù sư phụ nói gì hoặc bảo cô tránh xa ai, tốt nhất là cô hãy nghe lời." Anh ta bỗng nghiêm nét mặt, nói rất khẽ. "Tôi theo sư phụ đã lâu, biết rõ ông không bao giờ nói năng tùy tiện, cũng không bao giờ làm việc gì quá trớn. Nếu không, ông đã chẳng thể có uy danh như ngày nay. Tôi cũng từng biết những ai không nghe lời ông, rốt cuộc phải chịu cay đắng.. Tôi lần đầu gặp Diệc Tuệ khi cô ấy còn là thiếu nhi quàng khăn đỏ rất đáng yêu, hồn nhiên vô tư lự…" Giọng anh ta hơi nghẹn lại, đôi mắt rớm đỏ.

 

Na Lan định nói: anh đang cảnh cáo tôi. Nhưng cô cảm thấy nói thế quá vô duyên, nên chỉ gật đầu chào, rồi bước lên bậc của bến tàu.

 

Đôi chân trĩu nặng. Vì lần đầu tiên cô nhận ra mình không biết các bước tiếp theo nên đi thế nào.

 

Một mớ bòng bong với bao điều nghi hoặc.

 

Tần Hoài có an toàn không? Bọn tấn công truy sát mình là ai? Ông Quảng Cảnh Huy cảnh báo, có thật thế không?

 

Chẳng hiểu sao, cô thấy tán thành với lời nhắc nhở của Khám Cửu Kha, "sư phụ" tuyệt đối không phải là người chỉ nói mép và hư trương thanh thế.

 

Cô bước đi trong tâm trạng ngổn ngang với bao suy nghĩ rối bời. Đã về đến cổng biệt thự của Tần Hoài. Từ trên gác vọng ra tiếng đàn piano dìu dặt, chậm rãi. Cô sững người. Không phải tiếng nhạc chạy đĩa phát ra từ bộ dàn, mà là tiếng piano thật. Khúc biến tấu Canon cung Re trưởng của Johann Pachelbel, là ý thơ trong nhạc Baroque cổ điển, là niềm vui trong lành, là mộng ước đẹp tươi. Nét nhạc tuyệt diệu đã xua tan những mệt mỏi uể oải của Na Lan sau một đêm thức trắng.

 

Tần Mạt!

 

Niềm vui dâng lên trong lòng Na Lan: Tần Mạt đã có thể chơi đàn, là dấu mốc quan trọng chứng tỏ cô ta đã phục hồi tâm trí! Tần Mạt rất cần những giai điệu tươi vui như thế này! Bước chân Na Lan bỗng thoăn thoắt, cô dường như nhảy lên bậc thềm.

 

Bước đến cửa cô mới ngớ ra: cửa luôn gắn liền với hệ thống cảnh báo an ninh, thế mà lúc này nó đang rộng mở, hình như âm nhạc đang tràn ngập, ùa ra không gì ngăn cản nổi.

 

Có phải Tần Hoài đã an toàn về đến nhà?

 

Cô đẩy cửa, nhẹ bước chân vào, cô không muốn làm cho người đang chơi đàn bị mất hứng.

 

Vào phòng chính, thì cô biến thành pho tượng.

 

Chỉ có thể nhìn nghiêng người đang chơi đàn, sóng mũi cao thanh thanh, nét môi hồng như vẽ, cổ ngọc ngà vươn cao, tóc dài được búi lên. Mẫu người "hoa nhường nguyệt thẹn" thời cổ đại! Cô càng ngạc nhiên hơn nữa: cách người ấy không xa là một thiếu nữ mảnh dẻ thướt tha, đứng bất động, mặt hướng về cửa sổ nhìn ra phía hồ. Tần Mạt!

 

Cô gái đang chơi đàn, đây không phải là lần đầu Na Lan trầm trồ trước vẻ kiều diễm của nàng, chính là Tư Không Tình.

 

Các ngón tay búp măng xinh xắn nhẹ nhàng dạo chơi trên những phím đàn đen trắng, dường như Tư Không Tình không mảy may chú ý đến sự xuất hiện của Na Lan. Cô đang thả hồn vào điệu nhạc, đang ngao du bên ngoài vạn vật, đang chìm trong niềm hạnh phúc không thể định danh.

 

Khúc nhạc kết thúc, đôi tay cô vẫn hơi lơ lửng trên không, đôi mắt khép lại, ánh sáng hắt vào từ bên cạnh cho ta thấy hàng mi chớp nhẹ, lung linh.

 

Tần Mạt hơi quay người lại, nhìn cây đàn từng làm bạn với cô. Cô thẫn thờ hẫng hụt, hay mỉm cười?

 

Tay trái của Tư Không Tình, ở ngón đeo nhẫn, chiếc nhẫn kim cương đang lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời.

 

"Tôi rất vui lại được gặp Na Lan." Có thể nhận ra trong câu nói của Tư Không Tình đó là niềm vui kiểu xã giao. "Ngồi đi! Hình như cô đang rất mệt mỏi? "

 

Mệt mỏi à? Tôi chỉ là trâu bò hùng hục suốt một đêm mà thôi! Na Lan không biết nói gì, vẫn đứng ngây nhìn Tư Không Tình đỡ Tần Mạt ngồi xuống ghế trước cây đàn piano.

 

"Em đừng sợ, chị vừa đàn xong một bài, vẫn ổn mà! Không xảy ra chuyện gì đáng sợ cả, đúng chưa? Bây giờ em đàn đi!" Tư Không Tình nhẹ nhàng nói với Tần Mạt.

 

Ánh mắt Tần Mạt long lanh khác thường, như đứa trẻ con vừa nhìn thấy một thứ đồ chơi thú vị nhưng lại chưa hiểu ra sao. Cô nâng tay lên. Na Lan dường như bừng tỉnh, cô thấy tim như bị thắt lại.

 

"Em thử dạo một đoạn luyện tập chuỗi âm cung Re trưởng xem sao!"

 

Một dòng suối nhạc trong vắt tuôn ra từ những ngón tay Tần Mạt. Lần này cô không kêu lên kinh hãi, mà là mỉm cười hệt như một đứa trẻ bỗng dưng nhận ra mình có chút biệt tài.

 

Na Lan cũng đã thật sự tỉnh táo, cô gắng mỉm cười: "Chúc mừng nhé… tôi nhìn thấy cái nhẫn của cô."

 

Khuôn mặt Tư Không Tình bỗng ngập tràn nét cười rặng rỡ: "Cảm ơn. Tôi nói ra chắc cô không tin: tôi đã nói với anh ấy rằng chỉ cần trái tim em và anh đồng điệu, có tặng nhẫn hay không, không quan trọng. Nhưng anh ấy bảo tôi nói ra quá muộn, anh đã mua nhẫn này từ lâu. Chẳng biết anh ấy lén đo cỡ ngón tay tôi từ khi nào, một anh chàng rất ma mãnh!"

 

"Chắc anh ấy rất yêu cô và cũng rất thông minh nữa!"

 

"Chưa chắc đã thông minh, nói anh ấy ma mãnh vì anh ấy chuyên viết tiểu thuyết kinh dị."

 

Na Lan cảm thấy hình như đất dưới chân đang sụt lở, cô "Thế ư" rất khẽ chỉ cho mình cô nghe thấy, vì giọng Tư Không Tình vẫn tiếp tục rót vào tai. "Cũng rất gần đây thôi, tôi mới thật sự tin lời Phương Văn Đông nói: thực ra Tần Hoài một lòng thủy chung, suốt ba năm trời anh ấy không thể quên Quảng Diệc Tuệ. Nhưng anh ấy buộc phải bước ra, buộc phải có cuộc sống, tình yêu và gia đình như mọi người. Vì thế anh ấy nói với tôi rằng anh sẽ không phụ lòng tôi, không thờ ơ với tình yêu và sự chờ đợi của một cô gái nữa. Cho nên anh ấy cầu hôn tôi."

 

Ôi, tại sao mình vẫn còn đứng đây?

 

Tư Không Tình bước lại nhìn Na Lan đầy vẻ quan tâm: "Trông cô có vẻ rất mệt, thật thế. Nên ăn một chút đi đã. Tần Hoài sắp về cũng nên. Tối qua anh ấy bị tai nạn giao thông, may mà công an đã cứu được. Tôi đưa anh ấy đi viện, vất vả đến quá nửa đêm, sau đó về chỗ Phương Văn Đông và Quân Quân nghỉ ngơi, anh ấy nói ở đó yên tĩnh. Còn tôi về đây với Tần Mạt."

 

Tại sao mình vẫn còn đứng đây?

 

"Nghe theo Quân Quân, tôi đã mua chiếc máy làm sữa đậu nành, đậu đã ngâm rồi, lát nữa tôi sẽ làm cho cô uống. Tần Hoài thích ăn trứng ốp-lết, cô thì sao? Muốn ăn món gì cùng với sữa đậu nành? "

 

"Không đâu… tôi… tôi phải đi." Na Lan cảm thấy mình đến nhà Tần Hoài thực ra là một cơn ác mộng.

 

Nhưng có lẽ đã quá muộn để ra đi, và không thể rút lui mà yên được.

 

"Sao thế? Cô vừa đến mà? Hồi trước tôi không gặp cô ở đây bao giờ. Thực ra tôi vẫn cầm chùm chìa khóa nhà Tần Hoài nhưng vì tôn trọng anh ấy, tôi không thể tùy tiện tìm đến. Trước khi sang, tôi phải hỏi trước xem anh ấy có đồng ý không đã. Chẳng thể nào khác, vì anh ấy đã cho tôi cuộc sống thứ hai… à, tôi quên chưa kể với cô, có lần tôi đang bơi bỗng bị chuột rút, suýt nữa chết đuối, may mà Tần Hoài đã cứu được tôi, đúng là không thể không tin số phận. Hồi ấy anh ấy còn là anh chàng văn sĩ tầm tầm, nhưng kể từ lần đó tôi đã muốn gửi gắm đời mình cho anh."

 

Tư Không Tình đặt chiếc chảo đáy phẳng lên bếp gas, rồi quay lại nói với Na Lan: "Cô đừng về, thật đấy! Ít ra cũng phải ăn một chút đã. Sữa đậu nành sắp có ngay, bây giờ tôi làm trứng cho cô, cô muốn ăn trứng non hay già? Tần Hoài thích ăn trứng non. Tôi vốn vụng bếp núc, nhưng nay đã luyện thành nghề rồi." Tư Không Tình bật quạt khử mùi.

 

"Thôi không cần đâu, thật mà!"

 

Na Lan quay người. Phải bỏ chạy thôi!

 

Nhưng vẫn là quá muộn. Phương Văn Đông và Quân Quân đã xuất hiện ngoài cửa, phía sau là Tần Hoài.

 

Cô vẫn không nén được nhìn Tần Hoài. Trên mặt anh có vài vết xây xát rất rõ, vai trái đeo dải băng treo cẳng tay cứng đơ, bị bó bột.

 

"Lúc nào rỗi, nói giúp với Ba Du Sinh rằng tôi cảm ơn một lần nữa, nếu cảnh sát không đến kịp thời chắc tôi đã bỏ mạng rồi. Tên lái xe đã bỏ chạy trước khi cảnh sát đến. Cảnh sát đang truy tìm chiếc xe ấy." Tần Hoài nói rất bình tĩnh, cứ như là chuyện xảy ra từ mấy chục năm trước. "Trông cô… có hơi mệt mỏi, nhưng hình như không vấn đề gì lớn."

 

Na Lan thầm nghĩ, nếu anh có thể nhìn thấu lòng tôi, chắc anh sẽ có kết luận khác. Cô cố gượng cười: "Tôi cũng trải qua một đêm rất thú vị, có lẽ phải chờ hồi sau mới biết rõ được."

 

Tư Không Tình bước lại, khẽ hôn lên má Tần Hoài, rồi mỉm cười: "Tại sao cứ đứng ở cửa mãi? Vào đi chứ! Em đang làm món trứng cho Na Lan."

 

Tần Hoài nhìn vị hôn thê xinh đẹp, rồi lại nhìn Na Lan, ánh mắt hững hờ: "Cô còn có việc chứ gì, nên ăn đã rồi hãy đi."

 

Cái lối mời trà tiễn khách, Na Lan dù quá ngây thơ thì cũng thừa hiểu.

 

Khỏi cần soi gương, cô cũng hình dung được mình lúc này rất nhếch nhác, đầu bù tóc tối, mắt có quầng thâm, tay chân lấm láp, mình sẽ tiếp tục đứng đây đọ nhan sắc với mỹ nhân cổ điển hay sao?

 

Cô lắc đầu thay câu trả lời, cũng thể hiện cô không sao hiểu nổi tất cả những điều đang chứng kiến. Cô hết cách.

 

Nhưng cô vẫn không quên chào tạm biệt, rồi quay ra, hãy đi càng xa càng tốt.

 

Nếu lúc này Tần Hoài nói cô hãy ở lại, tất cả chỉ là một trò đùa tàn nhẫn kinh khủng, thì mình sẽ thế nào? Cô biết nếu Tần Hoài bảo cô ở lại thì cô sẽ không đi, ít ra là tạm thời không đi nữa.

 

Hãy tự chế nhạo sự nhu nhược của mình. Tần Hoài chỉ im lặng, không níu kéo. Na Lan cứ thế đi thẳng, cô cũng cảm nhận được ánh mắt lạnh nhạt phía sau cô.

 

Phải chờ rất lâu mới thấy con tàu nhẩn nha như mọi ngày cập bến. Lúc bước xuống các bậc của dốc bến Na Lan bỗng cảm thấy cảnh này dường như từng xảy ra.

 

Xảy ra một cách đáng buồn.

 

Khác nhau ở chỗ khi xưa ra bến này là Ninh Vũ Hân buồn bã, hôm nay là cô với bộ dạng bơ phờ mệt nhọc. Thứ duy nhất cô muốn có lúc này là cặp kính râm, để che đôi mắt đỏ hoe.

 

Vẫn còn sớm, khách xuống tàu lên tàu rất thưa thớt. Trong đó có một thiếu nữ dong dỏng cao, khuôn mặt xinh tươi tràn trề khát vọng sáng trong của tuổi xuân. Na Lan thấy chua chát, khi cô gái ấy đi qua, Bèn hững hờ hỏi: "Chắc cô sang làm trợ lý sáng tác cho Tần Hoài? "

 

Cô gái ngớ ra kinh ngạc, miệng hơi há ra, nhìn rõ chiếc răng nanh khểnh rất có duyên: "Sao cô lại biết, sao cô tài thế? ",

 

Na Lan bình thản nói: "Tôi là phù thủy như truyền thuyết vẫn nhắc đến… đảo này rất nhỏ, nên chuyện gì cũng trở thành tin thời sự của mọi người. Chúc cô gặp nhiều may mắn."

 

Na Lan cúi đầu rảo bước, cô hơi ân hận vì mình đã nói quá nhiều.

 

Nhưng khi gặp ông chủ tàu hay tán gẫu, cô lại không biết nói gì nữa.

 

"Quý hóa qúa!" Thoạt đầu ông ta hơi sửng sốt, nhìn Na Lan mãi rồi mới mỉm cười. "Cô đổi kiểu tóc nên tôi chưa nhận ra ngay. Cô sang đảo khi nào, sao tôi không thấy cô sang thì phải? "

 

Na Lan bỗng nhận ra mình đi tàu thế này, hình như là tỏ ra "không bận tâm đến sinh tử" nữa. Lẽ nào mình đau buồn đến mức quên cả an toàn cho bản thân? Lát nữa xuống tàu rồi sao nữa? Giơ tay đầu hàng, và nói với hung thủ đang giấu mặt rằng, cứ lại đây mà xử lý ta tùy thích!

 

"Ông có thể đoán, chọn đáp án xem: tôi đi trực thăng, đi ca-nô, bơi qua, hay là cải trang rồi đi tàu thủy? "

 

Ông ta cười hềnh hệch, rồi lại nhìn Na Lan, nói: "Nhưng, trông cô có vẻ… hơi tiều tụy. Lâu nay vẫn khỏe chứ? Công việc có suôn sẻ không? ".

 

"Rất ổn, ổn không chê vào đâu được!"

 

Ông ta hắng giọng, hình như đang định nói gì đó. Na Lan đương nhiên đoán ra, bèn cười nói: "Chắc cô gái vừa rồi là trợ lý sáng tác cảu Tần Hoài. Tôi đã nghỉ làm từ lâu."

 

"Kể ra thì cũng thật kỳ lạ, cô gái họ Ninh hồi trước…"

 

Na Lan bỗng phát hiện ra có lẽ mình đang đi song song với quỹ đạo của Ninh Vũ Hân: từ xa lạ, rồi rung động, lún sâu, hẫng hụt; bước cuối cùng của Ninh Vũ Hân là hồn lìa khỏi xác. Mình thì sao? Làn gió sớm mai đầu thu ùa đến, Na Lan với áo phông váy ngắn cảm thấy lành lạnh, lạnh từ ngoài thấm vào đến tim.

 

Tàu bắt đầu chạy. Mình cô đứng trên mũi tàu nhìn sóng nước bắn tung bọt trắng dần lan xa, sáng lấp lóa như những vẩy bạc. Hình như trên mặt nước hiện ra đôi cánh tay vung lên thành đường cung, đưa lên đưa xuống hết sức nhịp nhàng.

 

Lệ tuôn lã chã, cô vịn lan can cúi đầu, nước mắt rơi xuống hồ nước, mất tăm mất tích.

 

Có một người nhìn theo Na Lan xuống thuyền, lần đầu tiên cảm thấy thương hại cô.

 

Xem ra ta chưa hoàn toàn là kẻ máu lạnh, vô tình. Đôi khi so với những kẻ bề ngoài tỏ ra nhân nghĩa nhưng lòng thì cạn tình, ta còn có nhiều nhân tính hơn.

 

Thực ra Na Lan giờ đây không cần phải chết, vì cô ta đã đớn đau đến chết rồi. Đương nhiên là tại cô ta đã sai. Tuy không nghe thấy, nhưng người này có thể tưởng tượng ra đã có bao người khuyên can cô ta đừng đi sâu vào, hãy tránh càng xa càng tốt, thế mà cô ta vẫn đi vào vết xe đổ của kẻ khác. Nhiều người bảo cô ta thông minh, nhưng trong chuyện này thì hình như…

 

Có lẽ cô ta vẫn không biết mình sắp phải đối mặt với những kẻ, những sự việc còn cạn tình hơn nữa.

 

Sẽ khiến cô ta muốn sống không được muốn chết cũng không xong.

 
 
 

Chương 38: Bản đồ song sinh

 

Thuyền cập bến, Na Lan hiểu ra mình không nên để cho thất bại tình cảm biến thành mũi kim thóc vào yết hầu. Lên bờ, cô lưỡng lự, có nên mượn điện thoại di động của ông chủ tàu để gọi cho Ba Du Sinh xin đến “tự thú” với anh không. Đang cố nhớ lại số di động của Ba Du Sinh, thì một cơn gió lại ùa đến khiến cô rùng mình, và nhớ ra chiếc áo chẽn đã rơi mất ở đâu chẳng rõ.

 

Ước gì được nấy, một chiếc áo chẽn được đặt trên vai Na Lan.

 

Cô kinh ngạc ngoảnh lại. Đôi mắt sâu, hiền hoà, khuôn mặt tuấn tú sáng sủa. Và giọng nói thân thiết: “Các bạn thân của cô đều đang ở đây, cô có cần gọi điện cho ai không?”

 

Đặng Tiêu. Vẫn phong độ, nhẹ nhõm, và thêm nét phong sương bụi bặm nữa, nhưng vẫn không che nổi tình cảm sôi động sâu sắc: “Nếu muốn khóc thì cứ ngả vào vai anh mà khóc”

 

Na Lan xúc động, muốn ngả vào vai anh òa khóc. Chỉ cần anh ôm choàng vai cô thì điều đó sẽ xảy ra ngay.

 

Đặng Tiêu đâu phải hạng tiểu nhân ham lợi dụng, anh vẫn đứng im, ôn tồn nói: “Điều duy nhất cô cần lúc này là phải ngủ một giấc thật sâu”. Quân tử không ham hố.“Nhìn xem, có ai đến đón cô nữa?”

 

Na Lan chưa kịp ngoảnh lại thì đã có người cốc vào đầu cô một cái.

 

Chưa thấy người đó cũng biết là ai.

 

Là cô gái tóc xõa chấm vai, răng trắng bóng, đã quá lâu không gặp, Đào Tử!

 

Na Lan không nhớ nổi đã bao lâu mình chưa được tha hồ khóc như thế. Và, đáng ngán nhất là nước mắt giàn giụa ngay trước mặt “công chúng”. Nhưng mặc kệ! Tôi đã chạm trán với thần chết, tôi có thừa tư cách để khóc lóc!

 

Đào Tử vuốt mái tóc ngắn của bạn, xót xa: “Ổn rồi, bây giờ không phải lo gì nữa, chuyến đi tự đày đọa mình của cậu đã kết thúc rồi!”

 

Tâm trạng đã ổn định trở lại, Na Lan quay sang Đặng Tiêu, nói: “Lần trước gặp nhau, anh nói là anh có thể giúp tôi tàng hình, mai danh ẩn tích, thành một người khác, có thật thế không?”

 

Đặng Tiêu bình thản không chút ngạc nhiên, đã lường trước Na Lan sẽ hỏi câu này, anh cười nói: “Không những vẫn là thật tốt, tôi đảm bảo cô không cần đi Hàn Quốc mà vẫn có thể thẩm mỹ thay đổi ngoại hình.”

 

Sắp đến khai giảng. Được Ba Du Sinh giúp đỡ, Na Lan đã xin với Ban nghiên cứu sinh cho cô nợ vài môn học cơ bản, cô sẽ bổ túc bằng cách tự học và học qua băng ghi âm mà Đào Tử đã ghi hộ. Ba Du Sinh còn bố trí cho cô ở nơi an toàn và cử chiến sĩ bảo vệ nữa. Nhưng cô vẫn lựa chọn Đặng Tiêu đón cô đi. Cô biết Đặng Tiêu là một trong số cực ít người ở Giang Kinh có thể giúp cô thực hiện kế hoạch.

 

Một kế hoạch còn nguy hiểm hơn cả việc tiếp cận Tần Hoài.

 

Chiếc xe chở Na Lan chạy sâu vào khu sân trường, rồi chạy đến trước Lầu Nhớ nhung là khu văn phòng khoa Ngữ văn. Lầu Nhớ nhung nằm giữa một vườn hoa nhỏ có những hàng trúc xanh bao quanh, bốn bề là cây cối, không có chỗ đỗ xe, nhưng Đặng Tiêu vẫn cứ bóp còi inh ỏi khắp con đường nhỏ.

 

Na Lan lúc này không nghĩ gì đến cộng đồng gì gì nữa, cô nhanh chóng xuống xe rồi chạy như bay vào khu nhà.

 

Gặp Cung Tấn, cô hỏi luôn: “Anh giúp tôi với!”

 

Cung Tấn đang mãi chỉ dẫn cho hai nữ nghiên cứu sinh năm đầu, thoạt nhìn Na Lan anh không nhận ra, một lát sau mới cười nói: “Nếu không phải cô đã gọi điện trước thì tôi không dám nghĩ là cô. Giới thiệu với hai em, đây là người mà hai em đã nghe tên quá nhiều, sắp phát chán rồi: Na Lan!”.

 

Hai cô gái tươi cười đứng dậy, Na Lan nói: “Xem ra, tai tiếng của tôi đã bay khắp chốn mất rồi!”.

 

“Nghe nói chị quen anh Tần Hoài.” Một cô trong còn đậm nét nữ sinh cấp III non choẹt nói: “Có đúng là anh ấy giống như báo chí vẫn nói không hả chị?”

 

Na Lan đáp: “Còn tệ hơn thế! Cứ chờ đọc blog của tôi, sẽ có cả ảnh chụp hẳn hoi!”

 

Hai cô gái đi rồi, Na Lan hỏi: “Anh đã tìm giúp người phiên dịch chưa?”

 

Cung Tấn nói: “Cô tốt số nên đời cô mới gặp được tôi! Đã tìm được phiên dịch rồi. Đại học Giang Kinh không có ai biết cổ văn Mông Cổ, nhưng tôi đã tìm một vị chuyên gia làm ở Viện khoa học xã hội của tình. Xem bản đồ ấy, ông ta bảo đó là văn tự Pasipa[1] chính cống thời Nguyên, dịch cũng dễ thôi” . Cung Tấn mở cặp lấy ra tấm bản đồ, năm xưa Tần Hoài đã từng căn cứ vào bản đồ này đi tìm “kho báu”, nhưng công cốc, nhưng anh ta vẫn dựa vào nó để viết tiểu thuyết kiếm ra tiền. Khi anh ta đưa bản đồ ấy cho Na Lan xem, cô đã photo lại một bản ngay trong thư phòng, nào ngờ lại có dịp dùng nó cho kế hoạch mới.

 

[1] Văn tự Mông Cổ thời sơ khai, thời Thành Cát Tư Hãn.

 

Na Lan cầm xem, thấy bên cạnh các ký tự Mông Cổ đều đã có chú thích chữ Hán, nói: “Rất cảm ơn anh. Tôi đi đây. Hẹn khi nào tôi được tự do, sẽ mời anh và chuyên gia văn tự Mông Cổ dùng cơm”

 

Nói rồi cô bước đi, nhưng Cung Tấn đã gọi ngay: “Đừng đi vội!”

 

Na Lan đoán có lẽ anh ta định tán tỉnh mấy câu giời ơi đất hỡi, nhưng không phải thế: “Cô có biết tấm bản đồ của cô còn có người anh em sinh đôi không?”

 

“Gì cơ?” Na Lan ngớ ra, nghĩ bụng có lẽ anh ta đang chơi chữ gì đó. Thả bản đồ này vào máy photo sẽ ra một lô “anh em” giống hệt, khó gì?

 

Cung Tấn nói: “Vị chuyên giá ấy nhìn tấm bản đồ này nói luôn ‘Hình như tôi đã thấy nó…à, không, không hoàn toàn giống nhau’. Sau đó không rõ bao nhiêu tiếng đồng hồ, ông ấy liên tục gọi điện, gửi e-mail cho tôi, và sau cùng, từ Khu-khơ-hao-tơ xa xôi gửi cho tôi một bản Fax…”

 

“Anh đang nói đùa à?”

 

Cung Tấn lại mở cặp lấy ra một tờ giấy đưa cho Na Lan. Thoạt nhìn, thấy tờ photo bản đồ hồ Chiêu Dương này giống hệt bản photo của Tần Hoài, từ kích thước, chữ Mông Cổ, cho đến các vết nhăn ở mép xung quanh.

 

“Có lẽ nó là một thật” .Cô chưa nhận ra có gì khác nhau.

 

“Em ơi nhìn kỹ đi!”

 

Nhìn thật kỹ, cô nhận ra có một số vị trí đánh dấu khác nhau, tên gọi cũng khác nhau. Hình như có hai hệ thống tiêu chí địa lý khác hẳn nhau.

 

Cung Tấn nói: “Tờ bản đồ này phát hiện ra cách đây 3 năm tại một nơi rất hẻo lánh thuộc vùng Nội Mông. Thoạt đầu các chuyên gia đều cho rằng nó vẽ hồ Khu-luân hoặc hồ Pô-stăng, nhưng đều thấy rất khó kết luận, vì diện mạo các hồ nước ngọt ở Nội Mông này đã thay đổi rất nhiều, các ký tự ở bản đồ cũng không khớp với các tên gọi cũ. Vì giá trị khảo cổ và văn hóa không rõ ràng nên việc nghiên cứu tấm bản đồ da dê ấy bị gác lại. Vị chuyên gia ở Viện khoa học xã hội năm kia đã đi công tác đến Viện bảo tàng thành phố Khu-khơ-hao-tơ, ông nhìn thấy tấm bản đồ ấy nhưng không mấy bận tâm, có thể nói thẳng thắn là, nếu không nhìn kỹ thì cũng cho rằng hình dáng cái hồ trong bản đồ không khớp với hồ Chiêu Dương ngày nay”.

 

“Vậy ông ấy có kiến giải như thế nào về hai tấm bán đồ này?” Na Lan tò mò hỏi.

 

Cung Tấn lắc đầu: “Không có. Ông ấy bảo, xem ra cũng chỉ là hai tấm bản đồ hồ Chiêu Dương, rất bình thường. Chẳng qua chỉ là dùng văn tự Pasipa đánh dấu một số nơi trên đảo Hồ Tâm mà thôi. Không biết về tác giả, về niên đại, thì chẳng có ý nghĩa gì đáng kể.”

 

Na Lan lên mạng, vào trang web của những người ưa thể thao dưới nước “Câu lạc bộ bơi lặn”, thấy có diễn đàn Đồng Thành của Giang Kinh. Cô đăng ký gia nhập, dùng vài hôm, rồi kết bạn và giao lưu thân mật với vài nhân vật rất nhiệt tình của diễn đàn. Việc này chẳng khó gì, vì dường như cô là nữ duy nhất tham gia diễn đàn.

 

“Bạn là học viên xinh đẹp trong lớp huấn luyện của Bế Tiểu Châu phải không?” Anh chàng có nickname “DadaShasha” quản trì tạm thời trang mạng bắt đầuchat với cô. Na Lan dùng nick name “Jinyiwei”, khéo léo tự giới thiệu mình thuộc loại type con gái “nửa vật chất” nhàn nhã hưởng thụ nhưng có tính độc lập cao, thích thời trang, ẩm thực, kinh tế gia đình rất mạnh, không cần gắng sức để săn lùng các công tử con nhà giàu; nhưng lại nghĩ mình bỗng dưng sống trong căn nhà hoa lệ kề bên hồ nước ngồi uống trà sữa khiến mình phải bâng khuâng, dưới nhà lại có chàng trai tuấn tú phong độ với đôi mắt sâu lắng chứa đựng biết bao tình...mình cảm thấy thật khó nói ra cái từ rất ngượng mồm…là…chàng trai con nhà giàu…

 

Dẫu tối hôm đó Na Lan đào mộ Andersen hoặc anh em Grimm, bắt họ tái thế cũng không viết nổi truyện đồng thoại như thế này.

 

Na Lan đánh chữ tíu tít: “Anh cho rằng tôi là học viên lớp dạy bơi của Tiểu Châu à? Tôi thừa sức làm cô giáo thì có!”.

 

DadaShasha: “Bạo mồm nhỉ?”

 

Na Lan: “Hít một hơi có thể bơi đến tận chân trời.”

 

DadaShasha: “Hít một hơi nói một tấc đến trời!”

 

Na Lan: “Không tin thì thôi.”

 

DadaShasha: “Chiều thứ Bảy hàng tuần, bọn này tập trung ở một chỗ bên bờ sông Thanh An, cùng bơi lặn thám hiểm. Nếu bạn thấy thích thì có thể gia nhập. Chơi xong, thường kéo nhau đến một quán bình dân uống rượu trò chuyện.”

 

Na Lan: “OK, lần này ở đâu?”

 

DadaShasha: “Tôi sẽ gửi tin nhắn cụ thể cho bạn. Ngoại thành, giao thông không tiện lắm, phải tìm xe, cứ cho tôi biết.”

 

Na Lan: “Cảm ơn thiện chí. Chắc tôi sẽ kiếm đượcxe.”

 

DadaShasha: “Không cho anh đây một cơ hội à?” Sau đó là một lô J.

 

Na Lan mỉm cười. Ít ra anh chàng này cũng thẳng thắn, chân thành. Cô tiếp tục gõ.

 

“Anh đã nhắc tôi, tôi đoán các anh là một hội rất quậy, nhưng có ba gai bát nháo không đấy? Tôi không nhát gan nhưng chưa to gan đến nỗi nộp mình cho yêu tinh đâu.”

 

DadaShasha: “Yên tâm đi, trong đám người ưa bơi lặn cũng có kẻ thiểu năng nhưng không được chơi với bọn anh. Mấy thằng bọn anh đều háu gái nhưng lại rất lịch sự.”

 

Na Lan bật cười

 

DadaShasha là một anh chàng Cự Vô Bá[2], từ đầu đến chân cơ bắp cuồn cuộn, ngồi trên cái ghế tre của quán bình dân luôn có nguy cơ “bật bãi”. Đúng là anh ta không khoác lác, mấy người bạn cùng đi bơi sau đó ngồi uống rượu, đều có vẻ chất phác. DadaShasha và Bế Tiểu Châu là người Giang Kinh, còn mấy anh kia sau khi tốt nghiệp đại học thì bám trụ Giang Kinh để kiếm sống. Sau lần bơi lặn này Na Lan đã khá quen với bọn họ. DadaShasha tên thật là Giải Quýnh, tấm danh thiếp anh ta đưa cô thì in là Giải Cánh. Cách nói năng khi ăn nhậu giống hệt phong cách anh ta “chấp chính” trên diễn đàn: võ đoán nhưng lại rất hài hước.

 

[2] Lực sĩ thời Tần-Hán

 

“Nào, mời bạn Na Lan nâng cốc! Thật to gan, dám đến nghịch nước với bọn anh, và cũng bạo mồm nữa, nhưng đúng là có bản lĩnh bơi lặn, hơn hẳn các người đẹp mới biết bơi, còn phải cố thêm nữa. Bọn anh có thể gọi em là “cô” được rồi..”

 

Một anh cười cười, xen vào: “Thế thì ai là thầy?”

 

Giải Quýnh nói: “Hỏi vớ vẩn! Cậu không nhìn thấy “thầy” lái chiếc xe Land Rover đưa bạn Na Lan đến à, đúng không?”

 

Na Lan biết họ muốn “khai thác” cô. “Các anh không biết à? Em ra đường làm bộ thiểu não đáng thương, thế là vẫy xe đi nhờ được. Người tốt trên đời này vẫn rất nhiều.”

 

Thấy cô không đụng đến rượu, Bế Tiểu Châu nói: “Giải Quýnh, đừng ép nữa, nếu Na Lan không biết uống rượu thì để bạn ấy uống Cô-ca.”

 

Na Lan nâng chén rượu: “Tôi không uống được nhiều, chỉ uống cùng các bạn một chén, rất vui vì được làm quen với các bạn cũng đam mê bơi lội như tôi.”

 

Mọi người đều cạn chén. Na Lan nói: “Bây giờ tôi xin uống cô-ca.”

 

Một anh hỏi: “Này, bạn phát tài ở nơi nào?”

 

Na Lan: “Phát tài gì chứ? Tôi chỉ là sinh viên đại học Giang Kinh.”

 

“Ngành nào?”

 

“Hơi buồn. Khoa học Xã hội. Tôi kể một mẩu chuyện thú vị nhé! Tôi có một sư huynh, một hôm anh ấy cầm “chỉ dụ” của chủ nhiệm khoa đến ép tôi phải cùng anh ấy đến thư viện đại học Giang Kinh tìm một tài liệu cổ lỗ sĩ. Các anh biết rồi: một số tư liệu mà thư viện trường lưu giữ còn phong phú hơn cả thư viện thành phố, khiến tôi được dịp mở rộng tầm mắt. Ví dụ, thư nhà do chính Lý Hồng Chương viết, hoặc Hồng lâu mộng bản in đời Thanh chẳng hạn. Cả hai lục tìm khắp, tôi vô tình phát hiện ra một thứ rất hay ..” Giọng Na Lan nhỏ dần, chậm rãi.

 

Giải Quýnh nói: “Chắc sẽ là…rất bất ngờ đây. Một chuyện tiếu lâm, ví dụ, nhìn thấy con chuột chết!”

 

Na Lan cười: “Gần đúng! Các anh đã bao giờ nghe truyền thuyết đáy hồ Chiêu Dương có kho báu chưa?”

 

Na Lan quan sát thấy anh thì ngơ ngác, anh thì gật gù, Giải Quýnh và Bế Tiểu Châu thì nhìn nhau, cô bèn nói: “Chuyện là thế này, nghe nói tể tướng ác ôn thời Nguyên tên Bá Nhan suốt đời vơ vét của cải, rồi cất giấu ở đáy hồ Chiêu Dương. Không ai biết kho báu ấy chứa bao nhiên vàng bạc, nhưng tôi nghe có người ước tính: chỉ cần lấy được một phần rất nhỏ cũng thừa sức để đo với một số đại gia ở địa phương này, ví dụ các ông Tư Không Trúc, Trần Phẩm Chương, Vương Yên.”

 

Giải Quýnh nói: “Tiếp tục đi, bạn nói là tìm thấy một thứ rất hay trong đám sách cổ.”

 

Na Lan nhìn khắp lượt các anh chàng, rồi hỏi: “Các anh không thể đoán ra à?”

 

Bế Tiểu Châu hỏi: “Chắc là bản đồ giấu của?”

 

“Là một mảnh da dê, trên đó vẽ bản đồ hồ Chiêu Dương, đánh dấu các vị trí giấu của.”

 

Tất cả im phăng phắc.

 

Rồi Giải Quýnh hỏi: “Cô bạn ơi cô vẫn đang nói đùa phải không?”

 

Na Lan cười không đáp, nhấp một ngụm cô-ca. Một anh hỏi: “Bạn tìm bọn tôi, là đề cập chuyện này à?”

 

Mấy anh khác lừ mắt nhìn anh ta, ngạc nhiên vì nêu một câu hỏi quá thộn. Na Lan hỏi: “Nếu chỉ là kể cho vui, thì thật là vô nghĩa!”

 

Bế Tiểu Châu hỏi: “Bạn định kéo chúng tôi cùng đi tìm kho báu chứ gì?”

 

Na Lan gật đầu.

 

Giải Quýnh nói: “Bạn ấy vẫn là nói chơi thôi, vì đã đọc quá nhiều sách viết về đào trộm mộ cổ. Đừng trêu bọn anh nữa. Làm gì có ai biết một kho của nhưng không ăn một mình, lại kéo một lo người khác đến ăn chia? Và, bạn không sợ bọn anh có ý đồ đen tối, ép bạn giao nộp bản đồ giấu của sao, sau đó diệt khẩu..hay sao?”

 

Na Lan cười: “Có ý đồ đen tối mà lại nói ra à? Chuyện Bá Nhan giấu của dưới lòng hồ, nói thật nhé, dù có bản đồ tôi cũng không thể tìm ra. Vì các ký hiệu trên đó không chính xác, địa hình đáy hồ nơi gần đảo Hồ Tâm lại rất phức tạp, cỏ nước mọc chằng chịt, lại có rất nhiều đá ngầm. Đã có lần tôi bị vướng chân vào cỏ nước, suýt chết, suýt nữa không còn ngày hôm nay ngồi đây uống cô-ca. Cho nên tôi muốn có thêm vài cặp mắt, vài cái đầu khôn ngoan để cùng nhau phát tài. Các bạn nên tin rằng chỉ cần vơ được một phần rất nhỏ của kho báu thì chúng ta không cần bán sức cho các ông chủ nữa.”

 

Bế Tiểu Châu nói: “Tôi nói thật, tôi cũng nghe nói đến cái truyền thuyết ấy từ lâu, trước đây cũng từng có người dựa vào tấm bản đồ nào đó đi tìm của, nhưng hình như chẳng thấy ai được khá lên.”

 

“Có lẽ họ không có được bản đồ chính xác.Tất nhiên tôi chỉ giả sử bản đồ tôi đang có là chính xác”. Na Lan biết mình chỉ có tờ photo bản đồ. Nếu tấm bản đồ da dê ghi chuẩn xác các vị trí thì e nó đã bị người ta tranh cướp, xé nó thành trăm mảnh rồi. Nó có phải bản đồ giấu của không, không quan trọng, thậm chí dù không có nó cũng chẳng sao, nó chỉ là một đạo cụ trong kế hoạch của cô mà thôi.

 

“Được! Giả sử bản đồ bạn vớ được là thật, bây giờ bạn định thế nào?”

 

“Trước hết ta phải giữ bí mật. Tôi muốn có người hợp tác thật nhưng tôi không muốn một người dân Giang Kinh nào chạy đến đòi chia chác. Mấy chúng ta ngồi đây đều không phải chuyên nghề đi tìm kho báu, ta chỉ có thể dùng những ngày cuối tuần, trước hết phải tập luyện ở gần hồ Chiêu Dương, nhân đó thăm dò cho quen địa hình đáy hồ, nhằm giảm thiểu sác xuất xảy ra sự cố. Khi đã chuẩn bị tương đối rồi, ta sẽ chọn một buổi tối thời tiết thuận lợi, chính thức hợp tác sục tìm kho báu, ta sẽ lật từng tảng đá quanh khu vực khả nghi đã được đánh dấu trên bản đồ.” Na Lan giả bộ chợt nhớ ra điều gì đó, cố ý hỏi: “À quên chưa hỏi, các bạn có thật sự hứng thú hay không?”

 

Một anh nói: “Câu này mới thật sự là nói đùa! Bọn tôi đâu có mất mát gì? Kể cả không tìm thấy gì hết thì coi nó như một chuyến tập lặn, chứ sao?”

 

Giải Quýnh hỏi: “Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao bạn không tìm người ở quanh hồ Chiêu Dương, mà lại đi tìm bọn tôi?”

 

Na Lan nói: “Dân Giang Kinh kỳ cựu như anh đều biết: sông Thanh An và hồ Chiêu Dương tuy thông nhau, nhưng hai bên lại gần như hai thế giới. Nếu tôi tìm người ở gần hồ, dân cứ hai bên sẽ giao lưu bàn tán, thông tin lan nhanh, lúc đó sẽ có hàng tỷ người đến tìm kho báu.”

 

“Thế thì anh em ta phải giữ miệng cho kín mới được!”Giái Quýnh tổng kết.

 

“Nhưng còn điểm này nữa, chúng ta phải chuẩn bị tư tưởng: coi chừng tai vách mạch rừng, nếu người khác biết chuyện thì có nguy cơ “bọ ngực bắt ve, chim sẻ chực sẵn”, thậm chí xảy ra hậu quả tấn công giết chóc như nickname DadaShasha[3] của Giải Quýnh.”

 

[3] DadaShasha nghĩa là lính đánh thuê.

 

Bế Tiểu Châu đưa ra câu hỏi mà anh định hỏi từ lâu: “Giả sử mèo mù vớ cá rán, chúng ta tìm thấy kho báu rồi sẽ thế nào?”

 

Na Lan nói: “Ỏ đây có sáu người, sẽ chia thành sáu phần đều nhau.”

 

Mọi người dường như không tin nổi Na Lan lại hào phóng như thế, nên đương nhiên không ai thắc mắc gì hết, họ chỉ nhìn Na Lan bằng ánh mắt kì lạ.

 

“Và, tôi cũng đã nghĩ đến việc đặt tên cho nhóm chúng ta rồi”

 

Gọi là “Thả con săn bắt.”

 
 
 

Chương 39: Thả con săn bắt

 

Na Lan không thể khẳng định mấy anh bạn bơi lội này có nảy sinh ý đồ hay không, nhất là khi đã biết cô đang nắm giữ bảo bối. Nhưng cô vẫn rất may mắn vì Giải Quýnh là “người lương thiện” thứ thiệt.

 

Na Lan, Đặng Tiêu và hai “cộng sự” của anh ngồi trong chiếc xe đỗ không xa quán ăn. Tối nay hơi đặc biệt, cô mời họ hộ giá, nếu trong và ngoài quán ăn có hiện tượng gì khác thường thì sẽ xông ra càn quét. Na Lan biết trong số thực khách vừa nãy có một thuộc hạ của Đặng Tiêu.

 

“Tôi nghĩ cô bắt đầu đùa với lửa rồi!” Đặng Tiêu nói.

 

“Nói đúng ra là đùa với nước!”

 

Đặng Tiêu: “Thực ra so với cô, tôi còn muốn lập tức tìm ra hung thủ đã hại Diệc Tuệ, nhưng tôi lại không muốn mất đi người mà tôi đang quan tâm.”

 

Na Lan cảm kích nhìn Đặng Tiêu, cô thấy ấm lòng, cô hiểu tình cảm của anh dành cho cô, cho nên cô rất kính nể việc anh giữ khoảng cách với cô. Anh không bám riết, không ép đụng chạm hôn hít, không hề nói năng chớt nhả. Dường như anh đang nỗ lực điều chỉnh lại cảm nhận ban đầu coi Na Lan là người thế chỗ cho Diệc Tuệ. Anh đối xử với cô rất tinh tế, hết lòng, mà không đòi hỏi đền đáp. Thậm chí không hề hỏi về kế hoạch hão huyền này của cô.

 

Cô dịu dàng nói: “Anh yên tâm, còn nhiều người khiến tôi phải nghĩ, phải lo, cho nên tôi sẽ rất thận trọng.”

 

Đặng Tiêu mỉm cười, anh hiểu ánh mắt của cô là gì. Na Lan ngẫm nghĩ, nếu Đặng Tiêu không bị hai lần sốc bởi mất Diệc Tuệ và Diệc Tuệ mất tích, không suốt ngày ưu tư, thì anh sẽ là một chàng trai ngời ngời rất có sức hút. Số phận thật trớ trêu, không buông tha ngay một con người sinh ra trong nhung lụa.

 

Phần lớn ven hồ Chiêu Dương nước khá nông, không thích hợp cho việc tập lặn. Gần đảo Hồ Tâm thì có vài chỗ rất tốt, nhưng Na Lan biết rằng gần đó lại là “khu vực cấm” đối với cô. Chẳng phải cô sợ ai, mà là vì cô không muốn tự chuốc lấy ngượng ngùng vô duyên. Na Lan mất hai ngày tròn để khảo sát thực địa vòng quanh hồ Chiêu Dương, cuối cùng đã tìm được chỗ thích hợp để lặn, là khu vực ngoài thị trấn Mễ Trang thuộc huyện Dương Phụ, Giang Kinh, có đường cao tốc chạy qua, nước sâu, thỉnh thoảng thấy có người ra đó tập lặn. Kế hoạch của cô là cùng nhóm Giải Quýnh tiếp tục tập lặn, nhất là nâng cao kỹ thuật cơ bản, sau đó sẽ dần chuyển dịch về phía đảo Hồ Tâm.

 

Tuy đã luôn dặn dò cả nhóm phải giữ mồm giữ miệng chớ hé lộ với bất cứ ai, nhưng thực ra cô lại mong tin tức bị lan truyền.

 

Để cho tin túc về nhóm “Thả con săn sắt” bay đi như có cánh, là tâm điểm kế hoạch của Na Lan. Ba nạn nhân trong “vụ án năm xác chết”, thêm người thứ tư bị hại là Phùng Triết, đều đã từng tham gia một nhóm thám hiểm kho báu cách đây ba năm. Nếu vụ án năm xác chết có liên quan đến kẻ giấu mặt tổ chức ra nhóm thám hiểm ấy, và, nếu hắn là người bản địa Giang Kinh – kẻ mà băng ghi âm của Phùng Triết để lại đã nhắc đến, thì một khi tin đồn về nhóm săn kho báu truyền đến tai hắn, nhất định hắn không thể ngồi yên.

 

Hắn sẽ trở thành vị khách không mời mà đến, hắn sẽ theo dõi sát sao nhóm “Thả con săn sắt” rất không chuyên nghiệp này.

 

Sau đó sẽ dụ rắn ra khỏi hang.

 

Na Lan vẫn đang cân nhắc, tính toán tỉ mỉ các thao tác cụ thể của kế hoạch.

 

Cô gửi Email thông báo địa điểm “hạ thủy” ở Mễ Trang cho từng thành viên, và hẹn họ tập trung huấn luyện vào tối thứ Sáu. Tầm nhìn dưới nước vào ban ngày hay ban đêm đều khác nhau, nhưng khi lặn sâu xuống thì tầm nhìn chẳng khác nhau là mấy, vẫn phải dùng đèn rọi. Na Lan đã rất có kinh nghiệm về dùng đèn rọi, nhóm Giải Quýnh thì hiếm khi lặn vào ban đêm và cũng hiếm khi lặn sâu gần hai chục mét. Nhất là vì đáy sông Thanh An đôi khi có dòng chảy ngầm rất xiết, sông không phải là nơi lý tưởng để lặn.

 

Họ đã tập vài đợt, bắp chân đã mỏi nhừ, bèn lên bờ ngồi uống bia nhắm với thịt muối, vịt quay, chân giò, thịt bò khô, khá thịnh soạn.

 

Mọi người rôm rả trò chuyện. Na Lan nói: “Các bạn có nhiều kinh nghiệm về lặn hơn tôi, nhưng nếu chúng ta có một huấn luyện viên chỉ bảo cho thì sẽ càng hay hơn.”

 

Bế Tiểu Châu chỉ về phía đảo Hồ Tâm xa xa, nói “Bên đó có một sư phụ!”. Na Lan biết là ai.

 

Ôi, anh ta đánh trúng điểm yếu của mình. Cô đành hờ hững hỏi: “Là ai?”.

 

“Tay nhà văn tên là Tần Hoài, rất nổi tiếng. Tôi cũng nghe nói – giống như bạn nói hôm nọ - dân quanh hồ và dân ngoài sông là hai thế giới khác nhau, ai biết phận người nấy, Tần Hoài chưa bao giờ sang sông bơi lặn cả. Tôi cũng nghe người bạn kể rằng Tần Hoài từng làm nhân viên cứu hộ, làm nghề trục vớt cho bên công an. Nghe nói anh ta từng cứu sống con gái ông Tư Không Trúc.”

 

Na Lan chỉ muốn lặn ngay xuống nước, càng sâu càng tốt. Gã Giải Quýnh đâu có hiểu cho, còn nói: “Hôm nọ tôi nhìn thấy ở đâu đó một tờ thiếp, hai người sắp cưới đến nơi.

 

Bế Tiểu Châu: “Sớm muộn gì họ cũng lấy nhau. Nghe nói cô con gái ông Tư Không Trúc sau lần được Tần Hoài cứu sống thì tuyên bố rằng sẽ chỉ lấy Tần Hoài chứ không lấy ai khác.”

 

Giải Quýnh: “Số tôi đen thật, nếu tôi thấy cô ta ngã xuống nước, tôi thừa sức đưa cô ta lên bờ an toàn.”

 

Một anh khác nói: “Nhưng cậu nên ra hồ soi mình trước đã, cậu có đẹp trai bằng Tần Hoài không? Dù không có cô con gái ông Tư Không Trúc thì anh ta vẫn có hàng trăm fan sẵn sàng lăn xả vào!”.

 

“Thật chẳng đâu vào đâu, sao lại nhắc đến anh ta? Tôi không muốn gã nhà văn ấy dính vào chuyện này đâu.” Na Lan nhìn đồng hồ trên di động, nói: “Các sư huynh ơi, muộn rồi.” Cô đứng lên.

 

Không hiểu sao cô cứ cảm thấy có một đôi mắt đang chăm chú nhìn lại.

 

Không có chuyện đó! Đầy là lần đầu “dân bên sông” sang hồ “đi tiền trạm” kia mà?

 

Có thể là tin đồn luôn nhanh hơn cô tưởng tượng. Nói cho cùng, khoảng cách giữa bên sông và bên hồ, trên mạng chat và giữa các máy di động với nhau không thể gọi là quá xa.

 

Khi cô ngoảnh lại thì hình như người ấy tưởng đôi mắt của mình đã bị cô phát hiện ra.

 

Đương nhiên không thể.

 

Người ấy tin rằng mình đã ẩn nấp an toàn, nhất là khi có bóng tối che chở thì bất kỳ tội ác nào cũng được bọc kín.

 

Quan sát Na Lan càng lâu thì người ấy lại càng ngạc nhiên. Con bé đang chơi cái trò gì vậy?

 

Nhưng điều này thì có thể khẳng định: trò chơi sẽ ngày càng nguy hiểm và cũng ngày càng kích thích.

 

Người ấy cũng biết, chính vì trò chơi này mà Na Lan suýt chạm trán thần chết, nhưng đó chỉ là tạm thời. Khi trò chơi over thì sẽ là lúc cô ta kết thúc thật sự.

 

Có điều, đây mới chỉ là giả thiết, giả thiết rằng tất cả sẽ diễn biến theo hướng đã định. Vì trên đời này có quá nhiều kẻ điên rồ, có quá nhiều kẻ không kiểm soát nổi bản thân.

 
 
 

Chương 40: Điềm gở

 

Nhóm “Thả con săn bắt” tăng số buổi luyện tập, họ cách nhật lại tập trung một lần, và dần dần thử lặn thật sâu xuống hồ Chiêu Dương. Được Giải Quýnh và Bế Tiểu Châu chỉ bảo, kỹ thuật lặn của Na Lan nâng cao rõ rệt và vững vàng.

 

Đương nhiên cô cũng biết không phải Bế Tiểu Châu quá khiêm tốn, mà sự thật là các chàng trai này còn thua xa Tần Hoài về kinh nghiệm bơi lặn. Tần Hoài, cái tên thật đáng ghét, anh ta lại là thầy vỡ lòng cho cô về môn lặn.

 

Có lẽ vì mỗi lần lặn xuống, cái bóng của Tần Hoài đều dập dờn chơi vơi áp lại gần cô, có lẽ vì suốt một tuần ban ngày cô “cải trang” rồi đến trường học bù bài vở, cái đầu bị nhồi căng như muốn nổ tung, nên Na Lan bị ma xui quỷ khiến thì phải, buổi tối cô lò dò đến bãi để xe ở khu Lục Ô Thế Gia.

 

Liệu có phải chiếc xe Odyseia vẫn đang ở xưởng sửa chữa không, nhưng ít ra cô không trông thấy nó. Không thấy xe, lòng cô cũng trống trải bâng khuâng.

 

Tại sao mình lại đến đây? Cô chỉ muốn về thăm lại chốn xưa, chỉ muốn lại đi bơi. Dù tập lặn suốt, ngâm mình trong nước lâu như thế, nhưng vẫn không thể thay thế cho đi bơi.

 

Trong tiểu khu nơi ở của Đặng Tiêu cũng có bể bơi nhưng Na Lan chưa từng bước xuống. Cô sống ở đó sướng như công chúa, nhưng nơi ấy không thuộc về cô.

 

Ban ngày, trong ngôi nhà sang trọng, dù tĩnh mịch đến mấy, Na Lan vẫn không hề tĩnh tâm để gỡ bao mối suy tư đang chồng chéo. Cũng là vì cô không thuộc về nơi này. Cô cảm thấy phải ngâm mình trong nước hồ thì mới thanh lọc được cõi lòng, tự mình đàm phán với mình để hóa giải từng mối ân oán.

 

Trước khi ra khỏi nhà cô đã mặc sẵn áo bơi. Cô mơ hồ lấy ra bộ áo lặn mà Tần Hoài cho cô, mặc vào. Cô không hiểu sao mắt mình lại ươn ướt. Mau xống nước thôi, nước mắt và nỗi nhớ sẽ hòa tan trong đó. Cô giận mình đã lớ ngớ rồi lún sâu đến thế này. Nhưng cô vẫn không dừng lại, cô nhào xuống nước.

 

Ánh trăng trong trải trên mặt hồ, giữa những vảy bạc mờ mờ lấp lánh có cánh tay dài đang vẽ nên những đường cung tuyệt đẹp, đường cung có phần bất lực và không biết điểm dừng là đâu, bắn lên những bọt nước không cao, không dữ dội đầy vẻ bi thương mà giống như sự trầm lắng vui thì ít buồn thì nhiều.

 

Tại sao, tại sao anh ấy lại làm thế này?

 

Bao ngày qua Na Lan vẫn không hiểu tại sao Tần Hoài lại bất ngờ đổi thay như vậy. Cô cũng không hiểu tại sao mình vẫn khắc khoải nhớ nhung. Có phải, truớc buổi tối hôm ấy họ đã là người yêu, người này yêu nguời kia? Họ phải giữ một lời thề gì đó?

 

Cô vẫn bơi theo huớng cũ, mục tiêu vẫn là hòn đảo vô tình ấy, nhưng chỉ có mình cô đơn độc lặp lại tuyến đường này.

 

Mặt nước im ắng, bọt nước bắn tung, ca-lo tiêu hao rất lớn. Đây không phải là nơi tốt nhất để suy nghĩ cho chín chắn hoặc phó mặc cho tình cảm rối bời, nhưng tâm trí cô vẫn vững vàng. Chỉ vào lúc này đầu óc cô mới thật sự tỉnh táo. Cô đang suy nghĩ mà hình như không phải thế, cô đang dần quên đi nhưng lại không sao quên nổi. Một trạng thái hoàn mỹ giữa muốn quên đi mà lại rất khó quên. Không rõ từ lúc nào cô bỗng không quạt nước nữa, mặc cho cơ thể thoải mái thả lỏng, lười nhác nằm trên mặt nước ngắm trời sao thưa thớt. Thích ca mẫu ni đang ngồi bên gốc cây bồ đề, cô đang dưới nước, cũng nghĩ về rất nhiều thứ mà lại như chẳng nghĩ gì cả.

 

Chỉ khác ở chỗ, chắc chắn đôi mắt Thích ca không trào lệ.

 

Tại sao tiếng đập nước bỗng mạnh lên? Lẽ nào tại mình khóc, cơ thể làm rung cả mặt nước?

 

Một đám mây bỗng che khuất phần lớn mặt trăng.Khi Na Lan nhận ra dưới nước có người thì đã muộn.

 

“Na Lan? Đúng là cô à?

 

Ai thế? Chẳng lẽ đúng là anh ấy? Thì ra khoảng cách giữa mơ và thực cũng gần.

 

Dù ánh trăng đang rất mờ, cô cũng nhìn rõ đôi mắt quen thuộc và đầy quan tâm. Tần Hoài.

 

Cảm ơn trời đất, may quá, khi bốn mắt giao nhau, cô không rơi lệ nữa. Cô ngoảnh đầu đi, hít thở điều hoà, xua đuổi tâm trạng đang xốn xan bất định.

 

Tôi có tự trọng của tôi.

 

Tần Hoài lại hỏi: “Khuya thế này sao lại một mình ra đây bơi?”

 

Thừa hiểu rồi nhưng vẫn hỏi, có phải cánh đàn ông đều thế không? Na Lan không tin là thế. Tần Hoài nhẹ vỗ vào vai Na Lan, cô như rùng mình, quẫy mạnh thoát ra.

 

Tôi phải có tự trọng.

 

“Tôi phải xa cô vì không muốn cô bị tổn thương” Tần Hoài nói.

 

Nghe thật hay ho, hãy để dành mà đưa vào tiểu thuyết ly kỳ rớm tình ái thật của anh! Na Lan bắt đầu đạp nước, rồi từ từ bơi cách xa Tần Hoài.

 

“Sao cô chẳng nói gì cả?” Tần Hoài đã nhận ra Na Lan chỉ một mực im lặng.

 

Cô biết, nếu mình lại bắt chuyện với anh ta thì sẽ là hai lần liên tiếp vấp phải một hòn đá. Cũng như mọi cô gái thông minh khác, cô rất nhạy cảm.

 

Tiếng quạt nước xa dần, Tần Hoài máy môi định hỏi tiếp thì lại có tiếng người bơi đến gần, một than hình cao to, anh ta dừng lại rồi kinh ngạc kêu lên: “Na Lan. Đúng là Na Lan”.

 

Phuơng Văn Đông.

 

Na Lan giơ tay vẫy Phương Văn Đông, có nét thân thiết.

 

Phương Văn Đông không đần, anh nhận ra tình thế lúng túng giữa Tần Hoài và Na Lan, anh cười nói: “Ngẫu nhiên thật thú vị, chúng ta đều ra đây bơi!.”

 

Từ phía không xa lắm có tiếng động cơ vọng đến, dưới ánh trăng, một chiếc ca-nô màu trắng đang từ phía đảo Hồ Tâm phóng lại. Hình như nó biết rõ họ đang ở vị trí nào, nó chạy thẳng tắp, mũi ca-nô gắn ngọn đèn pha sáng chói.

 

Na Lan biết người trên đó là ai, cô tăng tốc bơi trở về, cố tránh xa tuyến đi của ca-nô. Lúc này cô càng mong có thể ẩn vào trong vùng tối mà đèn pha không rọi đến để tiếp tục giữ im lặng.

 

Đúng thế, chiếc ca-nô dừng bên cạnh Tần Hoài, đứng trước mũi ca-nô là Tư Không Tình thướt tha duyên dáng.Tần Hoài và Phương Văn Đông lên ca-nô. Tư Không Tình hôn vào trán Tần Hoài, anh hôn lại.

 

Na Lan khóc thầm.

 

Ca-nô chạy đi rồi, cô nhìn qua làn nước mắt thấy Tần Hoài ngoảnh lại nhìn về phía cô đã mất hút. Nhưng cũng có thể cô đã nhìn nhầm. Chỉ là đơn phương, nhất là cô lại nhìn qua màn nước dày thế kìa. Cô cảm nhận sâu sắc mình đang lặp lại số phận đáng buồn của nàng tiên cá bé bỏng trong truyện cổ tích của Andersen.

 

Cuối hè đầu thu, hơi nóng và hơi lạnh xung đột, hôm nay nắng mai mưa. Nhưng dự báo thời tiết cho biết tuần tới có thể mưa liên tục.

 

Mây dày và nặng, nhưng lúc này không những không mưa mà trăng còn sáng khác thường.

 

Một con thuyền nhỏ lướt ngang trên hồ.

 

Na Lan cùng Giải Quýnh và Bế Tiểu Châu đang chuẩn bị lần cuối cùng trước khi chính thức lặn xuống tìm kho báu ấn định vào tối mai. Tiểu Châu thuê của bạn con thuyền nhỏ, rồi dùng ô-tô chở đến. Trước khi xuất phát họ tạm để nó bên bờ hồ, vì thế Na Lan hơi ngạc nhiên khi trông thấy con thuyền này.

 

“Hai anh có nhìn thấy con thuyền không?” Cô hỏi.

 

“Thì có gì là lạ? Mọi ngày đâu phải không bao giờ có thuyền chạy vào buổi tối?” Giải Quýnh vác một bao nilon to tướng đưa xuống thuyền, trong đó có đủ thứ: nhiệt kế, đồng hồ đo độ sâu, đồng hồ đo nồng độ acid-base, thừng nilon và các dụng cụ khác liên quan đến chuyến lặn tối mai. Có đủ thứ, thừa còn hơn thiếu.

 

Na Lan nói: “Có thuyền bơi là bình thường, nhưng kỳ lạ ở chỗ nó tròng tránh đung đưa, hình như không người cầm lái mà là phó mặc sóng nước đưa đến đâu thì đưa.”

 

Giải Quýnh nói: “Bạn không biết à: có một số người lại thích thả lỏng cho thoải mái, không chèo thuyền cũng không nổ máy, họ đang ngắm trăng, đếm sao trời cũng nên, thật là lãng mạn!” Anh ta lấy ra chiếc ống nhòm rồi đưa cho Na Lan.“Cô em thích tò mò thì nhìn đi! Ống nhòm quân dụng, hệ số phóng đại cực lớn miễn chê. Không phải ống nhòm nhìn đêm nhưng lúc này đang sáng trăng thì vẫn nhìn tạm được. Nhưng nếu nhìn thấy đôi nam nữ thì cô em nên nhắm mắt lại!”.

 

Na Lan cười, cầm lấy ống nhòm.

 

Cô xoay xoay điều chỉnh tiêu cự, rồi chĩa vào còn thuyền nhỏ ấy.

 

Cô bỗng thót tim.

 

Có một người đang ngồi trên thuyền, người mặc áo tơi!

 

“Sao thế?” Cả Giải Quýnh và Tiểu Châu đều cảm thấy Na Lan bỗng thở gấp, tay cầm ống nhòm run bẳn, họ đồng thanh hỏi.

 

“Lời nguyền áo tơi trong mưa gió!”

 

“Gì cơ?”

 

Na Lan đưa ống nhòm cho Giải Quýnh, nói: “Nhìn đi, người ấy mặc áo mưa..Tiểu Châu cho thuyền chạy đến bên con thuyền ấy, tôi muốn nhìn xem ai ngồi trên đó.”

 

Giải Quýnh nhìn một lát rồi nói: “Đúng là hơi kỳ lạ, đang đẹp trời sao phải mặc áo mưa? Nhưng cũng có gì là ghê gớm, ở Giang Kinh này chẳng thiếu kẻ lập dị…Nhìn biết ngày hắn ta là đồ tâm thần ngồi đó bất động có vẻ như đang câu cá.”

 

Câu cá, hay là câu tính mạng?

 

Na Lan lớn tiếng: “Đừng dài dòng nữa, lên thuyền rồi hãy nhòm tiếp, cứ lề mề có lẽ nó chạy mất!”

 

“Thuyền ấy phạm pháp hay sao mà phải chạy?” Giải Quýnh thấy khó hiểu. Anh lên thuyền. Tiểu Châu nổ máy phóng thẳng về phía con thuyền có người mặc áo tơi.

 

Na Lan nhắc lại một lượt câu chuyện mê tín Lời nguyền áo tơi trong mưa gió. Giải Quýnh nói: “Anh cũng nghe nói rồi. Em là người rất lý trí, chắc không thể tin chuyện đó?”

 

“Đương nhiên không tin, nhưng tôi vẫn muốn đến tận nơi xem xem ai đang bày trò quái dị ấy”

 

Tiểu Châu nói: “Ít ra cũng chưa thấy dấu hiệu đó là một tên tội phạm bỏ trốn.”

 

Giải Quýnh tiếp tục quan sát bằng ống nhòm, nói: “Không những không có dấu hiệu bỏ trốn, mà gã này còn giả vờ không biết chúng ta đang nhiệt tình phóng đến, hắn vẫn ngồi vững như thái Sơn,”

 

Na Lan cau mày: “Hắn đang câu cá thật à?”

 

Giải Quýnh nói: “Chúng ta phải đến gần hơn nữa mới biết được. hình như có chiếc cần câu chênh chếch, nhưng không rõ lắm.” Một lát sau anh ta nói tiếp, “À, nhìn rõ rồi. Đúng là cần câu, không thể nhầm được.”

 

“Có thấy dây câu không?”

 

“Mắt tôi chưa đến trình độ ấy, bạn thử lên đây nhìn xem sao.”

 

Chỉ lát sau con thuyền của ba người đã đến gần con thuyền nhỏ kia, và cũng nhìn thấy toàn cảnh. Không đáng gọi là thuyền, nên gọi nó là mấy mảnh gỗ mục mới đúng. Một con thuyền nhỏ rất xập xệ, giống như những con thuyền cũ nát vẫn bị vứt bỏ trên sông, tuyệt đối không đủ sức để xuống nữa. Gã kia đang ngồi quay lưng về phía ba người, chiếc ao mưa đang mặc rách bươm, chiếc mũ cói trên đầu cũng thế. Hình như từ những năm Gia Tĩnh triều Minh đến giờ gã vẫn giữ cái tư thế bất động này. Lúc nãy Giải Quýnh nhìn nhằm: có một chiếc cần câu buông chếch xuống mặt nước, Na Lan hầu như tin chắc cần câu không có dây câu.

 

Giải Quýnh gọi to: “Này người anh em, họ Khương à? Là hậu duệ của Khương thái công[1] phải không?”

 

[1] Nhận vật lịch sử huyền thoại Khương Tử Nha (Khương thái công, Lã Vọng) thời cổ đại Trung Quốc nổi tiếng với hình ảnh “ngồi bên bờ sông Vị buông cần câu, nhưng không mắc dây câu”, ngụ ý “chờ thời thế”.

 

Bế Tiểu Châu bật cười: “Thôi nào DadaShasha, cậu đừng giở ngón ba que ra đây!”

 

Người mặc áo mưa vẫn quay lưng như trước, như thể không nghe thấy gì và không hề nhúc nhích.

 

Ba thanh niên đưa mắt nhìn nhau. Tiểu Châu hiểu ý, anh cho thuyền chạy vòng sang phía trước mặt ông ta. Hai thuyền giáp nhau, Giải Quýnh và Na Lan giướng người nhìn sang. Cái mũ cói sụp xuống che kín đầu và mặt ông ta. Thấy người lạ đang nhìn sang mình, ông ta vẫn không động đậy. Tay ông ta thu vào trong áo mưa, chiếc cần câu chĩa ra ngoài, và đúng là không hề mắc dây câu.

 

Cái mũ bị lật nghiêng lộ ra khuôn mặt. Khuôn mặt bằng cỏ khô! Buồn cười nhất là nó còn được đeo một cặp kính râm nữa!

 

Thì ra diễn viên chính của “áo tơi trong mưa gió” là một bù nhìn người cỏ, là đạo cụ của Gia Cát Lượng “xin tên” thời xưa[2] nhưng quên chưa vứt đi.

 

[2] Tình tiết trong Tam quốc diễn nghĩa: quân Thục dùng bù nhìn cỏ, lừa đối phương bắn tên vào, tên mắc lại vô số, đem tên về dùng.

 

Ai bày ra trò đùa này nhỉ?

 

Giải Quýnh cười ha hả: “Tối nay tôi sẽ lên diễn đàn công bố rằng Jinyiwei Na Lan bị một người cỏ doạ sợ run bần bật!”.

 

Na Lan thì không cười, cô tiếp tục cầm cần câu chọc ngoáy gã người cỏ.

 

Áo tơi rơi xuống, kính râm cũng bị gỡ ra, mặt mũi và toàn thân gã lở lói tả tơi.

 

Giải Quýnh thấy Na Lan thật kỳ cục, bèn trêu cô: “Em ơi sai rồi, em không nên bắt nạt một kẻ thất thế…”

 

Nhưng giọng anh ta chợt ngắt lại, đôi mắt mở to.

 

Từng búi có tiếp tục lở lói rơi xuống…cuối cùng, bên trong là một khối trắng xám.

 

Đó là làn da, làn da của người chết! Vùng mắt trắng đục kia..chỉ còn là hai cái hốc mờ mờ.

 

Một thây ma đang ngồi xổm trước mặt ba người!

 

Nhóm tìm kho báu cùng ngồi ăn bữa trưa ở nhà hàng MacDonald. Hầu hết thời gian họ cố giữ im lặng, ngay anh chàng Giảng Quýnh lắm mồm nhất cũng không nói một câu, tha6n hình to đùng ngồi trên ghế bé tẹo không ngớt động đậy.

 

Hình ảnh cái xác xám xỉn của Phàn Uyên vẫn lướt qua trước mắt Na Lan.

 

Cuối cùng vẫn là cô lên tiếng: “Nếu muốn rút lui, các anh cứ nói, đừng ngại, hoặc cứ ở trên bờ làm các việc hậu cần, chúng tôi tìm ra thứ gì đó, thì các anh vẫn có phần.”

 

Một anh nói: “Chị coi bọn tôi là người rơm chắc? Tôi được biết Lới nguyền áo tơi trong mưa gió chỉ là chuyện đồn đại mê tín vớ vẩn. Và, có lẽ ông già bỏ mạng ấy chẳng liên quan gì tới chúng ta cả..”Anh ta hơn Na Lan ít nhất là ba tuổi nhưng giao lưu trên mạng cứ thích gọi cô là chị. Bình thường thì không sao, nhưng lúc này thì nghe có vẻ không ổn.

 

Na Lan nói: “Đừng gọi chị chị gì nữa. Sau đây còn có nhiều chuyện mà chúng ta chưa biết, có những chuyện tôi đã biết nhưng chưa tiện nói ra.Vừa rồi tôi hỏi thế không phải là khích các anh, tôi thực lòng mong các anh cứ nghĩ cho kỹ.Tối nay lặn sẽ có nguy hiểm rình rập, hoặc nên hiểu rằng, nếu tham gia, dù không phải hôm nay thì vẫn sẽ có một ngày nào đó gặp nguy hiểm.”

 

Bế Tiểu Châu lạnh lùng hỏi: “Có lẽ ngay từ đầu bạn đã biết kế hoạch này rất nguy hiểm phải không?”

 

Giải Quýnh nói: “Ngay hôm đầu bạn ấy đã cảnh báo rồi, cậu quên à?”

 

Bế Tiểu châu: “Đương nhiên không quên. Chúng ta đều tự nguyện cả, bây giờ tất nhiên sẽ không bàn lùi”.

 

Na Lan cảm kích nhìn mọi người, rồi mở ví lấy ra một tờ giấy đặt xuống bàn, nói: “Đây là tất cả hy vọng của chúng ta”.

 

Mọi người xúm lại.Đó là một tờ giấy bình thường, photo một tấm bản đồ, vẫn thấy rõ các đường viền nham nhở của tấm bản đồ gốc. Thoạt nhìn, đúng là bản đồ một cái hồ, giữa hồ là hòn đảo, hình dáng hòn đảo rất giống với đảo Hồ Tâm trong hồ Chiêu Dương. Điều lạ lùng là trên bản đồ này không hề có một chữ Hán nào.

 

Bế Tiểu Châu lẩm bẩm: “Kho báu của Bá Nhan?” rồi anh ta ngẩng lên hỏi Na Lan: “Chữ Mông Cổ à?”

 

Na Lan gật đầu, nói: “Đúng, chữ Mông Cổ. Các bạn xem đây nữa.” Cô lật mặt sau. Trang sau là bản đồ đảo Hồ Tâm được phóng to ra, bên cạnh đảo có nhiều ký hiệu chi chit.“Đây là chỗ ven đảo bắt đầu xuống nước, ta có thể buộc thuyền vào hòn đá nào. Dưới nước có dấu hiệu gì để nhận ra đường, đều ghi chú rất cụ thể.”

 
 
 

Chương 41: Con thuyền và ông già mặc áo tơi

 

Dự báo thời tiết nói tối nay có mưa to, sấm chớp, nhưng lúc này trăng vẫn sáng trong, dù nó lúc ẩn lúc hiện giữa mây đen. Na Lan không biết mình nên mừng hay lo.

 

Cô cầm ống nhòm của Giải Quýnh quan sát khắp nơi. Màn đêm vô tận .

 

Không thấy ngư ông mặc áo tơi đi câu tính mạng .

 

Thuyền dừng lại cách bờ đảo khoảng năm mét, Bế Tiểu Châu xuống thuyền, buộc chặt sợi thừng vào hòn đá nhô cao có tên là “Long tu thạch”.

 

Na Lan đứng trên thuyền, cô hít thở sâu, nhìn khắp bốn bề. Trên mặt hồ, trong phạm vi tầm nhìn cho phép, chỉ có độc con thuyền này của họ.

 

Cô, Giải Quýnh và một người bạn nữa là Lưu Lợi Long nhẹ nhàng nhảy xuống nước. Sau đó cùng Bế Tiểu Châu là bốn, cùng biến khỏi mặt hồ. Hai anh khác ít kinh nghiệm sông nước hơn, thì lom khom trên đảo nấp vào khe đá và cỏ tranh, làm nhiệm vụ cảnh giới.

 

Bốn người chưa vội lặn xuống ngay, họ lần theo tuyến đã định lượn quanh đảo nửa vòng, đến một tảng đá ghềnh nhô lên thì mới từ từ lặn xuống. Đã tập luyện ăn ý rồi, họ luôn giữ cự ly thích hợp và sẵn sàng hỗ trợ tiếp ứng cho nhau. Na Lan dẫn đầu, rọi đèn vào la bàn treo ở cổ tay, đi theo tuyến mà cô đã thuộc. Thỉnh thoảng ngoái nhìn, thấy ba anh bạn đều rất tập trung chú ý, có thể hình dung họ đang rất trông chờ và căng thẳng nữa. Cô thầm thở dài. Nếu họ biết sự thật, biết rằng cái kế hoạch “Thả con săn sắt” của cô chỉ là treo đầu dê bán thịt chó thì họ sẽ nghĩ thế nào về cô? Có phải cô đang lợi dụng họ?

 

Nhưng ít ra thì tấm bản đồ vẫn là thật. Tần Hoài đã từng dựa vào bản đồ này sục sạo quanh năm mà chẳng ăn thua gì .

 

Có lẽ hiện giờ không phải lúc tự trách mình về mặt đạo đức. Biết đâu, chỉ sau buổi tối hôm nay tất cả sẽ được giải thích rành rọt.

 

Huống chi, cô không chỉ là dùng một mà là dùng hai tấm bản đồ gần như giống hệt nhau.

 

Sau khi có được tấm bản đồ da dê từ chỗ Cung Tấn, cô đã nghiền ngẫm nó mấy ngày liền, nhưng vẫn chỉ thấy nó là tấm bản đồ hồ Chiêu Dương bình thường, hầu như chẳng khác gì tấm bản đồ của Tần Hoài cả. Có nghĩa là, bất cứ ai có tấm bản đồ này trong tay cũng sẽ loay hoay ở hồ Chiêu Dương vài năm mà chẳng nhặt được một xu, giống như Tần Hoài.

 

Xem bản đồ mãi, cô cảm thấy mình đã bắt đầu mê tiền bạc, thật nực cười, nhưng cô không hoàn toàn từ bỏ; cái kế hoạch cô từng để tâm ấp ủ đã dần sáng tỏ trước tấm bản đồ, điều cần nhất bây giờ là phải hiểu sâu sắc về bản đồ này .

 

Ví dụ, các chỗ đánh dấu, tại sao lại khác với bản đồ của Tần Hoài?

 

Rất có thể chỉ là vì ở dưới nước vốn dĩ có các loại đá ghềnh hoặc địa mạo khác nhau, cho nên người này vẽ bản đồ sẽ dùng ký hiệu khác với người kia.

 

Vào lúc Na Lan cảm thấy bí thật sự, hết cách rồi, cô đành xếp hai tấm bản đồ lên nhau để cất vào cái cặp hồ sơ…

 

Đúng cái lúc xếp chúng lên nhau, cô nhận ra rằng hai hòn đảo trên hai tấm bản đồ đặt trên đặt dưới là trùng khít, chỉ có các dấu hiệu ở vùng ngập nước thì…

 

Trời ban phúc, đầu óc khôn hẳn lên. Cô chồng hai tấm bản đồ lên nhau rồi giơ ra trước cửa sổ, ánh sáng hắt lại. Các ký hiệu ở vùng ngập nước của từng tấm bản đồ vốn dĩ rời rạc bất quy tắc, thì lúc này chập lại chúng liền kết thành một tuyến đi rõ rệt!

 

Chính là tuyến mà các thành viên nhóm Na Lan tối nay đang lần theo.

 

Họ xuống sâu hơn, đã nhìn khá rõ đáy hồ. Na Lan dừng lại, vỗ vào một tảng đá ngay bên cạnh. Tảng đá bị đèn rọi chiếu vào, phản chiếu một màu trắng hoe vàng, chắc hẳn nó phải có hàm lượng kim loại khá cao. Điều thú vị là tảng đá này trông hơi giống hình con gà trống.

 

Ba người bạn phái sau cũng cụm lại, gật gù. Chắc đây là hòn đá “Phượng nghi thạch” mà bản đồ đã đánh dấu. Theo chỉ dẫn và suy luận tỷ lệ bản đồ, phía dưới, bên phải “Phượng Nghi thạch” ba trượng – xấp xỉ mười mét – là điểm kết thúc của “tuyến đường”.

 

Ờ đó chỉ có một khối đá cực lớn tựa sát vào thân đảo Hồ Tâm.

 

Na Lan biết, bên dưới tảng đá này là một cái hốc không sâu, cô đã cài sẵn vào đó vài cái túi da màu đen, bên trong có nhét mấy hòn đá. Cô đương nhiên rất biết chuyến đi “thám sát báu vật” hôm nay sẽ không thu được gì, nhưng với các anh bạn này thì rất cần chứng tỏ có “thu hoạch rành rành”. Đây là một trong những điểm then chốt trong kế hoạch của cô.

 

Ba chàng trai vây quanh tảng đá tuần tra một lượt, không thấy có gì lạ.

 

Na Lan không tham gia tìm kiếm. Đây là lần thứ tư cô đến trước tảng đá này, đã biết rõ nó chẳng có gì huyền bí, cô tuyệt đối không tin có thể tìm thấy kho báu gì ở đây, câu chuyện áo tơi trong mưa gió chỉ là chuyện vui trong kho ký sự văn học thời Minh-Thanh.

 

Lời nguyền áo tơi trong mưa gió thật sự, thì cả nhóm đã thấy rồi, Phàn Uyên biến thành cái cốt của người cỏ - một cơn ác mộng kinh hoàng.

 

Lời nguyền áo tơi trong mưa gió thật sự, cũng đã xảy ra trong cuộc sống của cô.

 

Đã đến lúc tỉnh lại, trở về với đời thực, trở về bến xưa[1]

 

[1] Nguyên văn: quay đầu ấy là bờ giác ngộ; cách nói của phật học.

 

Lưu Lợi Long liều lĩnh trườn sang bãi cỏ nước phía sau tảng đá sát với thân đảo Hồ Tâm, lập tức bị Bế Tiểu Châu kéo giật lại. Dù trong hoàn cảnh nào, cỏ nước vẫn là virus ngựa gỗ[2] đối với thợ lặn.

 

[2] Ý nói: có vẻ bình thường nhưng rất nguy hại, virus trojan horse là một loại virus máy tính.

 

Nhưng một ý nghĩ vụt đến với Na Lan.

 

Cô nhoài người qua tảng đá, chăm chú nhìn đám cỏ nước.Chúng mọc từ thân đảo vươn ra, chằng chịt dày đặc.Cô bỗng cảm thấy vách đá ở đây có nét quen quen, ngoại trừ… cỏ nước. Giả sử không có cỏ nước, giả sử phía sau đám cỏ nước có một khe đá, nó là lối vào, nếu luồn qua nó chui vào sẽ thấy một hang động giống như hang động bí mật của Tần Hoài tưởng niệm Quảng Diệc Tuệ…

 

Nếu cô chưa từng cùng bám theo Tần Hoài bơi vào cái hang mà Tần Hoài sở hữu ấy thì cô sẽ không có cái cảm giác quen quen này. Và không bao giờ có ai nghĩ rằng phía sau đám cỏ nước rậm rạp kia có thể có một khe đá.

 

Đám cỏ nước!

 

Na Lan trườn lên, cô vẫy ba người bạn. Cô rút con dao nhỏ cắt từng búi từng búi cỏ nước. Các cọng cỏ trôi khắp nơi, dập dờn bên cạnh mọi người.B a người bạn cũng rút dao ra cùng cô “diệt cỏ”.

 

Họ nhanh chóng hiểu ra ý định của cô.

 

Cỏ nuớc đã bị cắt bị nhổ hết, vách đá lộ ra một khe nứt hẹp nhưng vẫn đủ cho một người lách vào.

 

Bốn người nhìn nhau, đầy hiếu kỳ và mong đợi nhưng không biết tiếp theo nên làm gì. Tất nhiên là “vào hang”. Nhưng nên “ưu tiên” phụ nữ, hay nam nhi nên dẫn đầu vào chốn có thể nguy hiểm này?

 

Bế Tiểu Châu vỗ vai Na Lan rồi lại chỉ vào mình. Na Lan gật đầu, hiểu ý: anh ta muốn vào trước, cô theo sau.

 

Bốn người lần lượt tiến vào.

 

Khe đá rất hẹp, rất bí, hai bên vẫn có cỏ nước bò lan tua tủi, lại rất dễ bị cộc đầu vào các mỏm đá nhấp nhô nhọn hoắt. Khi vào sâu chừng chục mét mới dần rộng ra, và cũng dần dâng cao lên. Na Lan có cảm giác quen quen là phải, ở đây như tái hiện khung cảnh cái buổi tối mà cô bám theo Tần Hoài hồi nọ. Đương nhiên đây không phải cái hang động dưới nước mà Tần Hoài và Quảng Diệc Tuệ phát hiện ra và “sở hữu” nó, vì cô còn nhớ rất rõ ở đó không có cỏ nước che chắn, lại là nơi Tần Hoài thường xuyên ra vào nên có nhiều dấu hiệu do bàn tay con người tác động sửa sang.

 

Nhưng sự giống nhau của hai nơi này vẫn khiến cô kinh ngạc: lối vào rất hẹp, địa thế dần lên cao, và cả khi hết lối lên thì phần nóc cũng y hệt nhau, có một phiến đá nhẵn bóng. Có điều, gần đây mực nước hồ Chiêu Dương lên cao, khi cô lên đến đỉnh thì vẫn ngập trong nước, chứ không như lối lên cái hang của Tần Hoài, có thể thò đầu lên. Khác với các hồ nươc ngọt khác, mực nước hồ Chiêu Dương lên xuống rất rõ rệt. Nguyên nhân mực nước thay đổi là gì, các nhà khoa học chưa nhất trí. Thường có hai cách lý giải: một là, hồ Chiêu Dương thông với sông Thanh An, mực nước sông Thanh An lên xuống theo mùa, sẽ ảnh hưởng đến mực nước hồ. Hai là, vì đáy hồ có rất nhiều hang hốc, phía dưới hang lại có dòng chảy ngầm, dòng chảy ngầm biến đổi cũng ảnh hưởng đến mực nước hồ.

 

Na Lan sờ lên nóc thăm dò, rồi ra hiệu cho Giải Quýnh đến. Cả hai cùng vần, đẩy, nâng, cuối cùng phiến đá đã bị đầy ra, phía trên là một cửa hang hình tròn.

 

Thuận theo dòng nước, cô nhoài lên, chui vào hang động.

 

Cả ba người bạn cũng lần lượt vào, rồi đứng lên, nước ngập đến thắt lưng.

 

Đèn rọi khắp lượt, hang động trống không. Na Lan vẫn kinh ngạc vì hình như khoảng không gian này và cái hang của Tần Hoài, nằm ở hai phía của đảo, là do con người cố ý đục đẽo tạo nên hai nơi giống nhau.

 

Bế Tiểu Châu ngạc nhiên: “Bạn đã từng vào đây à?”

 

Na Lan đáp: “Tôi lần đầu tiên vào đây, nếu nói dối bạn, tôi là đồ con lợn”.

 

Giải Quýnh cười: “Mỹ nhân trư à?” Anh ta lại trầm trồ: “Ở đây rộng thật, một hôm nào đó bơi lội xong, có thể đem bia và đồ nhắm lại đây nhấm nháp thì sướng mê!”.

 

Lưu Lợi Long: “Nếu có thể vác cái bàn bi-a vào đây chơi thì càng hay!”

 

Bế Tiểu Châu: “Các cậu chỉ giỏi tính chuyện nhậu nhẹt ăn chơi thôi! Nhưng dù sao chuyến đi này của chúng ta cũng không vô ích, đã phát hiện ra một sân chơi đa năng, chỉ hiềm ở đây trống trơn không có gì hết. Ta đi thôi!”.

 

“Khoan đã” Na Lan bước lên phía trước. Nếu cấu tạo nơi này giống như hang kỷ niệm Diệc Tuệ của Tần Hoài thì địa thế sẽ lên cao dần, hơi có vẻ bằng phẳng và đi sâu vào trung tâm hòn đảo. Cả bốn người bèn bì bõm lội nước một quãng. Đúng thế, địa thế cơ bản bằng phẳng nhưng hơi dốc lên cao. Cuối cùng họ đi hết cái hang. Lúc này nước chỉ ngập tới đầu gối. Na Lan soi đèn vào các vách hang. “Các bạn nhìn kỹ đi, hình như vách hang không hoàn toàn do thiên nhiên tạo nên” Cô bước lên chỉ vào vài chỗ trên vách đá “Ví dụ ở đây, hình như bị tách ra khá phẳng phiu; chỗ này thì lại có mõm đá dài dài nhô ra như cây gậy nhẵn nhụi, hiếm khi có đá tự nhiên hình thù như thế này.”

 

Bế Tiểu Châu cũng bước lại gần nhìn kỹ, gật đầu nói: “Có lý!” Rồi anh ta cúi xuống nhặt một mẫu đá lên, soi đèn quan sát, nói: “Bên dưới toàn là đá vụn… không thể nói đây là đá tự nhiên nứt ra. Tôi nghĩ đây là các vụn đá rơi ra khi đục đẽo, họ chưa dọn sạch.”

 

Giải Quýnh không hiểu Na Lan đang nghĩ gì, hỏi: “Giả sử đúng là có người bỏ công sức ra đục thành một trung tâm giải trí dưới nước, thì có thể nói lên điều gì?”

 

Na Lan: “Trước hết nên thấy rằng chỗ này ở trên mực nước hồ, không phải dưới nước, và càng không phải trung tâm giải trí gì cả…”

 

Giải Quýnh lầu bầu: “Vẫn cố cãi!”

 

“Tôi đoán rằng có người đã đào hang từ đáy nước thông lên trên mực nước hồ, chứng tỏ họ rất có tiềm lực. Hai là, họ rất muốn cất giấu đồ quý gì đó nhưng không muốn bị ngập nước, chẳng ai muốn báu vật của mình bị ngâm nước, đúng không?” Na Lan vừa nói vừa rọi đèn lên khắp vách đá.

 

Giải Quýnh đã hiểu ra: “Ý bạn là…Bá Nhan giấu của rất có thể là ở đây!” Nhưng anh ta lại ngẩng lên quan sát rồi lắc đầu. “Không thể!T hứ đáng tiền nhất ở đây lúc này là mấy người thế hệ 8X chúng ta. Toàn là đá vụn, chứ không có gì khác.”

 

Giải Quýnh nhắc từ “đá” đã gợi mở cho Na Lan!

 

Ánh đèn không rọi lên vách đá nữa, soi trở lại, mõm đá “dài dài nhô ra như cây gậy” vừa nãy nhắc đến. Hình như cũng có nét quen quen?

 

Long tu nham?

 

Cái thỏi “long tu[3]” này không nhô ngang ra, mà lại hơi chếch xuống dưới.

 

[3] Long tu nghĩa là râu rồng.

 

Na Lan tiếp tục soi đèn quan sát, ánh đèn dừng lại một mảng đá hơi lồi ra ở chỗ cao bên trên. Ánh đèn LED soi rõ màu nâu vàng. Mảng đá nhô ra ấy khá giống hình con gà hoặc con chim lớn.

 

Là Phượng Nghi thạch?

 

Là gà hay chim cũng mặc, vấn đề là mỏ nó “mổ” chếch xuống dưới.

 

“Long tu” và “cái mỏ” từ hai góc khác nhau cùng chỉ về một phương hướng, là một bên vách hang, chỗ cao ngang ngực con người.

 

Chỗ vách hang ấy không nhẵn nhụi, cũng không có ký hiệu gì, thoạt nhìn chẳng thấy gì lạ. Na Lan chiếu đèn lên, bước đến gần, thì nhận ra màu đá ở đó hơi nhậm nhạt khác nhau, có thể thấy một khe rất mảnh, xung quanh khe có màu sẫm hơn, tựa như vết xi-măng gắn các mảnh đá lại với nhau.

 

Na Lan ngoảnh lại nói với Giải Quýnh: “Đưa tôi mượn cái búa.”

 

Một tay cầm búa gõ đập, tay kia áp vào vách, cô cảm nhận dược âm thanh “Bồm bộp” chứng tỏ bên trong vách đá có khoảng trống.

 

Cô trả lại cây búa cho Giải Quýnh, nói: “Bây giờ là lúc anh thể hiện kỹ năng thổ mộc, chứ tôi không dám múa rìu qua mắt thợ!”

 

Giải Quýnh hiểu ngay, anh giơ búa phang thật lực. Búa tuy không nặng nhưng vết nứt vẫn hiện ra. Sau một hồi đập phá, cả đống đá vụn rơi xuống chân, họ nhìn thấy một gian mật thất.

 

Tim Giải Quýnh đập như máy, anh vừa kết thúc vận động đập đá chỉ là chuyện bình thường với anh. Nhưng ba người còn lại tim cũng đập nhanh không kém.

 

Trong mật thấy hõm sâu vào vách đá có một cái hòm lớn, màu đen xỉn. Nhìn kỹ thấy nó có các hoa văn ánh vàng. Trên mặt hòm đặt một cái thuyền nhỏ bằng ngọc, dài khoảng 40cm, trên thuyền có một ông lão đánh cá cũng bằng ngọc, đầu đội mũ lá, khoác áo tơi, và một chiếc “cần câu trúc” chỉa ra ngoài thuyền.

 

Cần câu không mắc dây câu

 

Chất liệu dùng để trạm trỗ con thuyền là ngọc thạch trong suốt, thật không phải hạng tầm thường. Kỹ thuật trạm trỗ đương nhiên tinh xảo tuyệt đỉnh.

 

Giải Quýnh cầm búa gõ nhẹ vào cái hòm đen, tiếng kim loại vang lên.

 

Anh ngoảnh lại nói với ba người bạn đang trố mắt há miệng: “Đêm nay chúng ta sẽ không ngủ nghê gì hết!.”

 
 
 

Chương 42: Kỳ binh đoạt báu vật

 

Xách theo cái hòm da đen nặng chịch, họ bơi trở về. Dọc đường cảm thấy như đang trong mộng, họ đang trong mộng du! Na Lan còn không dám tin vào các cảnh tượng vừa xảy ra, cô không dám tin chính mình và bất cứ ai.

 

Tất cả nên giải thích thế nào đây? Chưa biết có phải kho báu của Bá Nhan không, nhưng rõ ràng là từ nhiều năm trước đã có người phát hiện ra ở đảo Hồ Tâm có hai hang động giống nhau. Một hang không thật sự kín đáo, nên không được lựa chọn làm nơi giấu của, về sau bị Tần Hoài và Quảng Diệc Tuệ tìm ra và biến nó thành thiên đường của hai người. Hang kia khó tìm hơn, thì được người ta chọn làm nơi giấu của. Người giấu của đã dự tính sau này sẽ tìm lại, bèn chế ra hai tấm bản đồ da dê, chỉ khi khớp cả hai lại thì mới có đựơc chỉ dẫn để đi tìm hang dấu của.

 

Phượng Trung Long ngày xưa và Tần Hoài ngày nay đi tìm đều thất bại, vì họ chỉ nắm được một trong hai tấm bản đồ.

 

Na Lan cảm thấy dòng suy nghĩ của mình dần bay xa, hình như mình đang mơ. Nếu lúc này đúng là đang “mộng du” thật thì chắc chắn sẽ giống như các cơn “mộng du” trong truyền thuyết, nếu bị cắt ngang một cách thô bạo tức là mối nguy hiểm tột độ sẽ đến.

 

Đó là ý nghĩ đầu tiên loé lên khi thoáng thấy một bóng đen lướt tới.

 

Vì đang đeo mặt nạ nên góc nhìn xung quanh bị hạn chế, nhưng may mà cô đã phát hiện ra vị khách không mời mà đến này. Tuy mọi người cảm giác đang bị xáo trộn, cô đang mải mê khó tin với “vận may” đột ngột vừa nãy, nhưng cô vẫn không quen kế hoạch hôm nay. Tuý ông đâu có say[1], nhóm “thả con săn sắt” vẫn không mù quáng vì báu vật. Trong khi đang từ từ nổi lên, cô vẫn ngó nhìn khắp bốn bề và cũng luôn nhắc các bạn phải cảnh giác.

 

[1] Ý một câu thành ngữ: người say rượu, thực ra vẫn tỉnh táo.

 

Nhưng cô vẫn hơi bất ngờ khi bị kẻ địch tập kích vỗ mặt. Hai tên trực diện tấn công cô! Cô cũng nhìn thấy nhiều bóng đen khác đang bao vây ba người bạn.

 

Mong sao họ đã sẵn sàng vũ khí trong tay!

 

Còn Na Lan, cô rút con dao găm mài sắc nhọn mà Ngải Quýnh chọn cho cô. Ở dưới nước dùng vũ khí dù nhẹ hay nặng, đều rất khó điều khiển linh hoạt, cho nên việc chớp đúng thời cơ là hết sức quan trọng.

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top