Chào mừng bạn đến với Giesu.asia ! Ơn Chúa ở cùng bạn. Bạn hãy đăng ký làm THÀNH VIÊN và góp phần mình làm giàu đẹp, phong phú Giesu.asia mỗi ngày bạn nhé !

Đăng nhập để Post bài

Lưu ý khi Post bài :

01. Bạn hãy đăng ký Thành viên để Post bài thành công. Bài viết nên ghi rõ xuất xứ, nguồn, Tác giả, sưu tầm, ...

02. Tại trang chủ : hiện tại đã mở 4 mục để thành viên tự Post ! Sắp tới sẽ mở toàn bộ (sẽ có thông báo).

      Bài viết tại trang chủ sẽ được kiểm duyệt trong vòng 24h bởi Biên tập viên phụ trách từng chuyên mục !

03. Tại diễn đàn : Thành viên được phép Post tự do.

Giesu Asia

Liên hệ Giêsu Asia

Email:
Chủ đề:
Nội dung:
Con gà thường có mấy chân ?

Ai đang Trực tuyến

Đang có 349 khách và no member đang online

Google Search

    

truyen-dai

HỒ TUYỆT MỆNH - Phần I

Tác giả: Quỷ Cổ Nữ

Share

 

Giới Thiệu

Hồ tuyệt mệnh là phần 1 trong series Hồ sơ tội ác gồm bảy phần của vợ chồng tác giả người Trung Quốc với bút danh Quỷ Cổ Nữ.

Chuyện kể về một cái hồ chứa hai truyền thuyết. Truyền thuyết một là dưới đảo giữa hồ có chôn kho báu. Truyền thuyết hai là hễ trên hồ xuất hiện người trùm áo tơi buông câu mà cần câu không dây, thì sẽ có người chết.

Một năm Gia Tĩnh triều Minh, bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng, có một tên đạo chích quyến rũ được con gái thái sư đương triều bỏ trốn theo mình. Vì muốn nàng được sống sung sướng, hắn mang nàng đến hồ này, chuẩn bị tìm kho báu. Trên đường đi, một đạo sĩ dặn họ nên tránh xa cái hồ đó ra, nếu để gặp người áo tơi đi câu thì tức là sẽ gặp đại nạn. Tên đạo chích cho rằng mê tín, vẫn mang tiểu thư đến bên hồ, đợi hôm sau sẽ xuống thám thính kho báu. Đêm hôm đó mưa to gió lớn, tiểu thư không ngủ được, nhìn ra hồ thì thấy có người trùm áo tơi buông câu. Hôm sau đạo chích xuống hồ lặn tìm, tiểu thư đợi trên bờ, đợi mãi, đợi mãi, cuối cùng chỉ thấy xác chồng nổi lên.

Mấy trăm năm sau, vào thời hiện đại, trong một căn nhà bên hồ, giữa đêm mất điện mưa to gió lớn, có hai cô gái ngồi đọc câu chuyện về tên đạo chích và tiểu thư vợ hắn. Lòng đầy tò mò, nhìn ra hỏi nhau phải chính là cái hồ và hòn đảo kia không, rồi cho rằng toàn chuyện bịa đặt của tác giả cả. Đúng lúc họ nhìn ra thì một ánh chớp lóe sáng mặt hồ, soi rõ một con thuyền nhỏ. Và người mặc áo tơi trên thuyền. Tim hai cô như bị tử thần bóp chặt, mỗi nhịp đập đều dữ dội kinh khủng làm sao. Một, hai, ba, bốn, năm. Trên thuyền có cả thảy năm người mặc áo tơi! Chưa kịp hoàn hồn thì trong nhà xuất hiện thêm một người, vươn đôi tay khẳng khiu bóp nghiến lấy cổ một cô.

Mấy năm sau, có một người ngồi đọc câu chuyện về hai cô gái này, và về năm cái xác trắng nhễ nhại lần lượt nổi lên mặt hồ sau đêm đó. Người này bị ma xui quỷ khiến, thấy những kẻ xung quanh thật đáng nghi, và bắt đầu để mình cuốn vào đủ việc vốn chẳng liên quan đến mình, đồng nghĩa với việc đặt bản thân trước những hung hiểm đa dạng: lúc bị săn đuổi, lúc bị xe cán, lúc sắp bị đâm, lúc gần chết đuối, lúc suýt ăn đạn…

Và tới năm nay, đến lượt chúng ta ngồi giở Hồ tuyệt mệnh, theo dõi những cuộc dấn thân ngoan cố và ngoan cường của người ấy… NA LAN!

***

Tóm tắt nội dung

Bạn có từng nghe “Một truyền thuyết kỳ dị kể lại rằng, nếu trên mặt hồ Chiêu Dương bỗng xuất hiện một người mặc áo tơi ngồi thả cần câu lơ lửng giữa trời thì sẽ có kẻ phải chết bất đắc kỳ tử.”

Một trăm năm trước, một tên đạo chích khét tiếng Phụng Trung Long quyến rũ ái nữ của thái sư đương triều đem theo một tấm bản đồ kho báu ăn cắp được từ trong cung bỏ trốn cùng mình đến hồ Chiêu Dương…

Một trăm năm sau, Na Lan - cô sinh viên chuyên ngành tâm lý học đã vô tình bị cuốn vào một vụ kì án; từ khi trở thành trợ lý viết lách cho Tần Hoài - tác giả của mấy bộ tiểu thuyết kinh dị đang bán chạy trên thị trường, hay một thân phận khác là tên Đông Giăng trăng hoa, một đối tượng tội phạm bị tình nghi, một dân chơi đêm thứ thiệt. Tồi tệ nhất là bị nhóm người không rõ danh tính luôn theo dõi nhất cử nhất động của cô… Dường như cái tên Tần Hoài là một điều cấm kị, những thứ gắn liền với tên anh ta đều được đóng dấu bốn chữ “cực kỳ nguy hiểm”. Không chỉ dính vào cuộc truy lùng kho báu đầy mạo hiểm, có nguy cơ chết người, Na Lan còn sa vào lưới tình cùa Tần Hoài tự bao giờ.

Qua bao cuộc tìm kiếm bí mật dần được bật mí. Truyền thuyết về kho báu dưới đáy hồ, những câu chuyện kỳ quái, ân oán thế nhân, sự thật về câu chuyện 5 xác chết… mọi thứ như bủa vây và siết chặt lấy Na Lan. Rồi bỗng một đêm mưa gió, cô bắt gặp người mặc áo tơi ngồi thả cần câu không trên một con thuyền nhỏ… Phải chăng đấy là dấu hiệu cái chết của cô đang đến gần? Liệu Tử thần có buông tha cô?

Trích trong tác phẩm“Án mạng khủng khiếp trong khu nhà, hãi hùng chạy trốn khắp Bắc Nam, quật mộ dưới trăng mờ gió rít, mất mạng nơi hồ nước âm u… Trò chơi ngày càng nguy hiểm, cũng ngày càng kích thích. Ai ở ngoài sáng, ai lẩn trong tối? Muốn giành chiến thắng ư? Tiếc thay định mệnh đã sắp xếp Ngươi buộc phải tiêu đời!”

Thông tin tác giả

Tác phẩm Hồ tuyệt mệnh của Quỷ Cổ Nữ, vốn là bút danh chung của một cặp vợ chồng người Hoa đang sống ở Mỹ, Vợ là Dư Dương - kỹ sư thâm niên về phần mềm máy tính. Chồng là Dị Minh - chuyên gia y học nổi danh.

Là một cái tên sáng chói trên văn đàn, tác giả tiêu biểu nhất của dòng tiểu thuyết kinh dị Trung Quốc. Mùa xuân năm 2004, hai người dùng tên thật, cùng xuất bản cuốn tiểu thuyết dài Mùa xuân trên dòng sông băng, được giới chuyên môn đánh giá cao.

Giữa năm 2004, bằng bút danh Quỷ Cổ Nữ, hai vợ chồng tung lên mạng một tiểu thuyết kinh dị nhan đề Kỳ án ánh trăng. Tác phẩm gây chấn động không ngờ, lôi cuốn hàng triệu độc giả chỉ trong vòng vài ba tháng, đăng tải nửa chừng thì nhận được lời đề nghị xuất bản từ Nhà xuất bản Nhân Dân Thượng Hải. Mồng 1 Tết âm lịch năm 2005, cuốn sách Kỳ án ánh trăng ra mắt bạn đọc, và Quỷ Cổ Nữ lập tức bật lên thành ngôi sao sáng trên văn đàn, thành tác giả tiêu biểu nhất của dòng tiểu thuyết kinh dị Trung Quốc.

Hồ tuyệt mệnh là phần 1 trong series Hồ sơ tội ác gồm bảy phần, tập trung khai thác yếu tố ác quỷ tâm linh. Bằng bút pháp ma mị làm khuynh đảo người đọc, Hồ tuyệt mệnh tuy mới xuất hiện nhưng đã trở thành hiện tượng của văn hóa đọc, kế tục Kỳ án ánh trăng vững vàng củng cố địa vị Stephen King Trung Quốc của Quỷ Cổ Nữ.

Một tấn thảm kịch lạ lùng diễn ra, những cuộc truy tìm kho báu quyết liệt và đầy gây cấn, Hồ tuyệt mệnh của Quỷ Cổ Nữ là sự kết hợp tài tình giữa màu sắc, ánh sáng và bố cục sẽ khiến bạn đọc phiêu diêu trong những cung bậc cảm xúc. Sự đan xen của cái chết và sự sống làm cho cuốn tiểu thuyết này mang đậm sắc màu ma mị, liêu trai và toát lên vẻ hấp dẫn quyến rũ khó cưỡng lại qua từng trang sách.

Phần dẫn 1

Xế chiều một ngày thu, mặt trời vàng nhợt đang ngập ngừng trở về nơi chân trời. Một cỗ xe ngựa nhẹ lướt trên cổ đạo Chiêu Dương, để lại phía sau một làn bụi. Từ xa đã trông thấy bờ hồ và cả những gợn sóng thấp thoáng sắc vàng dưới ánh tà dương. Vì vướng những đám lau lách vàng khô, từ trên đường cái không thể nhìn thấy hòn đảo Hồ Tâm lừng danh trong truyền thuyết. Dẫu vậy, cảnh hồ êm ả này vẫn đủ sức níu bước người lẽ khác chuyên rong ruổi nơi chân trời.

Cỗ xe đi chậm lại, bức rèm gấm vén lên, giai nhân khẽ nhíu mày, khuôn mặt không trang điểm nhưng vẫn diễm lệ như tiên nữ trong tranh, hành trình đầy gió bụi cũng không thể làm nhạt nhoà dung nhan của trang quốc sắc thiên hương ấy. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ sẽ thấy vẻ mặt nàng có nét ưu tư. Dõi ánh mắt xa xăm mơ màng về phía hồ nước, nàng khẽ hỏi: “Đã đến nơi rồi phải không Long lang?”

Cầm cương đánh xe là một người trẻ tuổi, nghe hỏi thì buông thõng dây cương cho xe đi chậm hẳn lại như sắp dừng, rồi ngoái đầu nói: “Đúng thế! Từ nay vận mệnh của hai ta gắn chặt với nơi này.” Chàng bất giác sờ ngực áo, cái túi gấm bên trong có tấm da dê vẫn còn đây.

Nói đúng ra là, vận số của chàng, Phượng Trung Long, từ nay gắn chặt với tấm da dê này.

Trên tấm da dê có vẽ một bản đồ, ghi rõ nơi cất giáu kho báu huyền thoại của Bá Nhan – đệ nht khanh tướng triều Nguyên. Bá Nhan từng thâu tóm quyền bính triều. Nguyên, “đứng dưới một người đứng trên muôn người”. Thời đó đế quốc Đại Nguyên uy danh lừng lẫy Âu Á, bao quốc gia phải triều cống. Dân gian đồn rằng vô số châu ngọc báu vật trên đời đã rơi vào tay Thái sư Bá Nhan, ngay hoàng đế Đại Hãn[1] cũng không có dịp nhìn thấy.

[1] Tiếng Mông Cổ đọc là Khan = vua. (Các chú thích trong sách này là của ND)

Phượng Trung Long là “đạo chích du hiệp” số một thời Gia Tĩnh[2] triều Minh, theo lời những người chuyên kể chuyện rong ở kinh thành. Còn trong các công văn giấy tờ của Cẩm Y vệ và Đông Xưởng[3] thì chàng là tên tội phạm sừng sỏ dám gây đủ thứ tội ác. Lùng bắt trộm cướp là việc của các bổ đầu[4] địa phương, thế mà triều đình phải huy động cả đàn ưng khuyển Cẩm Y vệ và Đông Xưởng bố trí thiên la địa võng, bởi lẽ Phượng Trung Long dã phạm vào “đại kỵ”: vào cung trộm cấp dã là đại kỵ rồi, lại dám ăn trộm bản đồ kho báu của Bá Nhan thì đúng là đại đại kỵ.

[2] 1552-1566

[3] Tựa như đơn bị an ninh, mật vụ thời nay. Do hoạn quan đứng đầu.

[4] Bổ đầu: nhân viên chuyên truy bắt tội phạm.

Hình như Phượng Trung Long cho rằng tội lỗi của mình chưa đủ nhiều, nên còn “tiện thể” nẩng luôn cả Văn Oanh là ái nữ duy nhất của quan thái sử Văn Bính! Cứ như thể không hề biết Văn Bính từng là Chỉ huy sứ của đội quân Cẩm Y vệ.

Tên sao người vậy[5], Phượng Trung Long có lạ gì những chốn tường hoa ngõ liễu, nhưng khi giáp mặt Văn Oanh vào dịp tết hoa đăng[6] năm ngoái, chàng bỗng bị huý hồn ngay lập tức, rồi lẻn theo vào phủ thái sư tỏ tình. Ngờ đầu lại khiến Văn Oanh xiêu lòng, thề câu chung thủy, chàng bèn đưa nàng đi trốn, và hứa sẽ dành cho nàng cuộc sống còn đầy đủ hơn cả ở phủ thái sư. Lời hứa ấy đương nhiên cũng gắn liền với tấm da dê này.

[5] Phượng Trung Long = con rồng giữa đàn chim phượng.

[6] Vào ngày Nguyên tiêu, tức rằm tháng giêng.

Rèm thả xuống, roi ngựa lại vung lên, họ tiếp tục đi chầm chậm. Lát sau xe đi lên đường cái quan. Lóc cóc đi một hồi nữa. Lúc trời bắt đầu tối, họ nhìn thấy mấy gian nhà lá mặt tiền hướng ra phía hồ.

Phượng Trung Long đỡ Văn Oanh xuống xe, áy náy nói: “Nàng phải chịu vất vả rồi.”

Văn Oanh nhìn những căn nhà lụp xụp trước mặt, lại ngoảnh ra hồ nước âm u xám xịt, bình thản nói: “Chàng mới vất vả chứ! Chúng ra nên sớm đi nghỉ đi!”

Phượng Trung Long nhận ra Văn Oanh đang có điều nghĩ ngợi, bèn nói: “Ta biết, nàng từ nhỏ sống trong nhung lụa, nay để nàng phải ở túp lều này, lại chẳng có a hoàn nào hầu hạ, thực khổ quá! Chỉ cần nàng chịu khó vài hôm, chờ ta…”

Văn Oanh nói: “Không phải vì thế…”

Phượng Trung Long bỗng hiểu ra: “Nàng vẫn băn khoăn về mấy câu lão thầy tướng nói đấy ư? Nàng không nhớ rằng mọi người trong ngoài phủ Giang Kinh đều gọi lão là gì à?”

“Là đạo trưởng hão huyền.”

“Cho nên, lão toàn nói những câu vu vơ mà thôi.”

Có phải là vu vơ hão huyền không, Văn Oanh chẳng rõ, nhưng nàng không muốn tranh luận một cách vô nghĩ. Lời đạo trưởng nói với nàng qua bức rèm cách đây ít hôm, vẫn còn vang bên tai: “Chớ đến gần nước hồ Chiêu Dương. Nếu nhìn thấy một người khoác áo tơi đội nón lá đang buông cần nhưng không có dây câu. Thì phải tránh càng xa càng tốt.”

“Câu cá không mắc dây câu, thì câu cái gì?”

“Không câu cá, mà là câu người.”

“Xin đạo trưởng nó rõ hơn?”

“Nếu thấy người khoác áo tơi đội nón lá buông cần câu, thì sẽ có người đột tử.”

“Sao? Ông vừa nói là chồng tôi sẽ…”

“Ít ngày nữa e sẽ có tại nạn đổ máu.”

Phượng Trung Long nghe xong khịt mũi khinh thường. Làm nghề như gã, ngày nào chẳng “có tai nạn đổ máu”? Chàng đã vô số lần quyết đấu với đủ loại cao thủ võ lâm hắc đạo bạch đạo, thương tích đầy mình, nhiều chẳng kém gì trâm cài tóc và các vòng vàng vòng ngọc mà Văn Oanh đã dùng từ bé đến giờ.

Gió mưa lúc na đêm khiến Văn Oanh tỉnh giấc.

Phượng Trung Long vẫn ngủ li bì sau mấy ngày đánh xe suốt chặng đường dài mệt nhọc. Gió lùa qua khe cửa sổ khiến Văn Oanh thấy lành lạnh, nàng khoác áo đứng dậy bước đến bên cửa sổ.

Ma xui quỷ khiến hay sao, nàng mở rộng hai cánh cửa.

Bên ngoài là hồ Chiêu Dương dưới màn đêm đang mưa gió. Mưa xối xả, gió gào thét, chớp loé ngoằn ngoèo như rắn lao nhanh.

Dưới ánh chớp giật nàng nhìn thấy ngoài hồ có một con thuyền, trên thuyền có một người mặc áo tơi đang ngồi câu cá, giống hệt như pho tượng đá.

Tim Văn Oanh đập thình thịch, ngỡ mình hoa mắt. Lại nhìn kỹ hơn, thấy đúng là một người mặc áo tơi, không thể nhầm được, thậm chí còn nhìn rõ cần câu không hề mắc dây câu.

“Nếu thấy người khoác áo tơi đội nón lá buông cần câu, thì sẽ có người đột tử.”

Một bàn tay đặt nhẹ lên vai Văn Oanh khiến nàng giật mình.

Thì ra là Phượng Trung Long.

“Đang gió mưa thế này, sao nàng ra đứng cửa sổ? Lỡ bị cảm lạnh thì ta biết ăn nói với thái sư ra sao?” Phượng Trung Long dịu dàng nói đùa.

“Long lang có nhìn thấy con thuyền nhỏ… và người mặc áo tơi kia không?”

Phượng Trung Long nheo mắt nhìn kỹ, chỉ thấy một màn tối đen mưa gió mịt mù chứ không có gì khác. “Ta xưa nay chuyên hành sự ban đêm, cũng thường hoạt động dưới nước tối om, mắt ta nhìn đêm còn tinh hơn mắt linh miêu, nhìn mãi vẫn chẳng thấy trên hồ có thuyền hay người nào hết!”

“Nhưng rõ ràng là thiếp nhìn thấy…”

“Cái trò bịp bợm của lão đạo sỉ khiến người ta nghi hoặc, rối loạn tâm trí, tất nhiên sẽ nhìn thấy các ảo ảnh.” Phượng Trung Long kéo nàng quay lại, đóng cửa sổ. “Nàng cứ chịu khó nghỉ ngơi, ta cũng muốn ngủ thêm một giấc. Mai, nếu trời quang đãng ta còn phải xuống nước để dò tìm kho báu.”

Đêm nay Văn Oanh không tài nào ngủ được nữa.

Tờ mờ sáng gió mưa ngớt dần, Văn Oanh mới chợp mắt được. Lúc tỉnh dậy, không thấy Phượng Trung Long nằm bên nàng nữa.

Một linh cảm chằng lành ập đến, nàng gọi to “Long lang” nhưng không có ai đáp lời.

Nàng chạy vụt ra khỏi buồng ngủ. Trên bếp có nồi cháo còn ấm, thanh trường đao vẫn nằm trong vỏ, phi hổ trảo[7] vẫn đặt trên bàn nhưng không thấy bóng người đâu; linh cảm của nàng càng tệ hơn nữa, vì xưa nay Long lang chưa từng ra ngoài mà không mang theo vũ khí.

[7] Dụng cụ leo tường, leo núi… gồng dây quăng gắn với móc sắt.

Nàng vi mở cửa, làn không khí máy rượi của hồ Chiêu Dương ùa vào. Hồ nước trong trẻo phẳng lặng, dường như đêm qua chưa từng tơi tả gió mưa gì hết.

Nhưng không thấy Phượng Trung Long.

Lòng trĩu nặng, nàng ngây nhìn mặt hồ. Lẽ nào lời của vị đạo nhân ấy đã ứng nghiệm?

“Nàng ơi…”

Văn Oanh kinh ngạc xoay người, hình như cảnh tương đêm qua đã trở lại. Phượng Trung Long đang lặng lẽ đứng phía sau nàng.

“Thiếp tìm chàng mãi…”

“Ta ngồi ở cửa phía sau, nghiền ngẫm tấm bản đồ kho báu của Bá Nhan.” Rồi vỗ vỗ vào ngực.

Ừ nhỉ, cửa sau. Thế mà mình quên mất căn nhà lá này còn có cái cửa sau nho nhỏ. Văn Oanh cũng áp tay lên ngực rồi ngả người vào Phượng Trung Long: “Vừa nãy thiếp sợ quá!”

Phượng Trung Long cười: “Cũng tốt. Lấy được kho báu của Bá Nhan rồi ta sẽ rửa tay gác kiếm. Nếu cứ tiếp tục làm cái nghề này, suốt đời gươm đao dính máu, thì nàng sẽ phải ngày đêm sống trong sợ hãi.”

Văn Oanh nhìn mặt hồ, nghĩ ngợi: “Thiếp cho rằng chàng nên quên hẳn cái kho báu của Bá Nhan, đi khỏi hồ Chiêu Dương thì hơn, tránh càng xa càng tốt, như ông thầy tướng nói.”

Sao? Chỉ vì một câu nói của lão ta ư?

Trở vào nhà, Phượng Trung Long giở tấm bản đồ kho báu ra: “Nàng xem này, đây là đảo Hồ Tâm, kho báu nằm trong hang bên dưới đảo. Ta đã bỏ nhiều tiền bạc thuê con thuyền nhỏ của ngư dân hàng xóm, bây giờ ta xuất phát; sau na canh giờ có thể ra đến đảo. Dẫu tạm thời chưa tìm thấy hang giấu của thì ta cũng trở về trước khi trời tối, mai lại đi tìm.”

Văn Oanh gật đầu, im lặng.

Phượng Trung Long nhanh chóng thay bộ giáp lặn bó sát người.

Chàng hôn lên má Văn Oanh. Nàng bỗng nắm chặt cánh tay Phượng Trung Long, nói: “Long lang, chúng ta hãy đi khỏi chốn này! Chúng ta không có kho báu của Bá Nhan cũng được. Thiếp không cần ăn ngon mặc đẹp, không cần a hoàn hầu hạ, thiếp có thể tập làm nhiều việc. Ta đem bán các đồ nữ trang mà thiếp mang theo cũng đủ để chúng ta mở một tiệm buôn hoặc mua vài khoảnh ruộng tốt… Thiếp không muốn…”

“Nàng không muốn ta mạo hiểm chứ gì?” Phượng Trung Long nhẹ vuốt mái tóc Văn Oanh. “Đây chỉ là lần mạo hiểm quá nhỏ. Các bạn hữu trên giang hồ đặt cho ta biệt hiệu Phượng Trung Long là vì ta có biệt tài sông nước vô địch thiên hạ. Dưới nước, ta là con giao long. Năm xưa đi cướp một thuyền chở bạc, ta từng suốt ba ngày ba đêm vật lộn với gió to sóng cả ngoài biển Đông. Bây giờ nàng nhìn xem, hồ nước phẳng lặng như gương không một gợn sóng thì có thể xảy ra chuyện gì được?”

“Liệu dưới nước đó có yêu quái không?”

Phượng Trung Long cười: “Tại nàng hay xem kịch và đọc quá nhiều sách dã sử đó thôi! Ta từng bơi lặn ở vô số sông hồ, chưa từng thấy dưới nước có yêu quái nào. Ta đi đêm suốt, cũng chưa bao giờ gặp ma quỷ gì hết.”

“Nhưng…”

“Nàng đừng lo. Lấy được kho báu rồi, ta bỏ nghề đạo chính thì mới thật sự là hết mạo hiểm. Nàng biết không, có vô số bổ đầu rất muốn tấm bia mộ của mình được khắc rõ ràng rằng ‘…là người bắt được tên đại cường đạo sông nước Phượng Trung Long’. Và, dù nàng chỉ muốn làm người vợ nhà quê cấy cày dệt vải thì ta vẫn không n nào để nàng phải như vậy.”

Không thuyết phục được, Văn Oanh đành đưa ra chiêu cuối cùng: “Thiếp biết không thể ngăn chàng, nhưng còn chuyện này thiếp chưa kịp cho chàng biết, hôm nay nói ra, mong chàng sẽ suy nghĩ thêm. Thiếp… thiếp đã có thai.”

Mắt bỗng tròn xoe lên, Phượng Trung Long nở nụ cười rạng rỡ sung sướng và ôm chặt Văn Oanh: “Thật ư? Ta sắp được làm cha rồi!” Vốn là đứa trẻ mồ côi, lớn lên trong lênh đênh chìm nổi, chàng từng thề sẽ gom mọi thứ tốt đẹp nhất trên đời về cho con mình.

“Vì đứa con, mong chàng hãy thận trọng hành sự.”

“Nhưng mà, nuôi con thực không dễ gì, ta càng không nên làm cường đạo nữa. Đám châu báu của Bá Nhan vừa khéo để con không phải sống khổ như ta.”

Văn Oanh hết sức hối hận vì điều nàng vừa nói lại phản tác dụng, nó càng khiến Phượng Trung Long thêm quyết tâm đi tìm kho báu ở đảo Hồ Tâm.

Phượng Trung Long chèo thuyền như bay. Nhìn quanh chẳng thấy con thuyền nào khác. Lúc này chàng cảm thấy mình là người may mắn nhất trên đời, có hồng nhan tri kỷ, có con cái, có vàng bạc đầy nhà… à, mình chưa có vàng bạc đầy nhà, nhưng kể từ nay mình sẽ không thiếu thốn gì nữa.

Lòng lâng lâng niềm vui không sao kể xiết, dường như chỉ mất có tích tắc đã chèo đến đảo Hồ Tâm… Xem kỹ lại một lượt tấm bản đồ da dê, chàng neo thuyền bên ghềnh đá thon dài rồi ngẩng lên quan sát, nhận rõ phương hướng, xác định đây chính là “Long tu nham” được ghi trong bản đồ. Phượng Trung Long buộc thuyền đi tìm kho báu vào “tảng đá râu rồng”, thật là xác đáng hết nhẽ rồi!

Chàng hít thật sâu một hơi xuống tận đan điền[8] rồi lặn xuống hồ Chiêu Dương.

[8] Một huyệt ở gần rốn.

Hẳn là tại mưa gió đêm qua nên nước hồ hơi đục, nhưng chàng đã từng lặn xuống Hoàng Hải, Hoàng Hà, nước đục gấp bội mà chẳng thấy khó nhìn nữa là! Lặn xuống chừng hơn chục trượng, chàng bỗng nhếch mép cười: phía trước là một tảng đá màu da cam, hình thù tựa con gà. Khỏi cần nghi ngờ gì nữa, đó là “Phượng Nghi thạch” được ghi trên tấm bản đồ kia.

“Phượng Nghi thạch?” Ta là Phượng-Trung-Long. Chẳng phải ông trời có ý trao cho ta kho báu của Bá Nhan đấy ư? Ta khó mà chê không nhận.

Phượng Trung Long vòng qua Phượng Nghi thạch rồi lặn xuống sâu khoảng ba trượng. Có thể tìm thấy cửa hang đá cất giấu châu báu ở đây. Chàng mở to mắt, nghĩ bụng cửa hang không thể to như mồm sư tử, ta phải nhìn cho kỹ. À, đây rồi!

Chợt cảm thấy bên trên mắt cá chân phải hơi nhói, rồi bắp chân bị rút một cái. Chắc là chân vướng phải cỏ nước, Phượng Trung Long cúi nhìn, không phải cỏ, nhưng có một bóng đen lờ mờ đang tiến tới gần, chàng rút thanh Đoạn Nguyệt đao răng cưa, món binh khí lừng danh chuyên dành quyết chiến dưới nước, sẵn sàng ra tay.

Trên cạn, Phượng Trung Long không dám xưng mình là thiên hạ đệ nhất võ công, chứ ở dưới nước thì chàng thực sự là một huyền thoại.

Nhưng cái bóng đen kia dường như hiện diện khắp mọi nơi. Áp lực kinh khủng như đứng trước mũi tên sắp bật dậy, mà mắt không sao nhìn rõ kẻ địch. Lần đầu tiên trong đời chàng thấy sợ hãi khi ở dưới nước.

Đã chạng vạng tối. Lòng Văn Oanh trĩu nặng, sốt ruột, nặng nề hơn cả mặt trời đang lặn. Nàng nhìn mãi đảo Hồ Tâm xa xa nhưng không thấy bóng con thuyền đâu.

Nàng đứng bên hồ cho đến khi phía tây trăng mọc.

Đứng cho đến khi xác Phượng Trung Long nổi lên mặt hồ.

Phủ thái sư đón tiểu thư bị bắt cóc trở về. Vẫn kiều diễm như trước nhưng con người nàng đã khác. Kể từ đó tiểu thư Văn Oanh chỉ lầm bầm độc một câu gần như y hệt câu thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha: “Áo tơi, mưa gió câu nốt chuỗi ngày tàn”.

Phần dẫn 2

“Oàng…” một tiếng sấm rền vang khiến hai cô gái đang ngồi trên ghế trong nhà gần như đứng bật dậy. Họ vừa đọc xong bản thảo về câu chuyện Phượng Trung Long và Văn Oanh, về người khoác áo tơi buông cần câu suông, về xác chết nổi lên mặt nước… cả hai chưa kịp hoàng hồn thì ngoài kia gió mưa dồn dập kéo đến.

Cô gái để tóc dài là Thẩm Dung Dung, vừa tốt nghiệp trung cấp y, khoảng một tháng nữa mới đi làm. Được người quen giới thiệu, cô đến nhà này chăm sóc một bệnh nhân quanh năm nằm liệt giường. Hôm nay nhà chủ đi vắng, Dung Dung thuyết phục cô bạn thân Tiền Tinh đến chơi cho vui. Bệnh nhân đã ngủ, hai cô bạn rỗi quá đâm chán, lại nhìn thấy tập bản thảo này trên bàn sách của chủ nhân.

Tiền Tinh nhìn ra ngoài cửa sổ vừa đúng lúc có tia chớp loé sáng, cô nói: “Kia là đảo Hồ Tâm phải không?”

Thẩm Dung Dung bước đến bên giường, bệnh nhân đang ngủ say. Cô quay lại nói: “Phải! Có nhìn thấy à? Ban ngày nếu không mưa thì bầu trời xanh lơ, nước hồ xanh lục, cảnh rất đẹp. Tuy đây chỉ là nhà ở thôn quê nhưng mai kia sẽ được mở mang như khu đông của hồ, sẽ xây biệt thự hoăc khu nghỉ dưỡng.”

Tiền Tinh nhìn các bức tường gạch quét xi-măng lở lói dường như có thể bị sập bất cứ lúc nào, rồi ngồi xuống lầm bầm: “Nhà quê…” Chợt nảy ra một ý, cô mở trang đầu tập bản thảo, đọc lướt đến câu “thấy mấy gian nhà lá mặt tiền hướng ra phía hồ”, bèn đứng bật dậy nhìn ra ngoài cửa sổ rồi quay lại nói với Thẩm Dung Dung: “Tớ chợt nghĩ… Trời ạ, liệu có phải…”

Thẩm Dung Dung lấy làm lạ, cũng nhìn ra cửa sổ rồi chợt hiểu: “Ý cậu nói là ngôi nhà chúng ta đang ở đây… chính là căn nhà lá mà tiểu thuyết đã viết?”

“Là căn nhà lá mà Phượng Trung Long và Văn Oanh đã ở!”

Thẩm Dung Dung hoảng hồn nhưng rồi lại trấn tĩnh ngay: “Thôi nào, đừng nên tự hù doạ mình. Đó chỉ là tiểu thuyết mà thôi. Khi viết sách, họ miêu tả khung cảnh nơi mình ở đưa vào cho đỡ phải mất công nghĩ ngợi, cứ nhìn ra ngoài mà tả cảnh là xong. Tớ cho rằng tác giả hơi lười. Chả trách đến giờ vẫn chưa thành danh.” Dung Dung hiểu rõ điều kiện kinh tế của nhà chủ.

“Ý cậu là, truyền thuyết về người mặc áo tơi ấy, chỉ là do tác giả này bịa ra?”

“Truyền thuyết đều là bịa ra cả, nên mới gọi là truyền thuyết. Chứ không bịa ra thì gọi là lịch sử.” Dung Dung đáp. “Tớ quả có nghe bà nội kể về câu chuyện này. Chắc những ai ở gần hồ Chiêu Dương đều nghe nói đến. Nhưng từ bé tớ đã bơi lội, đi thuyền trên hồ Chiêu Dương mà chưa từng nhìn thấy ai mặc áo tơi ngồi câu cá bao giờ.

Bất giác cả hai đều đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn khẳng định rằng truyền thuyết về người mặc áo tơi chỉ là chuyện vớ vẩn. Nào ngờ hành động ấy lại trở thành mối ân hận lớn nhất đời họ.

Vì đúng lúc họ nhìn ra thì một ánh chớp loé sáng mặt hồ, soi rõ một con thuyền nhỏ.

Cùng người mặc áo tơi trên thuyền.

Tim hai cô như bị tử thần bóp chặt, mỗi nhịp đập đều dữ dội kinh khủng làm sao. Một, hai, ba, bốn, năm.

Trên thuyền có cả thảy năm người mặc áo tơi!

Mưa rơi trên mái nhà lợp bằng giấy dầu, kêu rào rào như rắc đá sỏi. Gió rú rít từng hồi qua khe cửa sổ cánh vênh. Nhưng bên trong căn nhà lại im ắng lạ thường.

Lặng đi đến vài phút. Tiền Tình mới nói: “Cậu cũng nhìn thấy ư?”

Câu hỏi của cô dường như trùng với khoé miệng của Thẩm Dung Dung bật ra: “Cậu có nhìn thấy không?”

Rồi cả hai gần như đồng thanh: “Cậu nhìn thấy mấy người?”

Cả hai lại cùng giơ bàn tay đang run run xoè đủ năm ngón.

“Chẳng lẽ… sẽ có năm người phải chết?”

Trong nhà chỉ có ánh đèn lù mù, không còn chớp loé nữa, không gian ngoài kia trở về tối đen. Hai cô gái không dám mở cửa sổ, chỉ tiến lại áp sát ô kính nhìn ra. Mặt hồ mịt mù, hệt như thế giới hỗn đỗn trước thời Bàn Bổ[1].

[1] Nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa, người “tạo dựng nên trời đất”.

Thẩm Dung Dung nói: “Chắc là tại bọn mình vừa đọc câu chuyện kia nên bị ám ảnh, sinh ra ảo giác mà thôi.” Cô tự tin vào chút kiến thức cơ bản về bệnh lý thần kinh mới học được ở trường y tá nên tìm ra cách giải thích này.

“Nhưng cả hai ta đồng thời có ảo giác và đồng thời nhìn thấy năm người trên thuyền à?” Tiền Tinh lắc đầu rồi bước tới định mở cửa ra vào để nhìn thêm xem thực chất là gì.

Nhưng mới đi được vài bước chân thì một tiếng sấm vang rền, đèn trong nhà vụt tắt.

“Khu này toàn thiết bị cũ rích, hễ gió mưa là cắt điện.” Thẩm Dung Dung nói trong bóng tối. “Cho nên nhà họ này dữ trữ nến. Cậu chờ một lát nhé…”

Tiếng bật diêm xẹt xẹt, rồi ánh sáng loé lên. Thẩm Dung Dung gi vờ trịnh trọng nói: “Tôi mang ánh sáng đến cho thế giới, khi phát minh của Ê-đi-sơn không được việc nữa…”

Tiền Tinh bật cười nhìn ánh lửa nến đang sáng lên.

Nhưng tiếng cười bỗng ngừng bật, lập tức biến thành tiếng kêu hãi hùng. Ánh lửa nến bập bùng lên một bóng người không rõ mặt đang lặng lẽ đứng sau lưng Thẩm Dung Dung.

Mái tóc dài che kín mặt người ấy.

Thẩm Dung Dung ngớ ra trước tiếng kêu của Tiền Tinh, giác quan thứ sáu khiến cô từ từ quay đầu lại, đối diện với khuôn mặt khuất trong mái tóc đen dài. Cô há miệng định kêu lên thì một đôi tay khẳng khiêu đã bóp nghiền lấy cổ cô.

Bãi lau sậy rậm rạp duy nhất ở hồ Chiêu Dương nằm ở góc tây nam của hồ, ba mùa xuân hạ thu đều có chim, cò bay đậu, đó cũng là những ngày vui sướng nhất của các tay đánh cá nghiệp dư.

Sớm tinh mơ, Hà Đại Duy đã chèo thuyền ra hồ, cậu con trai mắt còn ngái ngủ là Hà Hoan ngồi ở đuôi thuyền. Cậu mới 12 tuổi, học lớp Sáu, trông tiu nghỉu ra mặt. Cậu nghĩ bụng, ngồi thuyền đi câu cá là việc của Khương thái công thời viễn cổ, là cách thư giãn của những cán bộ về hưu tầm tuổi na ná Khương thái công. Nếu phải đi câu thật, thì cậu thà cậu trên máy tính hoặc trên PS2 còn hơn. Nhưng đây là bố mình, ông ấy mê câu cá đến nỗi mua cả thuyền để đi câu. Không có tiền mua thuyền máy sang trọng, ông ấy mua con thuyền bé tẹo này, “không số”, dài chưa đến ba mét, vật liệu thì chắp vá. Giờ chỉ thêm cái máy cát-sét của thế kỷ trước (mà cậu thấy nhà ông nội vẫn “tàng trữ”) treo ở mũi thuyền, bật băng “chúng ta khua mái chèo, thuyền nhỏ xe tan sóng nước…[2]” là đủ bộ!

[2] Trích ca từ bài Chúng ta khua mái chèo, nhạc phim Đoá hoa của Tổ quốc, bộ phim thiếu nhi đầu tiên của Trung Quốc, sản xuất năm 1955.

“Sao con cứ ngồi nghệt ra? Chèo thuyền giúp bố đi, để bố mắc mồi giun vào lưỡi câu.” Hà Đại Duy biết cậu con trai không hào hứng gì nhưng vẫn cố gượng đi cùng. Thằng bé ngồi nhà nhiều quá, nên để nó gần gũi thường xuyên hơn với thiên nhiên.

Hà Hoan chèo thuyền, đành vậy. Bố đang xử lý đám giun dính nhớt, cậu nghĩ mà ghê cổ. Cậu quyết nhìn sang chỗ khác, chứ không xem cái khoa biểu hiễn dân gian rất nguyên thủy của bố.

Cậu vừa quay nhìn, thì nhận ra đó là một quyết định sai lầm.

Cậu hét lên kinh hãi: “Bố ơi nhìn xem cái đám trắng trắng kia là cái gì?”

Hà Đại Duy nghền cổ nhìn. Trên mặt hồ phía xa có một đám trắng xóa đứng yên gần đám lau sậy.

“Lạ nhỉ? Ta chèo đến xem sao?”

“Xem làm gì?”

“Cứ đến xem sao.” Hà Đại Duy vẫn khăng khăng.

Quyết định quá sai lầm của ông bố. Thuyền áp lại gần.

Cậu lải hét lên kinh hãi, rồi sợ quá khóc thét lên. Chẳng phải cậu ta non nớt hoặc chưa nhìn thấy máu me chết chóc bao giờ; cậu từng lén chơi nhiều game chém giết sa trường hoặc tiêu diệt yêu quái, nhưng vẫn không giúp cậu có đủ can đảm đối mặt với cảnh tượng trước mắt.

Xác một phụ nữ loã thể, đã bị ngâm nước trương phềnh trắng nhợt lẫn xám ngoét.

Chục hôm sau, cái xác thứ hai bị nước xô vào bờ hồ, là xác một nam giới.

Vài ngày sau đó, lần lượt có thêm ba xác nam giới được phát hiện ở lòng hồ và ven hồ Chiêu Dương. Đây trở thành một trong các vụ thảm án lớn nhất năm đó tại thành phố Giang Kinh và vùng phụ cận.

Đến nay vụ án vẫn còn bỏ ngỏ.

 

Na Lan chưa từng trễ giờ, chuyến tàu thủy sang sông tiếp theo xuất phát lúc 9:25, trước đó mười phút cô đã đến bến phà mua vé xong xuôi.

Nhưng vấn đề là tàu lại đến trễ giờ.

Điều này Na Lan cũng đã quen, nên đối với bất cứ cuộc hẹn hò nào cô cũng luôn là người đến sớm hoặc đến đúng giờ. Thói quen này đã có từ nhỏ. Đối với tôi hoặc bạn, sau khi bị chưng hửng chờ suông, thì thói quen đúng giờ của chúng ta chắc sẽ biến dạng, ta sẽ “không thật thà như thế nữa”. Nhưng Na Lan là cô gái rất khó bị “biến dạng” như vậy. Khoa tâm lý trường Đại học Giang kinh vốn nổi tiếng là lắm người đẹp, một cô gái tầm cỡ như Na Lan – nói theo kiểu của các chàng trai hay chớt nh – cô sẽ sớm bị xã hội “biến dạng” để mà sớm làm vợ, hoặc chí ít cũng là “bồ nhí” của ai đó. Nhưng cô vẫn độc thân, mãi miết thi cử, nghiên cứu, khảo sát (tư vấn tâm lý).

Na Lan nhìn về phía đảo Hồ Tâm. Một vùng xanh mơn mởn dưi ánh nắng rực rỡ, chắc đảo đã được phủ kín cây xanh. Cô ước lượng khoảng cách từ đây đến đảo chỉ có 3 km là cùng, nếu đeo chân nhái thì có thể bơi sang đó ngon ơ. Từ năm lên bảy tuổi Na Lan đã được người cha sát sao hướng dẫn tập bơi bất kể mùa hè mùa đông. Sau đó, cô trở thành thành viên đội bơi trường thể dục thể thao thiếu niên, hiện tại cô đang là đội trưởng đội bơi của Đại học Giang Kinh.

Sắp đến ngày giỗ cha lần thứ năm mà hung thủ vẫn đứng ngoài vòng pháp luật. Hương hồn của cha giờ đang ở đâu?

Nghĩ đến người cha, cô gắng hít thở thật sâu. Giờ không phải lúc bùi ngùi thương cảm.

Con tàu đã bắt đầu rời đảo Hồ Tâm chạy sang bên này. Nó chạy vội vã, hình như biết lỗi vì sang trễ giờ và muốn bù lại thời gian đã phí phạm.

Trong lúc chờ đợi, Na Lan điểm lại một lượt nhiệm vụ ngày hôm nay: gặp rồi sẽ nói gì, nếu không có kết quả thì sao, thế nào được coi là có hiệu quả, nếu không có thu hoạch gì thì trở về sẽ báo cáo ra sao…

Nhưng dù sao đối tượng hôm nay cô trò chuyện cũng không phải một tội phạm hình sự nguy hiểm.

Ba tháng vừa qua ngày nào Na Lan cũng đi xe buýt đến trại giam phường Giang Thành để phỏng vấn tội phạm hình sự, thực hiện khóa luận tốt nghiệp theo chỉ bảo của thầy giáo hướng dẫn. Cô cho rằng đó là một đề tài bình thường và có ý nghĩ vừa phải, nhưng lại “được” tập san nột bộ nhà trường thổi phồng thành “một luận văn tốt nghiệp đầy tham vọng của khoa Tâm lý”. Thông qua thống kê phân tích môi trường trưởng thành, tình trạng tâm lý và động cơ gây án, cô muốn tìm ra quy luật tâm lý của các tội phạm hình sự. Khi nói chuyện với họ, dẫu có cảnh sát đứng bên hỗ trợ, Na Lan cũng chưa bao giờ thấy thân thiện thoải mái. Cô đã phải chịu đng rất nhiều công kích độc ác, lạnh nhạt khinh thường và chớt nh trắng trợn của họ.

Cho nên, khi kỳ nghỉ hè vừa đến, cô bèn tạm biệt cuộc sống “tự huỷ diệt” ấy, lựa cơ hội tìm kiếm một công việc nhàn nhã lành mạnh hơn một chút.

Những điều này đều là tổng kết của Đào Tử.

Đào Tử và Na Lan là hai nữ hoàng sắc đẹp của khoa Tâm lý Đại học Giang Kinh. Các giáo sư cao tuổi nhớ lại rằng, hồi xưa khoa Tâm lý đã từng cùng lúc xuất hiện hai cô bạn thân tài sắc vẹn toàn, ấy là 25 năm về trước. Hai nữ nhân vật trong thế kỷ trước, giờ đây một người đang là Thứ trưởng Bộ ngoại giao, người kia là Tổng Giám đốc chuỗi Trung tâm phục hồi sức khoẻ bên Mỹ, “đẳng cấp” triệu đô.

Tàu đã cập bờ, cửa mở toang. Khách xuống tàu vội vàng, khách lên tàu cũng vội chẳng kém. Không kể Na Lan, xem chừng những người kia đều là nội trợ hoặc người giúp việc, họ đi chợ sớm mua sắm, tay xách làn to túi nhỏ, muốn trở về đảo Hồ Tâm mát mẻ trước giờ “cao điểm” mặt trời ra oai nắng gắt.

Ông chủ tàu trạc ngoài 40 tuổi, đầu nhẵn thín, chng rõ do hói đầu hay cắt trọc, mắt đeo kính râm to đùng che gần hết khuôn mặt. Kể cũng phải. Suốt ngày lái tàu dưới nắng chói chang mà không đeo kính thì mới là lạ! Ông ta thấp người nhưng rất vạm vỡ, đùi to tướng như hai cây cột, lái tàu rất êm, hành khách không hề thấy tròng trành. Ông ta hầu như quen khắp lượt hành khách, trò chuyện rất cởi mở tự nhiên. Nhìn thấy Na Lan, ông ta cười nói: “Tôi đánh liều thử đoán nhé, cô sang gặp Tần Hoài, đúng không?”

Na Lan tươi cười đáp lại: “Tàu của ông có gương không?”

Ông ta ngớ người ra. Cô nói tiếp: “Lúc sớm ra khỏi nhà tôi đã soi gương, chẳng thấy mẩu giấy nào dán vào tôi rằng tôi đi gặp ai, sao ông lại đoán thế?”

Vài hành khách dỏng tai lắng nghe, rồi bật cười. Ông chủ tàu nói: “Đoán thì khó gì? Một cô gái xinh đẹp, đóng bộ nghiêm chỉnh, lại đi một mình… Tôi dám chắc là sang tìm Tần Hoài.”

“Chắc cô hâm mộ nên mới sang gặp?”

“Hoặc là bạn gái, ai mà biết được? Đó là chuyện riêng tư của người ta.”

Ông ta lại nhìn Na Lan một lượt: “À, chắc cô là…”

Na Lan nghĩ bụng, đây là chuyện riêng của tôi, nhưng ngoài miệng lại cười: “Tôi có việc công.”

“Việc công à?”

“Về chuyện viết sách.” Là việc công hay tư, Na Lan chẳng muốn nói thêm nữa.

Ông ta vỗ lên cái đầu nhẵn thín của mình: “Ôi, tôi rõ thật là… Anh ta chuyên viết văn, thì việc công chính là nói về bản thảo. Cô là nhà xuất bản nào thế?”

“Tôi chỉ là nhân viên nhà xuất bản. Họ cử sang để… làm tr lý cho anh ta.” Nhưng cô biết ngay mình đã nói hớ, không thể rút lại lời đã buột miệng, chỉ mong tiếng còi thủy đủ làm nhiễu “ra-đa” của mấy người khách đi tàu.

Nhưng “máy bắt sóng vệ tinh” của họ chống nhiễu rất tốt, ai cũng tủm tỉm tỏ ra mình đã thừa hiểu cả, các tờ báo lá cải hay loan tin nên họ đều biết “trợ lý” nghĩa là gì.

Có lẽ đeo thêm chân nhái mà bơi sang đảo Hồ Tầm cũng là một ý không tồi.

Rốt cuộc sang đến nơi. Con tàu chầm chậm chạy nữa vòng quanh đảo Hồ Tâm, mé bên kia không có đá ghềnh thì mới có thể cập bờ.

Trong số vài người lèo tèo đang chờ tàu, có một cô gái tóc dài, mặc váy ngắn là trông bắt mắt hơn cả.

Ông chủ tàu cố ý nói nói cho Na Lan nghe thì phải: “Kìa, có một người.” Là ai? Là người sang đây có “chuyện riêng tư” với Tần Hoài!

Cô gái ấy đeo kính râm. Không hiểu tại sao Na Lan có cảm giác sau cặp kính râm ấy đôi mắt cô ta đã “tia”vào mình từ rất xa. Cô thm chí cảm thấy đôi mắt ấy đỏ đòng đọc, đuôi mắt ươn ướt, ánh mắt oán hờn.

Nhưng chỉ là cảm giác, rất vô căn cứ.

Hành khách lần lượt xuống tàu, Na Lan đi sau cùng. Ánh mắt cô gái kia bám sát khi cô cảm ơn ông chủ tàu, khi cô bước lên bậc thềm, khi cô khẽ vuốt tóc mai, khi cô và cô ta đi ngược chiều nhau trong giây lát, dõi theo khi cô bước ra cửa rào chắn bến tàu.

Vào cái giây lát ấy, Na Lan ngửi thấy mùi nước hoa oải hương.

Mọi cử chỉ của Na Lan đều lọt vào tầm mắt một người.

Xem ra, Na Lan xinh đẹp vừa xuống tàu kia đúng là môt “người mới” đáng để bao kẻ khao khát. Tuy đã sớm đoán biết “người mới” này rất lộng lẫy, nhưng người ấy vẫn phải kinh ngạc trước vẻ diễm lệ sáng ngời của Na Lan với làn da trắng ngần, trang phục đẹp mà không loè loẹt, điềm đạm nhưng toát ra nét đoan trang “đầy sức sống”. Chỉ trên trời mới có mỹ nhân như thế này.

Nghĩ đến đây, người ấy thấy tiếc cho Na Lan. Một người đẹp nhường này mà lại sắp trở thành vật hy sinh.

Ánh mắt người ấy có nét xót thương, ham muốn, hứng khởi và cả thất vọng nữa. Nhưng một bóng người đã chắn mất tầm nhìn.

“Cô là Na Lan phải không?” Bên ngoài bến tàu, một giọng nói vang lên, một bàn tay to nhiệt tình chìa ra. Đó là một thanh niên rất điển trai, mạnh mẽ.

“Vâng. Anh là…” Thoạt nhìn Na Lan ngỡ là chính Tần Hoài ra đón cô, nhưng cô lập tức nhận ra anh chàng này không giống như ảnh Tần Hoài vẫn đăng trên các báo. Chẳng khác gì ảnh các nhà văn mà báo chí vẫn đăng, Tần Hoài trong ảnh cũng cố tỏ ra thâm trầm, tư lự. Còn anh chàng này thì khác hẳn, đôi mắt to, cặp lông mày rậm, hàm răng trắng bóng, trông rất sáng sủa.

“Tôi là Phương Văn Đông, anh Tần Hoài nhờ tôi ra đón cô.”

Na Lan nhớ ra các bước cô đã chuẩn bị cho công việc này, biết rằng Phương Văn Đông cũng là văn sĩ hay viết tiểu thuyết kinh dị, bắt đầu hành nghề gần như cùng lúc với Tần Hoài nhưng thành công của anh còn thua xa. Hai người là bạn chí thân, thường cùng xuất hiện trong các buổi toạ đàm, các dịp bán sách ký tặng độc giả và các diễn đàn ở trường học.

Na Lan gật đầu mỉm cười: “Ngưỡng mộ anh đã lâu.”

“Không dám. Tôi không phải chịu nhiều áp lực vì luôn có nhà xuất bản đặt viết như Tần Hoài, nên thường làn chân sai vặt cho anh ấy. Tôi sắp thành lái xe riêng của Tần Hoài cũng nên. Nhưng chúng tôi là bạn thân, anh ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều.” Phương Văn Đông dẫn Na Lan đến chỗ chiếc xe BMW đang đỗ ngoài bến tàu.

Tiếng còi tàu bỗng rền vang, dường như nhắc nhở Na Lan: ánh mắt sắc như dao cạo vẫn bám theo cô đến chỗ ôtô đỗ.

Cô từ từ quay người lại, vì thấy sau gáy đau nhói như bị mũi đao chích.

Con tàu đã rời bến nhưng ánh mắt ấy vẫn còn. Cô gái tóc dài váy ngắn đang đứng nơi đuôi con tàu, mặt hướng về đảo Hồ Tâm. Cô ta vẫn nhìn xoáy vào Na Lan.

Cô không thấy đôi mắt sau cặp kính râm nhưng cô cảm nhận được hình như ánh mắt ấy chất đầy oán hờn.

Cô ta là ai?

Na Lan quay người, vẻ ngập ngừng. Phương Văn Đông hiểu ra ngay, anh định nói gì đó nhưng rồi lại thôi. Na Lan cũng không hỏi anh na lời.

Phương Văn Đông mở cửa mời cô lên xe, tỏ ra rất đàn ông, rất chuyên nghiệp. Na Lan cảm ơn. Rồi đóng cửa xa. Từng làn hương thơm ngát phả vào cô, mùi nước hoa của phụ nữ, mùi thơm của hoa oải hương.

Chiếc xe hơi này đã chở cô gái kia đến bến tàu, bây giờ lại đón Na Lan.

Tần Hoài nổi tiếng trong làng văn là “nhà văn sưu tập tem”, tiếng đồn không ngoa!

“Tôi biết cô đang nghĩ gì.” Phương Văn Đông khởi động xe, nhưng anh chưa vội quay xe. “Cô ấy là Ninh Vũ Hân, tôi vừa chở cô ấy đến bến tàu để quay về thành phố Giang kinh. Chắc lúc này cô đang nghĩ rằng cô ấy là một trong số đông các bồ nhí của Tần Hoài mà dư luận vẫn đàm tiếu.”

Lúc nãy là ông lái tàu thủy, bây giờ là anh lái xe, hôm nay Na Lan toàn gặp thầy bói Gia Cát Lượng thì phải? Cô có nghe nói Ninh Vũ Hân là nữ văn sĩ cũng có chút tiếng tăm, hay viết tiểu thuyết tình cảm u buồn.

“Đàm tiếu hay không, chẳng liên quan gì đến tôi.”

“Có chứ! Rất liên quan đấy!” Phương Văn Đông mở chiếc cặp da, lục tìm. “Rồi cô sẽ biết ngay.” Cuối cùng anh lấy ra một tờ báo đưa cho Na Lan: “Cô có nhận ra người này không?”

Na Lan nhìn tấm ảnh cô gái trên trang báo, chính là Ninh Vũ Hân đang trên tàu thủy trở lại Giang kinh kia. Báo lá cải hôm qua giật tít đỏ rất bắt mắt: “Nhà văn xinh đẹp thổ lộ lịch sử tình yêu trên mạng”, ở một góc khác là bức ảnh Tần Hoài - chủ nhân của thuộc hạ Phương Văn Đông.

“Tôi không hiểu tại sao anh lại đưa tôi xem cái này? Tôi sang làm trợ lý sáng tác, đâu có làm trợ lý quan h công chúng cho anh ấy?” Na Lan cau mày, cô thấy rất phản cảm.

Phương Văn Đông vội nói: “Tôi hoàn toàn không có ý đó.” Rồi anh lái xe ra khỏi bến tàu. “Chẳng cần tôi nói, chắc cô cũng biết Tần Hoài bị dư luận chế nhạo về cái chuyện kia. Nhưng tôi rất mun làm cho mọi người hiểu rằng anh ấy không phải hạng người đó. Chẳng qua là một vài cô gái nghĩ lệch lạc cực đoan và một số trong giới truyền thông rách việc đã tô vẽ Tần Hoài thành một gã ăn chơi đàng điếm…”

Đường ven núi ngon ngoèo, hai bên đường cây cối um tùm, thấp thoáng những tường gạch mái ngói. Họ đã đi qua vài chục ngôi biệt thư hoặc những khi biệt thự liền kề.

“Ninh Vũ Hân có quen Tần Hoài, họ cùng là văn sĩ ở Giang Kinh, nhưng xưa nay họ chưa từng đi quá giới hạn của tình bạn bình thường.” Phương Văn Đông điều khiển xe rất êm. “Nhưng chẳng hiểu tại sao cô ấy cứ nghĩ hai người đã là một cặp rồi. Tối qua cô ấy sang đây, nói là Tần Hoài không nên chung chạ rồi ruồng rẫy. Oan cho anh ấy! Phải có cả hai phía thì mới nên chuyện chứ? Chỉ là đơn phương, thì chung chạ hay ruồng rẫy cái gì? Cái tật lớn nhất của Tần Hoài là dễ mềm lòng. Đêm qua anh ấy vẫn để cô ta ngủ phòng khách, sáng nay mới bảo tôi đưa ra bến tàu.

Bấp chấp nhiệt độ bên ngoài trên 35 độ, Na Lan hạ cửa kính xe, vì hình như Phương Văn Đông càng giải thích càng khiến không khí trong xe ngột ngạt.

“Những điều này thì ảnh hưởng gì đển công việc của tôi?” Cô nhã nhn hỏi, và không mong được nghe câu trả lời có logic nào hết.

Phương Văn Đông ngớ ra, nghĩ ngợi một lát rồi nói: “Cô sẽ phải hằng ngày tiếp xúc với Tần Hoài, nếu hiểu được bản chất của anh ấy thì tốt. Anh ấy không phải “nhà văn chơi tem[1]” tệ hại như báo chí đã viết, anh ấy rất chất phác, chính trực. Tôi biết anh ấy đã mấy năm, tôi phát ngôn rất chuẩn.”

[1] Ngụ ý đàng điếm.

Xem ra Phương Văn Đông đúng là trợ lý quan hệ xã hội của Tần Hoài.

“Cảm ơn. Tôi sẽ chú ý, sẽ không tuỳ tiện hạ thấp nhân cách của người ta… và sẽ gắng quan hệ hài hoà với anh ấy.”

“Tôi không nói anh ấy là người hoàn hảo, vào việc rồi cô sẽ biết… anh ấy… anh ấy hơi kỳ dị, tính cách có chút khiếm khuyết. Ai mà chẳng thế, ngọc có tỳ vết nhưng vẫn lung linh.”

Na Lan nhớ đến những lần vào trại giam điều tra tâm lý. “Trước đây tôi tiếp xúc với nhiều người, họ cũng điều có chút khuyết điểm…”

Phương Văn Đông không nhận ra tâm trạng “gượng gạo” của cô, anh đáp: “Thế thì tốt.” Rồi anh lầm bầm như nói với chính mình: “Mong sao Ninh Vũ Hân sẽ không làm phiền cô như đã bám riết Tần Hoài. Hiện giờ tâm trạng cô ấy hết sức cực đoan, tôi cảm thấy cô ấy thậm chí nghĩ bừa cô là…”

“Tình địch?” Lúc này Na Lan đã hiểu tại sao lúc ở bến tàu, Phương Văn Đông do dự muốn nói gì đó. Cô có thể hình dung Ninh Vũ Hân lúc ngồi trên xe đã căn vặn Phương Văn Đông sắp đi đón một “quý khách” lai lịch ra sao.

“Nhưng chẳng đến mức ấy đâu. Có lẽ tại tôi đã cả nghĩ đó thôi.” Anh ta thở dài.

Na Lan bỗng cảm thấy có lẽ công việc này của mình chả dễ chịu hơn vào trại giam điều tra tâm lý là mấy.

Chương 2: Gặp Tần Hoài, lỡ một đời người

Nhưng ít ra công việc mới này vẫn tốt hơn hàng trăm lần so với cái “công trường” trước đây cô làm việc. Ngôi biệt thự ba tầng trắng sáng của Tần Hoài, nóc lợp ngói đỏ, xây dựng theo phong cách kiến trúc Địa Trung Hải. Hàng cây hoa hồng trồng bao quanh tường, lúc này không phải mùa đơm hoa nhưng đó đây vẫn còn sót lại mấy bông hồng.

Đường đường một nam nhi mà lại trồng cả đám hoa hồng ngoài cửa sổ thì đừng trách ai nói mình là kẻ chơi bời.

Tiếng dương cầm du dương từ trên gác vọng xuống, đó là khúc nhạc Thư gửi Elise quen thuộc. Na Lan thầm than thở: chẳng phải kiệt tác của Beethoven bị coi thường, khúc nhạc này đã bị dán nhãn “nhạc dương cầm thịnh hành”, nhưng dù sao cũng nói lên cái gu âm nhạc của chủ nhân.

Vào sân, bước lên thềm lát đá bạch ngọc rồi đi đến trước cửa, Phương Văn Đông rút chùm chìa khóa mở cửa. Tiếng chuông lảnh lót như minh châu gieo xuống khay ngọc, thánh thót ngân nga, hiển nhiên là hệ thống cảnh báo an ninh. Phương Văn Đồn nhập mật mã vào thiết bị đặt bên cửa, tiếng chuông tinh tang im bặt.

Tần Hoài tín nhiệm Phương Văn Đông hết mức. Na Lan nghĩ bụng, giữa mình và Đào Tử đã thân đến thế này chưa?

Trên tường gắn đèn trong màu trắng sữa, chắc để ban đêm chiếu sáng cửa ra vào. Ở một góc tường còn gắn hai cái đèn nhỏ, không có gì nổi bật. Na Lan nhìn kỹ, có cảm giác không phải đèn mà là đôi mắt. Thì ra đó là hệ thống ca-mê-ra giám sát.

Vào trong rồi, Phương Văn Đông nhanh nhẹn bước vào gian bếp, treo chùm chìa khóa lên một cái giá nho nhỏ, anh nói: “Mời cô ngồi, ngồi đi văng hay ghế thì tùy. Tôi lấy đồ uống. Cà phê, cô-ca, nước cam, nước khoáng, hay hồng trà…cô cứ cho biết?” Anh rất tự nhiên chẳng khác gì chủ nhà. Rõ ràng anh là khách thường xuyên ở đây, anh là người thân tín của Tần Hoài. Nghe anh gọi “cô” lúc này đã có nét thân mật và thoải mái hơn.

Na Lan ngồi đi văng. Phòng khách này có cửa sổ dài chạm sàn, bên ngoài là hồ nước biếc xanh như ngọc mã não. Cây đàn dương cầm ba chân kê sát tường, vải phủ kín, tiếng dương cầm vừa nãy là do dàn âm thanh trên gác vọng xuống chứ không có ai ngồi đây chơi đàn cả.

“Cho tôi cốc nước trắng là được.”

“Đơn giản thế thôi à?” Phương Văn Đông nhanh nhẹn mở tủ lạnh cầm ra một chai nước khoáng.

“Trời nóng, uống nước trắng giải nhiệt rất tốt. Chứ cô-ca, trà hay cà phê thì làm ta mất thêm nước, và…” Phương Văn Đông chờ cô đáp lời.

“Anh nói đúng, khẩu vị của tôi đơn giản thôi.” Na Lan nói chữ “anh” một cách trịnh trọng.

“Quân tử chi giao đạm nhược thủy[1], ngày xưa thì thế nhưng nay xã hội luôn tiến bước nên không hợp nữa rồi. Nhất là giao lưu với các người đẹp thì xưa nay không thể cứ đơn giản là được.” Một giọng nam giới, khác với giọng của Phương Văn Đông. Giọng của Phương Văn Đông đầy đặn, giọng người này như có nam châm. “Người đẹp thường quen với đồ trang sức, xe hơi đẹp, 999 bông hồng và nhanh chóng thành danh trên mạng; chứ người có khẩu vị đơn giản thì không nhiều.”

[1] Câu cổ ngữ: người quân tử quan hệ với nhau luôn trong sáng.

Tần Hoài.

Nói năng bỗ bã và cũng bóng láng hệt như bút danh của anh ta.

Na Lan định đứng lên bye-bye luôn.

Nhưng cô không lùi bước, cô không có thói quen ấy. Vả lại, thấy Tần Hoài bước đến, cô cũng hơi hơi rung động. Trước đây nhìn ảnh anh ta trên báo, ngoại trừ vấn đề danh lợi, cô thấy anh ta cũng đáng mặt một nhà văn ưa chơi tem, vẻ đẹp trai có thể khiến phụ nữ ở nhiều độ tuổi phải xiêu lòng. Lúc này mới biết những tấm ảnh nhỏ ấy chỉ giới hạn ở mức miêu tả “mặt phẳng” một con người. Còn đây là Tần Hoài “không gian ba bốn chiều”, là tác phẩm sinh động rất đặc sắc. Nhất là đôi mắt đầy ấn tượng, có vẻ hờ hững lại pha nét ngạo đời, nhưng nhiều hơn cả là nét u buồn vô cùng sâu lắng. Trước kia nhìn ảnh, thấy hình như anh ta cố ra vẻ u buồn tư lự, lúc này mới nhận ra nét u buồn này còn da diết hơn cả tiếng ve sầu ngoài cửa sổ kia. Phần lớn các cô gái bẩm sinh đều có thiên chức làm mẹ, nhìn thấy chàng trai khôi ngô tuấn tú đang sầu muộn, họ đều tự nguyện và sẵn lòng bước đến an ủi xoa dịu nỗi sầu.

Để rồi chính mình phải khổ đau.

Na Lan bỗng thấu hiểu tại sao cô gái tóc dài váy ngắn Ninh Vu Hân lại vướng vào lưới tình sâu đến như vậy.

Tần Hoài tạm che giấu nết ưu tư, vẻ mặt tươi roi rói, chìa tay ra: “Cô là Na Lan thật à?”

Na Lan đứng lên bắt tay Tần Hoài. Cô thấy bất ngờ. Vốn nghĩ Tần Hoài thu mình ở đảo Hồ Tâm để viết văn, hẳn là một anh chàng yếu mềm, ẻo lả, sức trói gà không chặt, nhưng lúc này bắt tay mới thấy bàn tay chắc nịch cứng cáp chẳng khác gì bàn tay của một người lao động cơ bắp quanh năm vất vả. Như một phản xạ có điều kiện, cô chăm chú nhìn khuôn mặt anh. Da mặt không hề trắng mịn như cậu học trò non nớt, mà là nước da đỏ sẫm của một người đã trải qua phong sương mưa nắng.

Cô là Na Lan thật à…Hỏi thế là ý gì?

“Tôi chính là Na Lan, là dân sinh viên, hình như đến giờ chưa có lý do gì để ai khác phải mạo danh tôi.”

“Xin lỗi, tôi không có ý đó.” Tần Hoài cười, không chút áy náy. “Tôi muốn nói là, tôi hơi ngạc nhiên, không ngờ anh Hải Mãn Thiên lại cử đến cho tôi một thắng cảnh, tươi đẹp hết nhẽ thế này.”

Dùng “thắng cảnh” để tả mỹ nhân? Na Lan mới chỉ đọc thoáng qua tác phẩm của anh ta, chẳng qua chỉ là khoác cái áo “truyện kinh dị” để viết tiểu thuyết tình ái mà thôi. Thế là moi được tiền của vô khối thiếu nữ. Hôm nay mắt thấy tai nghe, anh ta nói năng tùy tiện như không, đúng thế. Cô thậm chí nghĩ rằng, đã nói “thắng cảnh” rồi, lại còn thêm “tươi đẹp hết nhẽ” thì quá rườm rà, có thể lược bớt đi.

Chẳng rõ lần đầu gặp mặt Ninh Vũ Hân, anh ta có so sánh vô lối kiểu này không?

Hải Mãn Thiên mà Tần Hoài nhắc đến là ông chủ thật sự của Na Lan, là nhà xuất bản tầm cỡ nhất nhì cả nước, đối tác đều là các tác giả rất hot. Qua nói chuyện với Hải Mãn Thiên, cô hiểu rằng hai người rất thân nhau, và cũng biết được thái độ viết lách của Tần Hoài.

Thái độ viết lách của anh ta, có thể tóm gọn trong một từ “lần lữa”.

Na Lan mỉm cười, vào việc luôn, cô mở xắc lấy ra cuốn sổ tay: “Đã nhắc đến ông Thiên thì…đây là kế hoạch xuất bản vừa mới điều chỉnh tháng trước, ông ấy mong tiên sinh bớt chút thời gian điểm lại với tôi một lượt…”

“Gọi tiên sinh khiến tôi ớn quá đấy!” Tần Hoài ngồi xuống bên Na Lan, lần đầu tiếp xúc mà ngồi thế này thì hơi gần. “Đương nhiên rồi, học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ[2], cùng một cô gái xinh điểm lại công việc thì thích vô cùng.”

[2] Lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ. Học mà thường ôn tập, chẳng phải rất vui sao?

Na Lan ngán ngẩm, chỉ muốn tát vào cái mặt vênh váo ấy. “Trước khi ký bản thỏa thuận với anh về tiểu thuyết kinh dị Lời nguyền áo tơi trong mưa gió, hai bên đã dự tính tiến độ rõ ràng: tháng Giêng bắt đầu sáng tác, tháng Mười nộp bản thảo sơ bộ, sang năm sẽ xuất bản, vừa kịp triển lãm sách ở Bắc Kinh trong tháng Ba và hội chợ sách toàn quốc tháng Tư…”

“Hội chợ sách Hải Nam tháng Năm, triển lãm sách Trùng Khánh tháng Năm, vân vân…” Xét từ góc độ tâm lý học thì Tần Hoài có thói quen ngắt lời người khác, có thể là biểu hiện của tâm trạng không ổn định, nhất là do cái tính cách tự cho mình là trung tâm.

Hoặc có lẽ anh ta chỉ muốn mau chóng kết thúc bàn bạc công việc để có thể tiếp tục chớt nhả tán gái.

Anh ta chòng chọc nhìn Na Lan, mắt sáng rực rỡ, rõ ràng không hiểu là mình rất mất lịch sự: “Thực ra là ông Thiên đang giở ngón với tôi. Ai chẳng biết xưa nay ông ta phát hành sách dễ như chơi và cũng không cần các trình tự chính thức, nói là hội chợ sách, triển lãm sách này nọ chỉ toàn là viện cớ. Ông ta chỉ muốn tôi viết cho thật nhanh để ông ta mau kiếm tiền…à, để bọn tôi mau kiếm được tiền, sau đó nhanh chóng bước vào đợt kiếm tiền tiếp theo. Cho nên, ông ta bảo cô sang làm trợ lý sáng tác cho tôi, thực ra là để giục bản thảo.”

Na Lan thấy ngán ngẩm nhưng vẫn mỉm cười: “Ta cứ nên thẳng thắn thì hơn. Liệu tôi có thể giúp anh được điều gì thì anh cứ nói? Tra cứu tư liệu, nhập văn bản vào máy tính…tôi xin bắt tay vào ngay.”

“Cô có mang theo quần áo bơi không?”

“Gì cơ?” Na Lan ngỡ mình bị ảo thính giác, giống như khá nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của Tần Hoài.

“Quần áo bơi! Ngày nào cô cũng cần mẫn sang đảo Hồ Tâm, sao cô không tận dụng tài nguyên trời ban cho này? Tôi biết một điểm rất tuyệt để bơi, cho đến giờ chưa ai biết…” Nếu sửa lại một câu của ngài Mạnh Tử, thì nên nói Tần Hoài thuộc hạng “vô liêm sỉ và cũng can đảm nữa”[3]

[3] Câu của Mạnh Tử vốn là: làm người, phải có liêm sỉ, tiếp đó là can đảm. (tri sỉ nhi vi nhân, tri sỉ nhi hậu dũng)

“Ông Thiên bàn về công tác với tôi, không nêu cái điều kiện về phúc lợi này, nên chuyện bơi lội xin miễn cho! Anh nghĩ đi, có việc gì liên quan đến cuốn Lời nguyền áo tơi trong mưa gió mà tôi có thể giúp được không?” Na Lan thầm cảm ơn những bài học kinh nghiệm dạn dày có được trong những lần vào trại giam phỏng vấn, cô vẫn trấn tĩnh như thường.

“Có, đương nhiên là có. Bữa trưa chúng ta sẽ nói chuyện.” Tần Hoài có vẻ hài lòng ngồi dựa vào đi văng, hai mắt lim dim, công khai thể hiện “hứng thú” đối với công việc. “Bữa trưa nói không hết thì để bữa tối tiếp tục nói.”

“Chắc ông Thiên đã cho anh biết, thời gian làm việc của tôi là từ 10 giờ sáng đến 3 rưỡi chiều?”

“Tôi sẽ chi tiền làm thêm giờ, thì sao?”

“Nếu anh tin rằng tiền có thể mua được tất cả.”

Phòng khách trở nên im ắng, chỉ còn tiếng điều hòa chạy chầm chậm. Phương Văn Đông nói là có việc phải đi Giang Kinh, rồi bước ra ngoài chẳng nói một câu gì đó cho dịu tình thế.

Na Lan biết, riêng câu nói vừa rồi của cô cũng đủ để khiến mình bị sa thải. Cô đã được rèn luyện trong khoa tâm lý học, cũng chẳng phải cô không hiểu sự đời, nhưng vào lúc này cô không ngán ngẩm làm phật ý “ông chủ”. Nén mình và nhẫn nhịn có thể khiến xung quanh ta luôn vui tươi như mùa xuân, nhưng nó không bao giờ là cách tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn. Nhất là đang đối mặt với gã “nhà văn hàng đầu” ngông nghênh tự phụ là tài hoa này, về lý thuyết mà nói, tốt nhất là hãy mau tránh cho xa.

Tần Hoài bỗng cầm cái điều khiển trên bàn rồi bật ti-vi, kênh Kinh tế đài trung ương. “Đây gần như là kênh duy nhất mà tôi xem. Xem đi xem lại, hình như đúng là tiền có thể mua được tất cả.” Giọng anh đều đều, dù có bực tức thì cũng đã nén được.

Di động của anh ta reo chuông, nhạc cũng là tiếng dương cầm, Khúc nhạc buồn của Chopin. Học làm sang, ra vẻ ta đây đa sầu đa cảm, càng đúng với đặc điểm của Tần Hoài.

Anh ta vẫn ngồi đó nghe điện của ông Hải Mãn Thiên, luôn miệng nói “Tôi sẽ đối xử tốt với cô ấy”, khiến Na Lan thấy quá ngứa tai, cô lại phải so sánh với những ngày vào trại giam phỏng vấn tù nhân.

“Thế đấy, ông ấy còn lo tôi ngược đãi cô. Thực ra tôi bị cô ra đòn thì có!” Tần Hoài đặt di động xuống rồi nói.

“Về chuyện bản thảo, ông Thiên đã dặn dò rằng tôi phải biết được tiến độ cụ thể…”

“Tôi ngỡ vừa nãy cô chỉ nói đùa, nhưng xem ra cô đúng là cô đến để…” Vẫn là cái tật ngắt lời người khác của anh ta.

“Để giục bản thảo.” Na Lan quyết ý truy hỏi, nói toạc ra. “Qua điện thoại và qua e-mail anh đều nói rất mơ hồ, đã viết được mười vạn chữ hay là chưa hề bắt tay vào, chẳng ai biết.”

Tần Hoài đứng lên thở dài: “Ông Thiên không muốn chính mình phải bám riết không tha, nên mới cử người đẹp làm tay chân sang ép tôi khuất phục. Nào, vào thư phòng với tôi, tôi sẽ cho cô xem tiến độ. Có điều, tôi đã no đòn rồi, cô cũng phải no cơm chứ? Cô quá đẹp, cứ như là chẳng thiết cơm nước chốn trần gian. Nhưng lẽ nào lại bỏ bữa trưa thật?”

Na Lan cau mày, cô ngẩng nhìn đồng hồ trên tường: “Nhưng lúc này mới 10 giờ rưỡi?”

Dù đã khai thác quỹ đất tối đa, chung cư và biệt thự mọc lên như nấm, đảo Hồ Tâm chỉ có hơn 1000 hộ dân, còn nhà hàng thì khá nhiều. Loa Cư là hiệu hải sản nho nhỏ nhưng Tần Hoài rất ưng ý. Anh ta nhất quyết mời Na La ăn “bữa cơm văn phòng” chỉ “lèo tèo” bốn đĩa, một bát canh, tôm hùm và sò tươi đương nhiên là có.

“Lúc nãy cô không phản đối hải sản kia mà, sao vẫn cau mày? Hay cô không hề biết cười? Tần Hoài chế nhạo.

Na Lan vẫn nhíu mày, nghĩ bụng “đồ vô duyên”. Cô chọi lại: “Khi gặp nhau, trước khi anh mở miệng, tôi đã cười rồi.”

“Mỉm cười chiếu lệ khi bàn công việc, không tính!”

“Đã nói đến công việc thì…”

“Lúc này là giờ ăn, không bàn công việc.”

Na Lan cau mày nói tiếp: “Suốt nửa năm trời anh tuyên truyền trên báo chí là mình “dồn hết tâm huyết” cho cuốn tiểu thuyết ‘tầm cỡ thế kỷ’, thế mà mới chỉ viết được lời dẫn 5000 chữ…” Trước khi đến hiệu ăn, cô đã đọc xong phần bản thảo đã viết của Tần Hoài: câu chuyện về một người thời nhà Minh đi tìm kho báu, phát hiện ra vài cái xác. Chỉ có vậy. Cô nghĩ anh ta đang đùa hay sao?

“Hai phần dẫn, 5753 chữ”.Anh ta lại còn dám “chỉnh lại” cô nữa!

“Nửa năm trời anh viết được 5753 chữ, trung bình mỗi ngày chưa đến 30 chữ: xem ra, “giai phẩm” ra đời còn khó hơn cả điêu khắc nham thạch!”

“Tiểu thuyết kinh dị, tổn hao rất nhiều sức lực để nghiền ngẫm cấu tứ, na ná như các cô viết luận văn.”

“Viết chậm cũng chẳng sao, tôi cũng đồng ý rằng phải nghiền ngẫm công phu thì mới viết được sách hay, nhưng tôi chỉ lo với tốc độ này thì đừng nói là ba tháng, dù cho anh thêm nửa năm nữa e cũng không kịp tiến độ như dự kiến.” Na Lan còn chưa nói ra câu này: nếu như anh vẫn còn dập dìu với con bé Ninh Vũ Hân thì lại càng vô vọng.

Sắc mặt Tần Hoài vẫn thản nhiên như trước, chỉ khác anh ta cứ nhìn chằm chằm vào cô: “Cô cứ về mà hỏi ông Thiên, có phải lời nói của tôi luôn chứa sức nặng ngàn cân, đã hẹn ngày nộp bản thảo thì chưa từng sai hẹn, đúng thế không?”

Đúng là ông Hải Mãn Thiên cũng từng nói Tần Hoài tuy có lần lữa thật nhưng chưa bao giờ nộp bản thảo sai hẹn, dù chỉ hẹn bằng mồm. Có điều, lần này lại khác, ông Thiên nhận ra rằng có lẽ Tần Hoài đang gặp trục trặc trong khi viết nên mới trì trệ, vì thế ông phải cử Na Lan sang làm “trợ lý” cho anh ta.

“Ông Thiên cũng biết anh xưa nay rất giữ lời hứa… anh nói là ba tháng sẽ giao bản thảo, nhưng nếu giãn thêm một hai tháng cũng không vấn đề gì lớn.”

“Đầu tháng Mười một nộp bản thảo. Bản thỏa thuận đã ghi rõ rồi.”

“Ông Thiên không định ép anh…”

“Cô không tin tôi sẽ nộp bản thảo đúng hẹn à?”

“Không phải thế. Tiếng tăm của anh và chất lượng bảo đảm, tin rằng anh sẽ không làm việc quấy quá cho xong chuyện.” Vì tiến độ nên bỏ qua chất lượng tác phẩm là căn bệnh phổ biến hiện thời, chẳng ai không mắc phải.

“Cô vẫn không tin à?”

“Tôi cảm thấy thời gian có vẻ gấp gáp quá.”

Dường như Tần Hoài mỉm cười rất chân thành, nụ cười khiến mấy cô gái ngồi trong quán phải đưa mắt nhìn sang. Na Lan bỗng thấy thông cảm với Ninh Vu Hân. Anh ta hơi dướn người về phía trước, gần Na Lan hơn: “Thế này vậy, chúng ta cá, nếu tôi nuốt lời, dù tôi đưa ra trăm ngàn lý do gì vẫn không nộp bản thảo đúng hẹn thì tôi thua cuộc. Nhưng nếu tôi nộp bản thảo đúng hẹn, chất lượng bảo đảm, sách được thị trường đón nhận, phát hành suôn sẻ, ông Thiên mát mặt, thì coi như tôi thắng.”

“Tôi không thích cá cược, không biết ra điều kiện.” Na Lan cảm thấy anh ta đang có ý đò gì đó.

“Ra điều kiện mà cũng không biết? Nếu cô thắng, ví dụ, cô có thể lấy chiếc xe BMW mà xài cho sang. Tôi nói thật chứ không đùa đâu.”

“Không! Vì một là tôi chê BMW chưa đủ đẳng cấp, chưa phải xe Porsche. Hai là cuộc sống của tôi gắn với trường đại học Giang Kinh, giới sinh viên, không cần thiết đi xe hơi và cũng không nuôi nổi nó. Điều thứ nhất, nói đùa, điều thứ hai nói thật.”

Tần Hoài lại ngả người trở lại: “Tôi đã nói hai ta cá cược, lẽ nào cô không muốn nghe nếu tôi thắng thì điều kiện của tôi là gì?”

“Tôi chỉ muốn nghe sau đây tiến độ anh viết ra sao?”

“Nếu tôi thắng…” Hình như anh ta chỉ mãi sống trong cái khuôn của mình. “…nếu cô thua, thì đơn giản thôi: chỉ cần cô cùng tôi ăn một bữa tối là được.”

Na Lan định nói “Anh cứ tiếp tục mà hoang tưởng” nhưng cô lại nói là: “Tôi rất ưng, tiếc rằng tôi vẫn không hứng thú với trò cá cược.”

Rõ ràng anh ta không dễ gì bỏ cuộc, nhất là đối với một cô gái: “Thực ra cũng chẳng phải cá cược, chỉ là cách để thúc đẩy tôi viết cho thật tốt…”

Di động bỗng reo chuông. Lại tiếng dương cầm nhưng là một giai điệu khác với lúc sáng. Na Lan đã từng nghe nét nhạc này nhưng không nhớ ra tên bản nhạc. Nếu được chút gợi ý thì…

Tần Hoài đã nhanh bật máy nên cô đành chịu, chỉ thấy anh ta hỏi liên tục: “Ai đấy ạ?” nhưng hình như đối phương im lặng. Anh ta lầu bầu: “Vớ vẩn”, và định tắt máy thì mặt biến sắc.

Na Lan nhận ra rất rõ ràng Tần Hoài biến sắc vì sợ hãi.

Anh ta đứng bật dậy, nhìn khắp quán ăn rồi chạy ra ngoài cửa, nhìn khắp bốn phía.

Na Lan lặng lẽ bước ra theo, thấy Tần Hoài đang lạnh lùng nói vào di động: “Nếu cứ tiếp tục đeo bám, thì sớm muộn gì một trong hai ta sẽ phải đổ máu để trả giá!”

Lúc này Na Lan chỉ muốn tin rằng anh ta đang đối thoại về chuyện viết tiểu thuyết. Bởi lẽ câu nói ấy không phải là lời của một người bình thường, nó rất nghiệt ngã, sặc mùi tiểu thuyết, không sao tưởng tượng được. Nó thật đáng sợ.

Cô lặng lẽ trở về chỗ ngồi, và bỗng cảm thấy không khí của máy điều hòa trong quán Loa Cư hơi lạnh quá mức.

Khi Na Lan rời đảo lên tàu thủy, thì có một người vẫn không nén nổi nhìn theo cô, quan sát từng cử động của cô.

Người ấy chợt nảy sinh ý nghĩ muốn cứu vãn mạng sống của cô gái trẻ đẹp này, vì nếu người ấy lạnh lùng thờ ơ, thì con thuyền sinh mệnh của Na Lan sẽ nhanh chóng mắc cạn.

Thật sự không thể trách gì tôi. Người ấy nghĩ vậy. Ai bảo cô tự nguyện trở thành quả đạn pháo? Cô chưa nghe nói: “Gặp Tần Hoài, lỡ một đời người” hay sao?

Ngày đầu tiên làm việc, cảm thấy thế nào? Có gặp tình yêu sét đánh không? Có khiến anh ta quỳ xuống sát gấu váy cô không?

Và có ngửi thấy hơi thở của thần chết không?

Chương 3: Đào Tử

Trước giờ đi ngủ, thư viện có điều hòa là nơi chốn dễ chịu nhất. Sau khi mặt trời lặn, Na Lan ăn cơm tối ở nhà ăn rồi trở về ký túc xá.

Cách đây một tháng cô được khoa đặc biệt cho phép chuyển vào khu ký túc xá 11 tầng của nghiên cứu sinh đại học Giang Kinh. Cô và Đào Tử ở chung một phòng tầng 7, kê hai giường cá nhân, hai cái bàn, một tủ bếp xong là gần như hết không gian. Mấy hôm nay Đào Tử về Thiên Tâm thăm cha mẹ, tuần sau mới trở lại. Chỉ còn Na Lan, khung cảnh yên tĩnh, bình tĩnh, cô sửa lại luận văn tốt nghiệp thành bài viết để đăng tập san, chỉ còn chờ thầy giáo hướng dẫn duyệt xong gật đầu là sẽ gửi đi.

Bước vào phòng, trước hết cô ngó xem chú chuột cảnh Hamster nằm trong lồng đặt dưới gầm bàn. Cốc Y Dương đã mừng món quà này vào dịp sinh nhật Na Lan và còn vật cưng Hamster hết sức thân thiết, còn anh bạn hết sức thân thiết Cốc Y Dương thì đã ở tận chân trời rồi.

Nói là chân trời, thực ra không xa, chỉ là thủ đô Bắc Kinh, nếu ngồi tàu cao ốc thì chỉ ngủ gật một lát là đến nơi. Xa ở đây là cõi lòng xa cách. Đến giờ nhìn thấy chú chuột Hamster cô vẫn thường nhớ đến Cốc Y Dương. Tình đến như bão tố, tình đi rồi tơ lòng vẫn còn vương.

Vừa nghĩ đến Đào Tử thì nhận được điện thoại của cô.

“Tớ đã đọc tin nhắn của cậu, cậu đã tìm được việc làm sạch sẽ, tình hình như sau.” Giọng Đào Tử hơi khàn, chắc là hay đi uống rượu với đám bạn học cấp III. “Tình hình như sau” là cách nói riêng của cô, tức “nói cụ thể đi?”

Na Lan: “Đừng sốt ruột. Hẵng trả lời tớ một câu. Cậu đã nghe giai điệu này chưa, dương cầm…tớ thấy quen quen, mà không nhớ ra”. Cô “là lá la” cái nét nhạc chuông di động củaTần Hoài.

Hình như cho rằng “xú danh” nữ hoàng sắc đẹp vẫn chưa đủ tiếng vang, từ khi học năm thứ ai, Na Lan và Đào Tử còn cùng mê nhạc cổ điển, khiến đám nam sinh trong lớp càng thêm choáng ngợp.

Tất nhiên là ngoại trừ Cốc Y Dương.

Cốc Y Dương đáng ghét, ngươi cứ viêc ngâm mình ở hồ Côn Minh đi, đừng bao giờ gặp lại tôi nữa.

Na Lan “là lá la” một lượt. Đào Tử nói: “Đúng là đã từng nghe nhưng tớ chưa thể nhớ ra…À, chờ đã, nhớ ra rồi, hình như là của Satie[1] …”

[1] Alfred Satie 1866-1925, nhạc sĩ người Pháp.

Na Lan chỉ chờ một gợi ý nho nhỏ, cô lập tức nhớ ra: “Bản người đẹp kỳ quái!”

“Chương một!” Đào Tử nhớ ra.

“Thật đáng ghét!” Na Lan hậm hực.

“Sao thế?”

Na Lan đáp: “Chuyện dài lắm.”

“Chuyện dài thì nói dài. Đang nghỉ hè, tớ rất sẵn thì giờ.”

Na Lan nói: “Đoạn nhạc này là nhạc chuông di động của Tần Hoài.”

“Thế thì sao? À, cậu nói Tần Hoài, là Tần Hoài nào?”

“Tớ không rõ cậu nghe về Tần Hoài chưa, nhưng người này là văn sĩ tương đối hot, hay viết tiểu thuyết tình cảm lại kinh dị. Tớ mới nhận việc làm trợ lý cho gã.”

Đào Tử kêu lên: “Trời ơi, thế là cậu đã đi tàu cao tốc[2] rồi.Chúc mừng! Cậu có biết trợ lý nghĩa là gì không?” Na Lan có thể hình dung Đào Tử đang nằm phải ngồi bật dậy.

[2] Ngụ ý “tốc hành đi đến tình ái”

“Đương nhiên là biết. Đã có không ít nụ cười tủm tỉm, những cái nháy mắt dạy cho tớ hiểu rồi. Thực ra tớ bị oan, tớ chỉ làm chân đầu sai giục bản thảo chủ nhà xuất bản thuê tớ. Quảng cáo họ dán tận ký túc xá, văn phòng khoa, và cả hòm thư điện tử, chỉ chưa gửi đến mạng chat của tớ mà thôi.”

“Nhà xuất bản chọn cậu vào đảng Bàn Tay đen mỹ nhân à? Chắc cậu chưa nghe thiên hạ nói Tần Hoài ra sao?”

“Không cần là dân Histeria[3] cũng biết: dó là nhà văn-sưu tập tem, mọi người mến mộ.”

“Thế vẫn còn dễ nghe. Hắn là ‘Trần Quán Hy[4] trên văn đàn’! Cậu thấy thế nào? Tập hợp các trò mèo của hắn lại cũng đủ để viết một cuốn truyện kinh dị diễm tình. Cậu đoán xem các fan của hắn tự nhận mình là gì trên mạng?”

“Chắc là Cần Phấn, Hoài Phấn?”

“Là Tơ Tình[5]

[3] Bệnh lý của nữ giới= “cuồng tính”

[4] TRần Quán Hy: Diễn viên điện ảnh + ca sĩ; lắm tai tiếng trên tình trường.

[5] Ba từ in nghiêng này, ngữ âm na ná chữ Tần, Hoài; và đều ngụ ý không lành mạnh.

Na Lan chép miệng: “Ngưu tầm ngưu mã tầm mã, kẻ bát nháo thì có các fan bát nháo"

Đào Tử cười nói: “Có vẻ như cậu không dám lấy lòng Tần công tử? Tớ thử đoán nhé: hắn khác xa cái danh văn sĩ, hình thức và nói năng đều là hạng giẻ rách, các ảnh từng đăng báo đều đã qua photoshop mông má, đúng không?”

Na Lan: “Cậu ít khi nhầm, nhưng lần này thì cậu đã nhầm: anh ta trông rất được nói năng bóng bẩy, có thực chất, háu gái là bệnh mãn tính, suốt ngày tớ phải đối phó với ngôn từ quấy rối tình dục của anh ta, cho nên lúc này tớ thấy quá mệt mỏi.”

“Nghe cứ như là cậu đang tiếp tục vào trại giam phỏng vấn tù nhân?”

“Vào trại giam còn có cảnh sát bảo vệ tớ”. Na Lan thở dài. “Anh ta liên tục liếc mắt, tớ thì luôn phải lừ mắt. Thế là anh ta bày trò thay đổi nhạc chuông di động, lúc sáng là Nhạc buồn Chopin, trưa là Người đẹp kỳ quái. Anh ta đang ngầm chế nhạo tớ.”

Đào Tử im lặng hồi lâu.

“Kìa, nghĩ gì thế?”

“Có thể cậu sắp trúng kế.”

“Trúng kế ai. Tần Hoài à? Anh ta là thế rồi, tớ không thể trúng kế nhưng chắc sẽ trúng độc.”

“Cậu nghĩ thêm đi, hắn là thợ săn thứ thiệt đấy! Cậu học khoa học tâm lý chứ gì?” Khi Đào Tử hỏi một câu đương nhiên, thì đó là khúc dạo đầu của một bài thuyết giảng. “Chàng thợ săn họ Tần đang dùng vài chiêu tâm lý học, hắn biết cậu đã mang sẵn ấn tượng, đã nghe đồn đại về tình sử nặng mùi của hắn, cố che đậy cũng vô ích, cho nên hắn liều nói trắng ra cái ngưỡng sàn tồi tệ của mình, để rồi sau đây cả hai quen nhau hơn, hắn sẽ tỏ ra cải tà quy chính, dần nâng mình lên, cậu sẽ dần có cảm tình với hắn sau mỗi lần hắn ‘tiến bộ’. Một người luôn muốn vươn lên thì ai chẳng mến? Rất có thể hắn sẽ nói ‘Vì Na Lan xuất hiện, được tiếp xúc với em nên anh mới tiến bộ thế này’…”

“Tớ xin cậu dừng nói cái chữ tiếp xúc nữa, trời thì nóng, nghe mà phát ốm.” Na Lan cảm thấy Đào Tử phân tích có phần quá “thấu triệt”, không thể đồng tình nhưng cũng không phải là vô lý.

Đào Tử nói tiếp: “Ít hôm nay tớ ngồi nhà nhàn rỗi quá đâm chán, nên hay lướt wed lá cải, cậu có biết cái scandal mới nhất của Tần Hoài không?”

“Tớ đang định gọi điện cho bọn Paparazzi[6]. Cậu đoán xem tớ đã gặp ai?” Chỉ khi ở bên Đào Tử, Na Lan mới có thể trút hết “lớp vỏ” để được thật sự vui vẻ.

Đào Tử kêu lên: “Trời ạ, chắc không phải …lẽ nào lại là Ninh Vũ Hân?”

“Tóc dài, váy ngắn, dáng tuyệt đẹp, trông rất buồn.”

[6] Ý nói đám phóng viên săn tin lá cải.

“Cô ta công bố trên blog rằng mình và Tần Hoài đã yêu nhau ba tháng, kèm theo cả ảnh cả video hẳn hoi, nhưng gần đây Tần Hoài bỗng ruồng rẫy nên cô ta mới phải dùng hạ sách là phơi bày trên blog. Đó là một kiểu dồn ép đối phương…”

“Cảm ơn cậu đã thông báo, tớ rất may mắn, vì không tốn thì giờ đọc blog của cô ta.”

Đào Tử lại im lặng. Na Lan lại phải nhắc thì cô mới nói: “Cậu không cảm thấy vào lúc này cậu biến thành ‘trợ lý’ thì hơi nguy hiểm à?”

“Cậu càng nói càng xa vời…cùng lắm là tớ lại trở về trại giam.” Na Lan nhớ đến đôi mắt sau cặp kính râm ở bến tàu thủy. Có lẽ nào Đào Tử lo lắng không phải là thừa.

Cô vô thức bước đến bên cửa sổ, trước mặt là bầu trời xanh đen của đêm hè. Dưới sân chỉ lác đác vài bóng người, đang kì nghỉ nên còn rất ít sinh viên ở lại trường.

Trong số vài bóng người ấy, cô nhìn thấy cô ta. Tóc dài, váy ngắn, toàn thân toát ra một vẻ khổ đau, đứng ở chỗ ánh sáng đèn đường không hắt đến nhưng cô ta vẫn đeo kính râm, ánh mắt oán hận xuyên thấu màn đêm, hướng lên cửa sổ tầng 7 của Na Lan.

Toàn thân Na Lan đông cứng lại, một bức tượng băng giữa tháng Bảy mùa hè.

“Na Lan, Na Lan, cậu đãng trí hay sao?” Lần này đến lượt Đào Tử đánh thức cô.

Na Lan nhắm mắt, dụi mắt, rồi lại mở mắt ra. Dưới sân tối om làm gì có Ninh Vũ Hân? Chắc ấn tượng quá sâu về óc dài váy ngắn mắt oán hờn, khiến cô có ảo giác?

Những này đau buồn sau cái chết đột ngột của cha, cô đã rất nhiều lần có cảm giác thế này: buổi tối yên tĩnh ngồi trên lớp tự học, đôi khi có thấy cha ngồi bên, rồi ông tan biến vào làn nước mắt ướt nhòe.

“Tớ…không sao, tớ đang nghĩ, chắc Ninh Vũ Hân rất hận các cô gái có quan hệ với Tần Hoài, nhưng tớ đâu có vinh dự đó mà cô ta lại nhằm vào tớ?” Na Lan cũng không rõ mình đang kể khổ với Đào Tử hay đang tự an ủi mình.

Có người đứng trong bóng tối nhìn lên cửa sổ tầng 7. Bóng Na Lan ở ngay cửa sổ, mặc chiếc áo phông bình thường mà sao duyên dáng. Cô ta đang gọi điện. Gọi cho ai? Tần Hoài, hay mẹ cô ta, hay cô bạn thân Đào Tử?

Rồi cô ta biến sắc mặt. Cô ta đã nhìn thấy gì nhỉ?

Nhưng có thể khẳng định rằng cô ta sợ, nhanh chóng quay vào thậm chí đóng luôn cửa sổ.

Chắc chắn cô ta đã sợ hãi, những cánh cửa sổ mở rộng luôn cám dỗ bi kịch xảy ra. Ví dụ, vừa nãy nếu có người đứng sau khẽ đẩy thì cô ta sẽ rớt xuống sân, không kịp giãy giụa.

Chương 4: Nước đục sông Tần Hoài, có thể hại ta

Đúng 8 giờ, theo thói quen, Na Lan thay trang phục rồi xuống lầu. Áo ngắn quần soóc, vai đeo túi nhỏ, đeo tai nghe MP3, cô chạy về phía sân vận động của Đại học Giang Kinh. Cái túi đựng quần áo bơi, kính bơi và quần áo để thay. Ngày nào cũng vậy, cô chạy 2000m quanh sân vận động rồi vào bể bơi. Bể bơi mở cửa sau 8:30 tối dành cho đội viên và huấn luyện viên của đội bơi. Ít người, nên có thể bơi khứ hồi nhiều lượt để đạt được mục tiêu luyện tập.

Cô vừa chạy vừa nghĩ đến phần đầu Lời nguyền áo tơi trong mưa gió chỉ đọc mười phút là xong, hai phần dẫn vỏn vẹn 5000 chữ mà Tần Hoài đã “dồn tâm huyết và tình cảm” viết suốt nửa năm!

Câu chuyện mở đầu cũng hơi hấp dẫn: hễ nhìn thấy người mặc áo tơi ôm cần câu thì tất có người chết thảm. Đạo tặc sông nước Phượng Trung Long đưa con gái thái sư bỏ nhà đi theo gã, cô ta nhìn thấy người mặc áo tơi buông cần câu. Hôm sau Phượng Trung Long lặn xuống nước tìm kho báu, rồi chết. Sang Phần dẫn 2 thì giống như chuyện có thật, liệu Giang Kinh có vụ án lớn như thế không? Hai cô gái nhìn thấy người mặc áo tơi về sau ra sao? Nhân vật không rõ mặt ấy có hành hung họ không? Xác phụ nữ mà hai cha con nhà nọ phát hiện ra, có phải là một trong hai cô gái khiếp hãi đó?

Tại sao suốt nửa năm trời mà Tần Hoài chỉ viết được mươi trang sách? Có phải anh ta đã cạn nguồn cảm hứng nên không thể viết tiếp phần trước đã khéo léo dàn dựng?

Sau một ngày có cả ngàn người vẫy vùng quậy phá, bể bơi lúc này chẳng khác gì một nồi canh hổ lốn. Nhưng Na Lan đã quen rồi, bơi xong chỉ cần xối lại nước cho kỹ là được. Cái hay của người bơi sau cùng là không phải dùng chung vòi hương sen với ai. Lúc này cả khu bể bơi chỉ lèo tèo vài người.

Na Lan vừa xối nước vừa nghĩ đến Lời nguyền áo tơi trong mưa gió, có lẽ khi nào gặp đội trưởng trọng án Ba Du Sinh, cô sẽ nhân thể hỏi xem có vụ án năm xác chết hay không. Cô và Ba Du Sinh quen nhau trong quá trình cô làm luận văn tốt nghiệp. Một thầy giáo ở Đại học Công an – thành viên của Nhóm đề tài – giới thiệu cô gặp Ba Du Sinh, anh ta cung cấp cho cô một số tư liệu về bối cảnh các vụ trọng án, anh ta cũng là cố vấn của Nhóm đề tài của cô.

Na Lan kiên nhẫn xối cho sạch đám bọt dầu gội đầu, xoa đôi mắt đang nhắm tịt, giờ có thể mở mắt được rồi.

Nhưng đúng vào lúc mở mắt ra, và nhìn thấy một bóng người cao cao, tóc dài, váy ngắn ở chỗ góc ngoặc của tường.

Cái bóng ấy biến mất rất nhanh.

Na Lan lấy khăn bông quấn quanh mình thật nhanh, bước vòng qua góc ngoặc, đó là gian thay quần áo, các tủ đựng áo xếp hàng vây lại thành nơi thay quần áo. Không một bóng người.

Lau khô người rồi thay quần áo, cô bước nhanh ra ngoài.Người phụ nữ trông cửa đã ra về, chỉ thấy hai nam nhân viên đang kéo một bao tải phèn chua đi về phía cửa bên của bể bơi. Cô vội chạy đến hỏi hộ có nhìn thấy một cô gái tóc dài mặc váy ngắn không, hai anh đều nhìn Na Lan từ đầu đến chân, nói: “Chẳng phải chính là cô hay sao?”

Giờ Na Lan có thể khẳng định mình không hề rối loạn thị giác và ý thức, Ninh Vũ Hân theo dõi cô thật.

Đúng vào lúc mình xuất hiện thì cô ta bị Tần Hoài cắt đứt cuộc tình, ngờ rằng mình là niềm hoan lạc mới của Tần Hoài nên theo dõi nhằm có được chứng cứ chắc chắn. Nhưng sau đó thì sao?

Cô còn phải ngày ngày đến nhà Tần Hoài ở đảo Hồ Tâm để “đi làm”, Ninh Vũ Hân có cả ngàn lý do đáng buồn cho rằng Na Lan sang đó chẳng qua là để gặp gỡ, dan díu và ăn trưa với anh ta.

Cú phone mà Tần Hoài nhận được khi đang ngồi trong Loa Cư khiến anh ta rất sợ, không thể tiếp tục giả vờ đàng hoàng, chỉ có thể là do Ninh Vũ Hân gọi đến gây rắc rối. Ngày trước đã bao lần được Tần Hoài đưa tới đó ăn hải sản, đương nhiên cô ta biết thừa cái mẹo ấy của anh.Và rất có thể là cô ta không hề lên tàu, mà trở lại đảo để quan sát Tần Hoài và Na Lan nâng cốc, nói nói cười cười trong quán Loa Cư.

Đầu Na Lan như muốn vỡ tung. Tai cô văng vẳng những lời độc địa của Tần Hoài nói vào máy di động: “Nếu cứ tiếp tục đeo bám, sớm muộn gì một trong hai ta sẽ phải đổ máu để trả giá!” Anh ta nói câu ấy với ai? Chỉ có thể là Ninh Vu Hân.

Nếu Phương Văn Đông nói đúng, Tần Hoài và Ninh Vũ Hân không có quan hệ gì, thì hay là Ninh Vũ Hân mắc hội chứng thần kinh “ảo tưởng tình yêu”? Đó là những người chỉ yêu đơn phương rất cực đoan, nghĩ rằng mình yêu say đắm đối phương, muốn chiếm hữu đối phương vô tội kia bằng mọi thủ đoạn: bám theo, gây rắc rối, bạo lực, thậm chí là giết chóc.

Vấn đề là Tần Hoài có “vô tội” không, có sạch sẽ không? Anh ta chẳng khác gì nước bể bơi khi chưa đánh phèn.

Đáng buồn là Na Lan vẫn phải bơi trong đám nước đục ấy.

Ninh Vũ Hân, nếu cô cứ tiếp tục đeo bám thế này thì cô hoặc tôi hoặc mỹ nhân ngư Na Lan bé nhỏ sẽ phải trả giá bằng máu.

Na Lan thấy lạnh buốt, lạnh thấu tim.

Na Lan đi một vòng quanh sân dưới nhà, không hề thấy bóng Ninh Vũ Hân. Hoặc là Ninh Vũ Hân không để cho cô nhìn thấy.

Cô lên gác, lòng đầy băn khoăn, không muốn gọi điện làm phiền Đào Tử, cô gọi điện cho mẹ đang ở quê, nghe bà nói đủ thứ chuyện nhà, chuyện ở địa phương. Cô cảm thấy bà vui, nhẹ nhõm. Kể từ sau khi cha cô bị hại, bà mắc chứng trầm cảm gần đây đã dần bình phục.

Cô đặt điện thoại xuống bàn, mở laptop, định tiếp tục chỉnh lý luận văn.

Nhưng ngón tay như đụng phải bàn là nóng bỏng, cô rụt ngay tay lại.

Laptop của Na Lan luôn đặt mật mã bảo vệ, chỉ cần sau 20 phút không đụng đến, nó sẽ tự động tắt – chờ, phải nhập lại mật mã mới mở được. Nó vẫn ở ngay giao diện đang đọc, nhưng hình như nó biến thành một con vật cưng ngoan ngoãn nhận ra chủ nhân, nó không đòi cô phải nhập mật mã.

Điều ngán nhất là giao diện ấy sau khi “tỉnh lại” thì rối loạn khác hẳn.

Trước khi đi bơi, Na Lan đang đọc bản thảo 5000 chữ của Tần Hoài, rồi bỏ đó để về sẽ đọc lại. Lúc này 5000 chữ dáng thương ấy đã biến khỏi màn hình. Và, cả cái ổ cứng di động cũng biến mất khỏi cổng USB của laptop.

Tức là, khi Na Lan đi bơi thì có người đột nhập căn phòng ký túc xá, gỡ hàng rào bảo vệ sơ đẳng, đánh cắp nửa năm “tâm huyết” của Tần Hoài.

Có lẽ Tần Hoài nên lấy làm mừng vì nửa năm chỉ viết được 5 nghìn chữ chứ không phải 500 nghìn chữ.

Gió đưa vào cửa sổ vẫn mang theo khí nóng mùa hè nhưng Na Lan bất giác so vai co ro, như muốn chống lại cái lạnh đêm đông. Cô bước đến cửa nhìn kỹ ổ khóa. Không hề suy suyển.

Vậy đây là “kiệt tác” của một tay chuyên nghiệp.

Có nên loại trừ khả năng Ninh Vũ Hân đột nhập? Na Lan không thể nhìn nhận một nhà văn nữ xinh đẹp là một cao thủ đạo chích trèo tường phi thân. Nhân vật như thế có thể xuất hiện trong tiểu thuyết của Tần Hoài chứ không thể có trong đời thật. Huống chi Ninh Vu Hân hình như chỉ mải theo dõi cô chứ không rỗi hơi để làm cái chuyện “khéo tay” này.

Nếu không phải cô ta thì có thể là ai? Ai tò mò đối với cái “tiểu phẩm” đáng buồn ấy của Tần Hoài?

Càng nghi hoặc Na Lan càng cảm thấy nỗi sợ hãi đang giơ tay về phía cô.

Cô bỗng thấy căn phòng yên tĩnh khác thường. Mọi ngày khi đọc sách hay nghỉ ngơi cô thường gắng ít gây tiếng động, nhưng sự yên tĩnh lúc này khiến tim cô đập quá nhanh.

“Đáng ghét!” Cô kêu lên vì chợt hiểu ra tại sao yên tĩnh.

Chú chuột Hamster bất động.

Chú chuột cưng vốn không bao giờ chịu ngồi yên, giờ nó nằm im, khiến ta đau xót biết chừng nào.

Nó nằm ngay trên đám xơ vỏ êm ái, bốn chân chổng ngược, ngay những sợi râu của nó cũng bất động. Na Lan ngồi thụp xuống mở cửa lòng, bàn tay run run đụng vào cái chân bé xíu của con chuột Hamster. Không phản ứng gì.

Hai mắt nhòa lệ, lúc này cô mới hiểu câu nói “tình cảm sâu nặng với chuột cưng” không phải nói đùa.

Tại sao kẻ trộm cái ổ cứng lại giết con chuột? Là để cảnh cáo cô? Cô dã bị cuốn vào chuyện rắc rối gì mà bị theo dõi, bị phá phách?

Na Lan cố kìm nước mắt tuôn trào, ngón tay cô ấn nhẹ vào bụng chú chuột.

Cảm ơn trời đất, tim nó vẫn còn đập nhè nhẹ, nó chưa chết. Hung thủ chỉ bắt nó ngủ li bì, chắc y đã dùng thuốc mê. Đúng là y cảnh cáo cô.

Mình đã làm gì sai trái?

Cô đổ nước trong cái lọ nhỏ xúi vào chai rỗng, dốc chút thức ăn còn lại của nó vào túi ni-lon. Đã đến lúc cô phải báo cảnh sát.

À, trước hết phải goi điện cho Tần Hoài đã.

“Na Lan cô đã nghĩ lại à? Bây giờ ăn tối vẫn còn kịp”. Đào Tử sẽ thất vọng về Tần Hoài, vì anh ta không “tiến bộ” chút nào cả.

“Có kẻ đột nhập phòng tôi, lấy mấy ổ cứng di động của anh, đầu độc con chuột Hamster của tôi, anh có thể cho tôi chút manh mối gì không?” Mấy câu này của Na Lan có thể khiến cả thành Giang Kinh choáng váng.

“Chỉ thế thôi à?” Tần Hoài suýt nữa thì phì cười.

“Chắc anh cho rằng vẫn chưa đủ?”

“Đã nghe cái tên Ninh Vũ Hân chưa? Chắc là xa lạ đối với cô, nhưng tôi đã gắn bó với cô ấy.”

“Hiện nay cô ta thường trực ở cửa nhà tôi 24/24, đủ tư cách để làm paparazzi rồi. Ngay tôi đi bơi, cô ta cũng vào tận gian thay đồ để viếng thăm…”

“Chắc cô ấy mê mẩn thân thể cô.” Đúng là cách nói theo tiêu chuẩn của Tần Hoài.

“Tối nay tôi sẽ gặp ông Hải Mãn Thiên để xin nghỉ. Loại công việc này chẳng phải việc giành cho con người làm. Nếu sáng mai tôi không sang nhà anh thì anh đừng ngạc nhiên.”

“Đương nhiên chẳng phải việc để cho người làm, mà là dành cho người đẹp làm.” Tần Hoài cho rằng ngôn từ của mình quá hay, đâu biết rằng đã phản tác dụng, chỉ khiến Na Lan nhớ đến khúc nhạc Người đẹp kỳ quái. “Tôi hiểu cô, cô không phải người đẹp dễ dàng bỏ cuộc.”

“Anh không hiểu tôi. Chẳng qua chỉ mới gặp nhau một lần…” Na Lan rất bực. Tần Hoài tán tỉnh bất kể lúc nào.

“Có những người sống với nhau cả đời nhưng vẫn như xa lạ, có những người chỉ gặp một lần đã gắn bó ba kiếp.”

Na Lan định nói có lẽ anh chuyển sang viết tiểu thuyết tình ái thì không đến nỗi nữa năm trời chỉ viết được năm nghìn chữ “táo bón”, nhưng cô chỉ nói: “Tôi mong anh nói thật cho tôi biết, tôi hoặc anh đã gây ra rắc rối gì? Đây là cái trò kỳ quái gì vậy?”

Tần Hoài im lặng một lát rồi nói: “Tôi chỉ có thể bảo đảm với cô rằng, Ninh Vũ Hân tuy cố chấp nhưng bản chất rất tốt.”

Na Lan nghĩ bụng: dạo trước Ninh Vũ Hân đã hủy diệt “tiếng thơm” của anh ta, lúc này anh ta vẫn bênh vực cô ấy, thảo nào bọn con gái xiêu lòng vì anh ta.

“Tôi không biết kẻ lấy trộm ổ cứng của tôi là ai, nếu biết tôi sẽ báo cảnh sát. Tôi có thể khẳng định họ chỉ là những kẻ tiểu nhân đáng khinh, cô đừng sợ.”

Na Lan thầm cười nhạt, nếu có kẻ lẻn vào phòng ngủ của anh, mở máy tính rồi cuỗm đi các tài liệu, đánh thuốc mê con thú cưng của anh mà không để lại dấu vết gì, dù không biết hắn là ai thì anh vẫn cứ báo cảnh sát.

Na Lan biết Tần Hoài chẳng thể giúp gì cho mình, bèn lạnh nhạt nói good night. Tần Hoài nói: “Cô nuôi chuột làm vật cưng à?”

“Chuột Hamster.”

“Chắc hẳn cô rất cô đơn nên mới nuôi chuột làm bạn.”

“Tai anh có sao không thế? Tôi nói là chuột Hamster. Nuôi vật cưng thú vị ở chỗ nó không luôn miệng nói những chuyện bát nháo.”

“Mai cô không đến chỗ tôi thật à?”

Na Lan đáp: “Anh thử nói lý do tôi nên tiếp tục đi làm được không?”

“Chúng ta sẽ cùng khám phá các bí mật: ai đang bám theo cô, đe dọa cô. Tôi viết tiểu thuyết ly kỳ kinh dị, cô biết rồi, tìm đáp án là nguồn vui vô tận. Một người vui sao bằng nhiều người cùng vui, cô đừng trông mong cảnh sát sẽ miệt mài điều tra một vụ vặt vãnh…”

Na Lan kiên quyết nói xin chào, và kết thúc cuộc gọi.

Cô biết Tần Hoài nói cũng đúng, cô không ngây thơ cho rằng cảnh sát sẽ chú ý cái vụ án nhỏ, rất bình thường này nhưng cô vẫn báo với phòng Bảo vệ của nhà trường. Anh công an trực ban đến độ mười phút, ghi biên bản, không hứa hẹn hay động viên. Cô cũng chẳng thể trách gì họ.

Anh ta ra về, tiếng bước chân nhỏ dần, Na Lan lại tính xem có nên gọi điện cho Ba Bu Sinh ở đội cảnh sát hình sự công an thành phố không. Nhưng lại nghĩ mình hơi thộn, hơi lo sợ quá mức. Ba Du Sinh chuyên làm các vụ trọng án, ở thành phố lớn như Giang Kinh này mỗi ngày xảy ra vài vụ, không nên làm phiền anh ấy vì một chuyện quá nhỏ. Nếu gọi vụ này “trọng án đổ máu” thì chẳng qua chỉ là tình tiết con chuột Hamster bị đánh thuốc mê, có cần phải làm to chuyện không?

Chương 5: Người chết không để lại dấu vết

“Tạ ơn trời, thế là tối nay đã có mưa.” Ông chủ tàu thủy tươi cười bắt chuyện với Na Lan.

Tần Hoài đã đoán trúng nhược điểm lớn nhất của cô: cô sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, cho nên tối qua cô nói sẽ thôi việc chỉ là dọa vậy thôi. Nhưng nếu Tần Hoài vẫn ba que như cũ, vẫn hời hợt với vấn đề của cô, cô vẫn bị sa lầy thì sang đảo lần này sẽ là lần cuối cùng.

Na Lan nhìn bầu trời xanh thắm, mây trắng như bông: “Thời tiết dự báo là không mưa thì phải.”

Ông chủ tàu chỉ tay vào cái đầu trơn bóng của mình: “Lái tàu hơn 20 năm, nghe gió, ngắm mây, ngửi mùi không khí, tôi nói chuẩn hơn cả máy Doppler[1], nếucá cược với Nha Khí tượng xem ai dự báo thời tiết đúng hơn, chắc tôi sẽ thắng to.”

[1] Máy tính (Mỹ) đặc biệt, tổng hợp các hiệu ứng; phạm vi ứng dụng rất rộng.

“Ông mắt tinh, tai thính, tiếp xúc nhiều, nhận xét người rất chuẩn. Hôm qua tôi đã được chứng kiến rồi. Kinh nghiệm của ông thật đáng nể.” Muốn khích ai nói, mình phải tán dương người ấy đã.

Ông chủ tàu cười híp mắt: “Nói ngọt quá! Tôi không dám nói mình nhìn thấu tim gan con người nhưng một ai đó đứng trước mặt, tôi có thể hiểu rõ bảy tám phần.”

“Ông thử đoán về tôi xem?”

Ông ta hạ thấp giọng: “Thế thì không công bằng với cô, vì cô đã cho tôi biết mình là trợ lý của Tần Hoài. Qua cách nói năng, cô phải có trình độ đại học trở lên. Ăn bận lại trang nhã, ít son phấn, không sơn óng tay, ngày hè vẫn đi bít tất lụa, chứng tỏ cô là người rất nghiêm túc chứ không như đàn bướm ong thường sang với Tần Hoài. Cô hay nhíu mày, chứng tỏ luôn có điều băn khoăn, không vì bất chợt, tôi đoán rằng cô thường xuyên như thế…” Na Lan nhớ đến người cha luôn rất thương yêu cô đã qua đời năm năm, đó là nỗi buồn thường trực của cô. “Ngoài tôi ra, cô không bắt chuyện với các hành khách, không hằn là vì tính cách nội tâm nhưng ít nhất chứng tỏ cô là người có chủ kiến, luôn có suy nghĩ và hiểu rằng nói nhiều thì dễ lỡ lời. Cô nói chuyện với tôi không vì quá rỗi rãi mà là vì muốn tìm hiểu về Tần Hoài, anh ta khiến cô khó lường, nên cô muốn hỏi xem tôi biết được đến đâu.”

Na Lan thấy rất nể ông ta.

“Nếu tôi hỏi thẳng…” Cô khẽ nói.

 

Share

Bài viết liên quan

Những khoảnh khắc quanh ta
  • Prev

Giêsu Asia chuyên chủ đề Giáo dục, Công Giáo : Truyện hay, Thơ hay, Tùy bút, Sách quý, Danh bạ Website, Nhạc Thánh ca, Phim đạo, Suy niệm Tin Mừng hàng ngày, ...

Bạn cần liên hệ với Giêsu Asia, hãy gửi email về : giesu.asia@gmail.com

Với mục đích đơn sơ, luôn cố gắng Tôn vinh, Phát huy tính giàu đẹp, trong sáng của ngôn ngữ Tiếng Việt, Văn hoá Việt Nam

Website Giesu.asia được phát triển theo hướng mở của Web 2.0 : Toàn bộ nội dung đăng trên Website và Diễn đàn được mọi người (tự chịu trách nhiệm) đóng góp với mục đích chia sẻ những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống --> Nhằm nhận ra Chân Thiện Mỹ trong mỗi câu chuyện, mỗi bài viết, ... hoặc chỉ nhằm mục đích thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi, ... Không mục đích Chính trị, Không mục đích chia rẽ mối đại đoàn kết Dân tộc, Không đi ngược lại luật Pháp của Việt Nam, Không đi ngược với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, Văn hoá Việt Nam.

Mặc dù nội dung đã được qua khâu kiểm duyệt khá kỹ càng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót, nếu có bất kì ai phát hiện bài viết nào đi ngược lại với những mục đích trong sáng trên ---> Xin vui lòng liên hệ ngay với Ban Quản trị (BQT) để xử lý kịp thời ==> Luôn giữ gìn và phát triển Giesu.asia theo con đường mà Chúa Giêsu muốn và đã dạy, đồng thời luôn giữ gìn sự đơn sơ, trong sáng, giàu đẹp, ... của Tiếng Việt, của Văn hoá Việt Nam.

Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân trên tất cả mọi người tham gia Website này để cùng nhau phát triển Giesu.asia theo hướng Chúa muốn nhằm mang lại những hoa trái tốt đẹp và bình an trong tâm hồn mỗi người ! Thay mặt BQT Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Lưu ý :

Tất cả các Website với tên miền con của Giesu.asia (subDomain) được Giesu.asia phát triển với mục đích Phi lợi nhuận cho các Giáo xứ, Đoàn thể, ... trên toàn lãnh thổ Việt Nam --> Buộc tuân thủ nghiêm ngặt với những mục đích trong sáng đã nêu trên.

Bất cứ ai phát hiện ra Website nào vi phạm, xin vui lòng liên hệ với BQT để xử lý kịp thời ! Xin chân thành cảm ơn.

Template Settings
Select color sample for all parameters
Orange Dark_Green Crimson Green_Yellow Indigo Maroon Medium_Violet_Red tomato
Background Color
Text Color
Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction
Background Color
Scroll to top